Chất lượng hoạt động Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng VIB Thăng Long - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và làm chuyên đề tốt nghiệp, em đã nhận được
hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Duy Hào và sự chỉ bảo nhiệt tình của các anh
chị trong phòng quản lý tín dụng của ngân hàng VPBank – chi nhánh Thăng Long.
Em xin gửi lời cảm ơn PGS. TS Vũ Duy Hào đã chỉnh sửa đề cương và hướng dẫn
chi tiết quy trình làm chuyên đề và cách làm chuyên đề sao cho khoa học nhất. Em
cũng xin cảm ơn các anh chị trong ban quản lý tín dụng đã cung cấp số liệu và chỉ
dẫn những kinh nghiệm thực tế giúp chuyên đề của em hoàn chỉnh hơn. Trong quá
trình làm chuyên đề, do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu có hạn nên còn nhiều
thiếu xót, có những vấn đề chưa đề cập đến hoặc được đề cập đến nhưng vẫn
không đầy đủ. Em kính mong thầy, các anh chị và các bạn đóng góp thêm ý kiến.
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VPBank Ngân hàng thương mại cổ phần thương mại Việt Nam
Thịnh Vượng
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng nhà nước
KH Khách hàng
NH Ngân hàng
SXKD Sản xuất kinh doanh
VNĐ Việt Nam đồng
DN Doanh nghiệp
TSĐB Tài sản đảm bảo
A/O Phòng quan hệ khách hàng
C/A Phòng quản lý tín dụng
HĐTD Hợp đồng tín dụng
TGĐ Tổng giám đốc
GĐ Giám đốc
LỜI MỞ ĐẦU
Từ nhiều năm nay, những nước có nền kinh tế phát triển rất coi trọng sự phát

tại VPBank – chi nhánh Thăng Long
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1Hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
3
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh
tế của hầu hết các nước trên thế giới. Ở mỗi nước khác nhau có nền kinh tế phát
triển khác nhau theo từng thời kỳ phát triển kinh tế nên có tiêu chuẩn khác nhau để
xác định quy mô của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo tiêu chí đánh giá của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp vừa và
nhỏ chia thành 3 loại là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp
vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người,
doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, doanh nghiệp
vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Bảng 1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thế giới
Loại hình doanh
nghiệp
Số người lao động
(người)
Doanh thu hàng
năm (triệu USD)
Tổng tài sản
(triệu USD)
Doanh nghiệp siêu nhỏ 1-9 <0,1 <0,1
Doanh nghiệp nhỏ 10-49 <3 <3
Doanh nghiệp vừa 50-300 <15 <5
(Nguồn: )
Ở nước ta, mỗi giai đoạn kinh tế khác nhau có những quy định khác nhau về
DNVVN. Năm ………., văn bản pháp luật đầu tiên quy định về tiêu chí xác định

vốn
Số lao động Tổng nguồn
vốn
Số lao động
I.Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
II.Công
nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người

ta, DNVVN có những đặc điểm cụ thể như sau:
* DNVVN có vốn đầu tư ban đầu không lớn
DNVV ra đời với những xuất phát điểm thấp kể cả vốn và lao động. Hầu hết
các DNVVN thành lập ban đầu với số vốn đầu tư không lớn nên chu kỳ sản xuất
5
kinh doanh thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho
doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Với số lượng vốn ít, DNVVN sẽ khó mở các
lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên dẫn đến trình độ lao
động thấp và không thu hút được lao động tay nghề cao như các doanh nghiệp lớn.
Tuy nhiên, do quy mô vừa và nhỏ nên công tác điều hành thường mang tính trực
tiếp, các quy định được thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra, giám sát được
tiến hành chặt chẽ, không phải qua nhiều khâu trung gian vì vậy rất gọn nhẹ và tiết
kiệm nhiều chi phí quản lý. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa người lao động của
người sử dụng lao động khá chặt chẽ, gắn bó, tạo môi trường làm việc tốt, người
quản lý luôn bám sát công việc của người lao động nên nếu có mâu thuẫn xảy ra
cũng dễ dàng giải quyết để cân bằng giữa lợi ích của người lao động với lợi ích
của người sử dụng lao động.
* DNVVN phát triển đa dạng trên nhiều lĩnh vực
DNVVN tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế,
hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công
nghiệp, xây dựng, nông lâm nghiệp… và hoạt động dưới mọi hình thức như:
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá
thể…, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề, phát triển rộng khắp ở cả thành
thị lẫn nông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* DNVVN hoạt động năng động linh hoạt trên thị trường
DNVVN có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, các
DNVVN có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng
nhanh. Mặt khác, do DNVVN tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các
DNVVN đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không thích

