Chuyờn thc tp
MC LC
3.2.Mục tiêu phấn đấu của Chi nhánh đến năm 2005 54
Thực hiên đúng và linh hoạt quy trình tín dụng đặc biệt là công
tác thẩm định và quản lý món vay 59
Tăng cờng công tác quản lý và xử lý nợ quá hạn 61
SV: Phựng Th Xuõn Lp: Ngõn hng K39
Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, để phát triển kinh tế và tạo dựng cho mình một vị thế trên trường
quốc tế thì Việt Nam phải nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế.Việc hội nhập kinh
tế quốc tế sẽ đem đến cho VN những cơ hội phát triển nhanh và bền vững đất
nước.Tuy nhiên,hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem lại cho các doanh nghiệp những
thách thức lớn.Các DN đứng trước một sự cạnh tranh rất gay gắt không chỉ đối với
các DN trong nước và mà còn nhiều DN nước ngoài có vốn lớn,trang bị hiện đại.Khó
khăn lớn nhất của các DN hiện nay là vốn đầu tư thấp,kinh doanh còn yếu kém…
điều này làm cho các DN thấy lúng túng,lo sợ trước tiến trình hội nhập đang tiến gần.
Không chỉ các DN mà ngay cả các Ngân Hàng (NH) cánh tay của nền kinh tế
cũng phải hòa vào môi trường này.Vừa phải cùng các DN tháo gỡ những khó
khăn,vừa phải cạnh tranh vơi các NH Nước Ngoài có vốn lớn và có quá trình hoạt
động lâu dài trong lĩnh vực NH.Do đó các NH Thương Mại cần phải đa dạng hóa
các sản phẩm cung ứng nhu cầu ngày càng cao của DN,đồng thời phải hoàn thiện
các sản phẩm để hạn chế rủi ro cho NH.
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất của các ngân hàng thương mại.Vì
hầu hết nguồn vốn của ngân hàng đều tập trung cho nghiệp vụ này,đó cũng là
nghiệp vụ mà qua đó ngân hàng thể hiện vai trò cung ứng vốn cho phat triển kinh tế
và phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.Hơn nữa, trong
điều kiện hiện nay,khi các ngân hàng ngày càng bình đẳng hơn trong kinh
doanh,cạnh tranh hoàn hảo và công bằng,thì vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả
sử dụng vốn nói chung,của nghiệp vụ tín dụng nói riêng là việc làm không thể thiếu
được đảm bảo cho sự sống còn và phát triển của ngân hàng thương mại.
Người làm nghề đổi tiền thường là những người giàu có, họ thường có két tốt
để cất giữ đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà
buôn…nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Thực
hiện cất trữ hộ làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền, tăng qui mô
tài sản của người kinh doanh tiền tệ.Việc cất trữ hộ nhiều người khác là điều kiện để
thực hiện thanh toán hộ và thanh toán không dùng tiền mặt. Với những ưu điểm của
mình, thanh toán không dùng tiền mặt đã thu hút được các thương gia gửi tiền nhiều
hơn. Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại, các chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi
tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho vay nặng lãi.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dùng vốn tự có để cho vay,
nhưng điều đó đã nhanh chóng được thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn, các chủ ngân
hàng nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất
cả người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo ra số dư thường xuyên ở
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
2
Chuyên đề thực tập
ngân hàng . Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể sử dụng tạm thời
một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động cho vay tạo nên lợi nhuận
lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng đều phải tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi
của khách hàng để cho vay. Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà
buôn tiền thành ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của khách, tạo nên
lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay
bằng cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà
ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay
và hạ lãi suất cho vay.
Như vậy, nếu xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp, ta có thể hiểu: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng (đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán),
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiền của ngân hàng thương mại. Để gia
tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng
ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác
nhau như: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm…mỗi một hình
thức huy động đều có ưu điểm và nhược điểm riêng nhưng đều mang lại cho ngân
hàng một sự gia tăng nguồn vốn lớn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để gia tăng
nguồn vốn, các ngân hàng thực hiện đi vay các tổ chức tín dụng khác.
Ba là hoạt động đi vay của ngân hàng thương mại. Ngân hàng có thể vay từ
Ngân hàng Nhà nước, đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi
trả của ngân hàng thương mại. Song, nguồn này thường hạn chế vì Ngân hàng Nhà
nước điều hành khoản vay mượn này rất chặt chẽ. Một nguồn khác ngân hàng có thể
vay là nguồn từ các tổ chức tín dụng khác, đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn
nhau và vay các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu sự trữ và chi trả cấp bách
và trong nhiều trường hợp nó bổ sung, thay thế cho nguồn vay mượn từ Ngân hàng
Nhà nước. Cũng giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng có thể vay
mượn trên thị trường vốn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu…).