bối cảnh nền kinh tế mới hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát đang
xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, các nước đều chú trọng đến hỗ trợ các
DNVVN nhằm huy động tối đa nguồn lực trong nền kinh tế để đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế và góp phần ổn định nền kinh tế. Đối với Việt Nam, nền kinh tế còn
đang phát triển, nguồn vốn và thiết bị công nghệ còn lạc hậu, DNVVN càng đóng
vai trò quan trọng. Ở mỗi nước khác nhau, DNVVN có những vai trò khác nhau
đối với nền kinh tế, ở Việt Nam DNVVN có một số vai trò sau:
* Tạo ra số lượng việc làm cho người lao động
Nhiều DNVVN ở nước ta yều cầu trình độ lao động thấp (tốt nghiệp phổ
thông trung học) nên thu hút một lượng lớn lao động trên thị trường với chi phí
thấp. Một bộ phận lớn người lao động ở nước ta còn ở trình độ phổ thông, nên rất
7
khó tham gia vào những doanh nghiệp lớn với những công nghệ và thiết bị tiên
tiến, hiện đại nên DNVVN đã tạo ra một khối lượng việc làm lớn cho bộ phận này.
Khi nền kinh tế khủng hoảng, các doanh nghiệp lớn buộc phải cắt giảm lao
động để giảm chi phí sản xuất đến mức thấp nhất để có thể tồn tại và cạnh tranh
trên thị trường. Nhưng đối với DNVVN do đặc tính nhỏ gọn, linh hoạt nên dễ
dàng thích nghi với thay đổi của thị trường nên vẫn có thể hoạt động được. Các
doanh nghiệp này không những giảm lao động mà vẫn thu hút được thêm lao
động. Điều này góp phần tạo nguồn thu ổn định cho người lao động, làm giảm bớt
chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư và sự phát triển đồng đều giữa các
vùng miền trong cả nước. DNVVN còn được đánh giá là liều thuốc “giảm sóc”
cho nền kinh tế khi có những biến động bất ngờ xảy ra như suy giảm kinh tế,
khủng hoảng kinh tế.
*Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế
Sự tham gia ngày càng đông đảo vào quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm tăng rất nhanh
và đa dạng, tạo ra nguồn sản phẩm dồi dào cho xã hội. Điều đó đã làm tăng tính
cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp phải thường
xuyên đổi mới sản phẩm, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm để thích

càng nhiều với những gương mặt quản lý rất trẻ và năng động.
Tóm lại, các DNVVN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên do quy mô nhỏ, tốc độ phát triển kinh tế của thị trường và sự cạnh tranh
trong nền kinh tế thúc đẩy các DNVVN phải có thêm vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị,… Ngân hàng là tổ chức
tín dụng được các DNVVN tìm đến vay vốn nhiều nhất bởi lãi suất linh hoạt được
áp dụng ở hầu hết các ngân hàng. Các ngân hàng cũng ngày càng chú trọng hơn
với hoạt động cho vay loại hình doanh nghiệp này. Ở mỗi ngân hàng khác nhau có
các hình thức cho vay DNVVN khác nhau.
1.1.3 Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương
mại
Cho vay là hoạt động theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận.
Cho vay là hoạt động vô cùng quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất của
NHTM. Cho vay khách hàng doanh nghiệp chiếm 70% hoạt động cho vay của hầu
hết các ngân hàng ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, các DNVVN chiếm đa số
trong tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế, nhu cầu vốn cho bộ phận doanh
nghiệp này là không hề nhỏ. Chính vì thế cho vay DNVVN đang được nhiều
NHTM quan tâm. Mỗi ngân hàng khác nhau có các hình thức cho vay khách hàng
9
doanh nghiệp khác nhau. Sau đây là cách phân loại cho vay chung nhất của các
ngân hàng đối với DNVVN.
Căn cứ theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động cho các doanh nghiệp.
Cho vay trung hạn là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.
Cho vay trung hạn chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và khả năng thu
hồi vốn nhanh, hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp đặc
biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.

hàng đối với các doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên, không có
điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số doanh nghiệp sử dụng vốn chủ sở
hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng
sản xuất đặc biệt mới đi vay ngân hàng, vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một
giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, doanh nghiệp phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích doanh nghiệp và ký hợp đồng cho vay, xác
định mức cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo
nếu cấn. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ)
khác nhau.
Nhu cầu vay NH = Chi phí cần thiết cho SXKD – Vốn tự có – Vốn khác
Trong đó:
Chi phí cần thiết
cho SXKD
=
Giá trị
hợp đồng
-
Khấu hao
cơ bản
- Thuế -
Lợi nhuận định
mức cho SXKD
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Mức cho vay =
Giá trị tài
sản đảm bảo
x
Tỷ lệ cho vay trên giá trị
tài sản đảm bảo

khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong 1 năm hoặc vài
năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét lại
mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp cũng như tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa nên cả ngân hàng và doanh
nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch luân chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân
quỹ trong thời gian tới.
Khi vay doanh nghiệp chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập
hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình
thức này, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng)
đều là đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi
trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng
12
và chất lượng và tình trạng nợ của người vay. Cho vay luân chuyển thường được
áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có
chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho doanh nghiệp. Thủ tục cho vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Doanh nghiệp được áp dụng nhu cầu vốn
kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn.
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó
khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ
ràng.
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép doanh
nghiệp trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thỏa thuận. Cho vay
trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho
tài sản cố định và tài sản lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù
hợp với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của doanh
nghiệp, hoặc từ thu nhập sau thuế của người tiêu dùng).
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn

qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay.
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng.
Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế
của mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác
cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc
với giá đắt cho người vay vốn.
Căn cứ vào tính chất đảm bảo của khoản vay
* Cho vay có tài sản đảm bảo
Là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như cầm cố, thế chấp
hoặc có đảm bảo bằng tài sản của bên thứ ba.
Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng có tài sản đảm bảo
khi nhận tín dụng. Lý do là khách hàng phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh,
có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. Những biến cố không mong đợi có thể
mang lại cho ngân hàng những tổn thất lớn. Chính vì vây, trừ những khách hàng
có uy tín cao, nhiều ngân hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng mà ngân
hàng yêu cầu, ngân hàng muốn có nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là
nguồn thu từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ. Hiện nay, hầu hết các
khoản vay đều phải có tài sản đảm bảo.
* Cho vay không có tài sản đảm bảo
14
Cho vay không có tài sản đảm bảo là việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng đi vay không cần tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh bằng
tài sản của bên thứ ba.
Cho vay không có tài sản đảm bảo thông thường dành cho những khách hàng
có uy tín cao, khách hàng truyền thống, khách hàng có tình hình tài chính lành
mạnh, kinh doanh thường xuyên có lãi,… Tuy nhiên, đây là hình thức mang nhiều
rủi ro cho ngân hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi cho vay.
1.2 Chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân
hàng thương mại

một cách đúng mục đích, hiệu quả để tạo ra được một số tiền lớn hơn, đủ để trang
trải chi phí và có lợi nhuận làm cơ sở cho việc hoàn trả khoản vay ngân hàng và
doanh nghiệp giữ lại được lợi nhuận cho mình.
Chất lượng cho vay xét trên giác độ nền kinh tế. Chất lượng cho vay tốt là
phải phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hóa cho nền kinh tế, góp phần
giải quyết công ăn việc làm, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã
hội, khai thác mọi tiềm năng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng
tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Tóm lại, chất lượng cho vay là một khái niệm vừa cụ thể, vừa trừu tượng. Để
có chất lượng cho vay cao thì hoạt động cho vay của ngân hàng phải có hiệu quả
và quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp phải được thiết lập trên cơ sở
tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau tạo hiệu quả tốt cho cả hai bền và góp phần chung
vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để hiểu rõ hơn về chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và nâng cao
chất lượng cho vay thì cần tìm hiểu các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất
lượng cho vay của ngân hàng.
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
Các chỉ tiêu định tính
* Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quá trình tín dụng
Hoạt động cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật của
Nhà nước: Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của NHNN
và các văn bản khác có liên quan.
16
Khi tiến hành hoạt động cho vay phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy trình
cho vay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá được chất
lượng cho vay. Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất
định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ

không hợp lý có thể dẫn đến khả năng thanh toán của khách hàng không đảm bảo
và có thể mất khả năng thanh toán. Điều này còn phụ thuộc vào tiềm lực của ngân
hàng và điều kiện của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
* Dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong kì
Dư nợ cho vay DNVVN là số tiền mà ngân hàng hiện đang cho DNVVN vay
tính đến một thời điểm. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và sự tăng trưởng hoạt động
cho vay của ngân hàng đối với DNVVN. Tổng dư nợ cho vay cao và tăng trưởng
qua từng thời kỳ cho thấy ngân hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng. Tuy
nhiên tăng trưởng cho vay phải phù hợp với khả năng về vốn, quản lý kiểm soát
rủi ro cũng như các nguồn lực về con người và công nghệc của ngân hàng. Việc
tăng trưởng dư nợ cho vay vượt quá khả năng nguồn lực của ngân hàng sẽ tiềm ẩn
nhiều rủi ro về thanh khoản và ngân hàng không đủ điều kiện nguồn lực để kiểm
soát chặt chẽ các khoản vay điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay
của ngân hàng.
* Tỷ lệ thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ lệ thu nợ (%) =
Doanh số thu nợ
x 100%
Doanh số cho vay
Trong đó, doanh số thu nợ DNVVN trong kỳ là tổng các khoản thu nợ
DNVVN phát sinh trong kỳ. Doanh số này phản ánh hai tình trạng trái ngược
nhau. Một là do tình hình kinh doanh ổn định và thu được lợi nhuận mà doanh
nghiệp trả nợ ngân hàng đúng hạn. Hai là ngân hàng nhận thấy những dấu hiệu
không lành mạnh trong việc kinh doanh của khách hàng mà tăng cường việc thu
hồi vốn. Cả hai trường hợp đều có lợi cho ngân hàng và hạn chế rủi ro cho ngân
hàng.
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng. Nó
phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng
sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.
* Tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tổng nợ xấu
X 100
Tổng dư nợ cho vay
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể
đòi,…) là khoản mang các đặc trưng sau:
+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam
kết này đã hết hạn.
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến
có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
+ Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát
mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
+ Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày.
Các khoản nợ xấu bao gồm: nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả
năng mất vốn.
19
Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các
Ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân
hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng.
* Vòng quay vốn vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Vòng quay vốn

vay DNVVN
=
Doanh số thu nợ DNVVN x 100%
Dư nợ cho vay DNVVN
Vòng quay vốn tín dụng phản ánh thời gian chu chuyển vốn tín dụng trong
hoạt động cho vay của ngân hàng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ
nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh. Với một số vốn nhất định, nhưng vòng quay vốn tín dụng nhanh
nên ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Chỉ tiêu này càng

động cho vay của ngân hàng có hiệu quả đồng nghĩa với việc ngân hàng có khả
năng thu nợ đầy đủ, đúng hạn và thu được lợi nhuận từ mỗi khoản vay của khách
hàng. Ngoài ra, chất lượng cho vay tốt cũng phản ánh trình độ tổ chức quản lý các
hoạt động kinh doanh của ngân hàng và trình độ của cán bộ tín dụng. Nhờ đó,
ngân hàng không những thu được lợi nhuận cao mà còn xây dựng được hình ảnh
và uy tín với khách hàng, giữ được khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều
khách hàng mới. Ngân hàng có nhiều điều kiện mở rộng khả năng cung cấp tín
dụng cũng như các dịch vụ ngân hàng khác đồng thời tăng cường khả năng cạnh
tranh của ngân hàng trên thị trường. Bên cạnh đó, do trình độ công nghệ hiện đại,
các ngân hàng không chỉ cạnh tranh qua chính sách lãi suất mà còn cạnh tranh qua
chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất,
hiệu quả nhất. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết và là xu thế
tất yếu của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay của ngân hàng thương mại là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các
DNVVN hiện nay. Trong quá trình mở rộng, sản xuất kinh doanh, các nhu cầu về
vốn thường xuyên phát sinh và để đáp ứng phần lớn các nhu cầu vốn lưu động
phục vụ sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động thì doanh nghiệp
phải sử dụng nguồn vốn đi vay bởi vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thường
thấp.
Vốn vay từ ngân hàng giúp các DNVVN nâng cao năng lực cạnh tranh trên
thị trường. Vốn vay ngân hàng còn giúp doanh nghiệp hình thành cơ cấu vốn tối
ưu. Cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp cần đạt hiệu quả cao trong kinh doanh bao
gồm hai nguồn cơ bản: vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Thông thường các doanh
nghiệp thích sử dụng vốn vay ít tốn chi phí mà còn được hưởng phần tiết kiệm nhờ
thuế và không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp. Còn việc
sử dụng vốn chủ sở hữu để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
không những hạn chế khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà
còn làm tăng chi phí vốn, do đó việc sử dụng vốn chủ sở hữu ít được ưu tiên. Qua
đó cho thấy, việc cho vay của ngân hàng thương mại mang lại nhiều lợi ích cho

lẫn con người. Mô hình tổ chức phù hợp sẽ tạo môi trường làm việc chuyên
nghiệp, có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban rút ngắn được các thủ tục
rườm rà. Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức không hợp lý sẽ làm tiêu hao nhiều chi phí
và có thể gây tổn thất không đáng có cho ngân hàng như những khoản nợ khó đòi,
22
đầu tư không đúng đối tượng, đầu tư kém hiệu quả. Hoạt động cho vay của ngân
hàng là một trong những hoat động chính đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy,
cơ cấu tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này.
Bên cạnh cơ cấu tổ chức tốt thì khâu quản lý của ngân hàng cũng cần đặc
biệt chú ý. Bởi lẽ mỗi cán bộ nhân viên ngân hàng, mỗi người có một thế mạnh
riêng, điều quan trọng là phải biết sắp xếp công việc sao cho phát huy hết thế
mạnh và hạn chế của từng người. Đồng thời có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng
cao tinh thần trách nhiệm, tạo sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của từng thành
viên trong bộ máy thống nhất cùng với mục tiêu chung là nâng cao chất lượng cho
vay nói riêng và mọi hoạt động của ngân hàng nói chung.
*Chính sách cho vay của ngân hàng
Trong hoạt động cho vay của ngân hàng, chính sách cho vay là một nhân tố
rất quan trọng ảnh tác động tới hoạt động này. Chính sách cho vay bao gồm quy
trình cho vay, hạn mức cho vay, các hình thức cho vay, lãi suất, kỳ hạn, phí suất,
tài sản đảm bảo của khách hàng, quy định về điều kiện vay vốn của khách hàng,…
Chính sách cho vay có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng và là
tiêu chuẩn để ngân hàng đáp ứng các khoản vay của khách hàng sao cho phù hợp
với mục tiêu trong hoạt động cho vay của ngân hàng đồng thời mang lại sự hài
lòng cho khách hàng.
Chính sách cho vay là cơ sở quan trọng để đảm bảo hoạt động cho vay đi
đúng quỹ đạo, quyết định sự thành công hay thất bại cùa ngân hàng trong hoạt
động cho vay. Nếu chính sách cho vay được xây dựng và thực hiện chặt chẽ, kết
hợp hài hòa giữa lợi ích của ngân hàng, của doanh nghiệp và của xã hội sẽ nâng
cao chất lượng cho vay, thu hút thêm khách hàng và tạo dựng uy tín của ngân
hàng. Ngược lại, nếu chính sách cho vay không hợp lý thì chất lượng tín dụng nói

*Công tác kiểm tra, kiểm soát và khả năng phân tích của ngân hàng
Yêu cầu đầu tiên trước khi thực hiện một món vay là công tác thẩm định dự
án và thẩm định khách hàng. Điều đó có nghĩa là kiểm tra năng lực sản xuất và
khả năng trả nợ của khách hàng. Để hạn chế rủi ro thanh toán, ngân hàng cần tiến
hành công tác thẩm định chặt chẽ, lựa chọn khách hàng tin cậy, có được những dự
án khả thi, thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong suốt thời gian cho vay, cán bộ ngân hàng phải tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát và kiểm tra doanh nghiệp thực hiện vốn vay có đúng hợp đồng
không. Bởi lẽ, trong quá trình sản xuất, thực hiện hợp đồng luôn chứa đựng rủi ro,
gian lận. Việc phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện của doanh nghiệp
giúp ngân hàng có được biện pháp xử lý thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế
tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải.
24
Để có thể thực hiện tốt công tác này, ngân hàng cần đào tạo một đội ngũ cán
bộ chuyên môn giỏi có nghiệp vụ, đạo đức tốt, có chế độ thưởng phạt rõ ràng. Như
vậy, công tác cho vay mới được thực hiện đúng quy trình và chất lượng cho vay
ngày càng cao.
*Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng
Đây là nhân tố không thể thiếu đối với bất kì một tổ chức kinh doanh nào.
Ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp kinh doanh khác phải có cơ sở vật chất,
trang thiết bị và công nghệ phục vụ cho quá trình kinh doanh. Cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại sẽ để lại hình ảnh đẹp về ngân hàng trong lòng khách hàng, củng cố
niềm tin của khách hàng với ngân hàng, đồng thời các giao dịch diễn ra thuận tiện,
nhanh chóng. Các trang thiết bị công nghệ hiện đại này còn giúp ngân hàng có một
hệ thống thông tin tín dụng hiện đại, chính xác, công tác lập kế hoạch và xây dựng
chính sách tín dụng có hiệu quả hơn.
*Chất lượng thông tin của ngân hàng
Trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế, ai nắm bắt được càng
nhiều thông tin chính xác và kịp thời thì càng có nhiều lợi thế trong cạnh tranh.
Hoạt động cho vay của ngân hàng, mục tiêu là lợi nhuận lớn, mà lợi nhuận có lớn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status