Tuy nhiên, do thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển do vậy mà nguồn tiền có
được từ nghiệp vụ này còn rất ít ỏi
Bên cạnh các nguồn trên, ngân hàng có thể bổ sung thêm vào nguồn vốn
thông qua nguồn uỷ thác, nguồn thanh toán…
* Hoạt động sử dụng vốn
Vì để có được nguồn vốn tạo ra nên các tài sản cả ngân hàng, ngân hàng đã
phải bỏ ra chi phí huy động và những chi phí khác để quản lý nguồn vốn. Do vậy để
khỏi bị thiệt hại và thu được lợi nhuận, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu
tư ngay số tài sản ấy vào những hoạt động sinh lãi.
Thứ nhất là hoạt động tín dụng: Trước hết chúng ta cần làm hiểu tín dụng là
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
4
Chuyên đề thực tập
quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên khi gắn với chủ thể nhất
1.1.2.2 Hoạt động cho vay và đầu tư
* Khái niệm
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
5
Chuyên đề thực tập
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi( Điều 3 Quy chế cho vay của các tổ chức tín
dụng đối với khách hàng).
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước CHXHCN Việt Nam, hoạt động tín
dụng bao gồm các nghiệp vụ“ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác” . Đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam thì cho
vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng. Cho vay không chỉ là khoản sử
dụng vốn lớn nhất của ngân hàng, mà còn là nguồn tạo ra thu nhập lớn nhất cho
trong tất cả các tài sản có sinh lợi tuy nhiên cho vay có thể dẫn đến những rủi ro lớn
nhất mà các ngân hàng nói chung phải chấp nhận .
Cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với từng chủ thể kinh tế cũng như đối với nền
kinh tế đất nước và nó có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng xã hội
của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế. Cho vay là lý do tồn tại cơ bản đối với
ngân hàng thương mại, là nhu cầu thiết yếu của tất cả các chủ thể và thành phần khác
nhau trong nền kinh tế.
1.2 Chất lượng cho vay của Ngân hàng
Khái niệm chất lượng cho vay tại ngân hàng thương mại
Chất lượng cho vay tại ngân hàng thương mại là chất lượng của các khoản cho vay
của ngân hàng thương mại. Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn vay được
khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tìên lớn hơn, thông qua đó
ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ, bù đắp chi
phí và thu được lợi nhuận. Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh
tế lại vừa tạo ra được hiệu quả xã hội. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay tại
Ngân hàng Thương mại.
cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định,
nghĩa là trong khoảng thời gian đó, khi khách hàng có nhu cầu về vốn có thể đến
vay ngân hàng cho đến khi hết hạn mức đã thoả thuận. Hạn mức tín dụng thích hợp
với khách hàng có nhu cầu vốn phát sinh liên tục theo chu trình sản xuất của mình.
Việc cho vay theo hạn mức sẽ giảm thiểu chi phí và thời gian vay vốn, đồng thời
đảm bảo tránh lãng phí vốn (vay một khoản lớn một lần). Cho vay theo HMTD là
một trong hai phương thức cho vay ngắn hạn phổ biến đối với các doanh nghiệp
hiện nay. Việc xét cấp HMTD không có một khuôn mẫu chung thống nhất giữa các
ngân hàng, hay nói cách khác là luôn có sự khác nhau giữa các ngân hàng, tuỳ theo
đối tượng khách hàng, phương án, lĩnh vực, xu hướng ngành nghề khác nhau.
Cho vay luân chuyển: Là hình thức ngân hàng cho vay dựa trên sự luân
chuyển của hàng hoá. Khi nhập hàng hoá vào để đảm bảo sự liên tục của quá trình
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp trường hợp thiếu vốn để thanh toán
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
7
Chuyên đề thực tập
cho lượng hàng hóa nhập vào, cho vay luân chuyển như một cách ứng trước cho
doanh nghiệp, khi doanh nghiệp bán được hàng hoá hay thành phẩm sẽ trả nợ cho
ngân hàng. Cho vay luân chuyển được ngân hàng áp dụng đối với các doanh nghiệp
có chu kỳ tiêu thụ đều đặn, ngắn ngày, có quan hệ vay mượn thường xuyên và có
tín nhiệm với ngân hàng.
Cho vay trực tiếp từng lần: Đây là một hình thức cho vay tương đối phổ
biến trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Loại cho vay này thường áp dụng
đối với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không có đủ điều
kiện để cấp hạn mức thấu chi hoặc do nhu cầu vay lớn. Thông thường những khách
hàng này hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu, vốn vay từ ngân hàng
sẽ chỉ tham gia vào một trong các khâu của quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, khi
doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất cũng sẽ được ngân hàng cung cấp loại
hình cho vay từng lần.
Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các trung gian. Loại
Phân loại theo tài sản đảm bảo: Nếu theo tiêu chí phân chia này thì cho
vay sẽ bao gồm hai loại
Cho vay có tài sản đảm bảo: Với loại hình tín dụng này, khách hàng khi
vay vốn phải thế chấp hoặc cầm cố tài sản. Ngân hàng sẽ xác định giá trị tài sản,
đánh giá tính thanh khoản của tài sản đó và yêu cầu khách hàng ký các cam kết cần
thiết như hợp đồng thế chấp, cầm cố. Ngân hàng sẽ dựa vào phương án sản xuất
kinh doanh của khách hàng và giá trị của tài sản để quyết định số tiền cho vay.
Trong trường hợp khách hàng đến hạn không trả được nợ, ngân hàng sẽ có thể bán
tài sản đảm bảo đó đi để thu hồi nợ.
Cho vay không có tài sản đảm bảo (Tín chấp): Ngân hàng cho vay không
dựa trên bất kỳ tài sản đảm bảo nào mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng lớn, có
uy tín trên thị trường, có khả năng tài chính mạnh mẽ và có quan hệ lâu dài với
ngân hàng. Đối với những ngân hàng thương mại nhà nước thì loại tín dụng này còn
cấp cho những khách hàng theo chỉ định của Chính phủ không cần có tài sản thế
chấp.
Phân loại theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay kà khoảng thời gian từ khi bắt đầu phát khoản cho vay đầu
tiên đến khi ngân hàng tu được cả gốc và lãi. Tuỳ theo thời hạn cho vay ngắn hay
dài, có thể chia tín dụng thành 3 loại:
Cho vay ngắn hạn Là các khoản vay có thời hạn cho vay dưới 12 tháng.
Tín dụng ngắn hạn tài trợ cho:
o Nhà nước: Ngân hàng thương mại sẽ tài trợ cho những thiếu hụt tạm thời
của ngân sách Nhà nước bằng việc mua tín phiếu kho bạc.
o Các tổ chức tài chính khác: Ngân hàng cho các tổ chức tài chính khác vay
ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
o Các doanh nghiệp: Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay nhằm tài trợ
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
9
Chuyên đề thực tập
chonhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, cho vay xuất nhập khẩu và nhu cầu
1.2.2.1 Khái niệm
Cho vay theo hạn mức tín dụng là một trong hai phương thức cho vay ngắn
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
10
Chuyên đề thực tập
hạn áp dụng phổ biến hiện nay tại các ngân hàng thương mại. Điểm cơ bản của
loại cho vay này là một hồ sơ xin vay dùng để xin vay cho nhiều món vay.
Hạn mức tín dụng được định nghĩa là mức dư nợ vay tối đa được duy trì
trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng. Khác với loại vay thông thường, ngân hàng không xác định kỳ hạn
nợ cho từng món vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng, có nghĩa là vào một
thời điểm nào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên đến mức tối đa cho phép, thì
khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng.
Đối với loại vay này, một hợp đồng tín dụng được sử dụng cho cả quý. Đến
cuối quý, hợp đồng tín dụng sẽ được thanh lý và sang đầu quý sau, khách hàng
muốn vay phải nộp bộ hồ sơ xin vay mới.
Phạm vi áp dụng : áp dụng cho khách hàng có nhu cầu vay vốn thường
xuyên và được ngân hàng tín nhiệm. Thường khi cho vay loại này, ngân hàng không
yêu cầu đảm bảo tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng có những ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, lãi
vay trả cho ngân hàng thấp.
Nhược điểm : Ngân hàng dễ bị ứ đọng vốn kinh doanh, thu nhập lãi cho vay
thấp.
* Cách xác định hạn mức tín dụng:
Cho vay ngắn hạn thực chất là loại cho vay bổ sung nguồn vốn đầu tư vào tài
sản lưu động. Do vậy, xác định hạn mức vốn lưu động phải căn cứ vào nhu cầu vốn
lưu động của doanh nghiệp và trên cơ sở khai thác hết các nguồn vốn phi ngân hàng
khác. Có như vậy mới xác định đúng và hợp lý nhu cầu vốn vay, tránh tình trạng
cho vay quá mức cần thiết làm tổn hại đến khả năng thu hồi nợ. Mặc khác, không vì
12
Chuyên đề thực tập
Để minh hoạ cho việc thu thập thông tin từ kế hoạch tài chính do khách hàng
lập và áp dụng công thức trên để xác định hạn mức tín dụng, chúng ta xem xét ví dụ
sau đây khi một nhân viên tín dụng của Ngân hàng TMCP X nhận được kế hoạch
tài chính của khách hàng .
Kế hoạch tài chính của khách hàng ( triệu đồng )
Dựa vào kế hoạch tài chính trên đây, có ba cách xác định hạn mức tín dụng.
Cách 1 : Vốn chủ sở hữu tham gia theo tỷ lệ phần trăm tối thiểu (giả sử
trong trường hợp này là 30% ) tính trên chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ
ngắn hạn phi ngân hàng.
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
Tài sản Số tiền Nợ và vốn chủ sở hữu Số tiền
Tài sản lưu động
4.150
Nợ phải trả
5.450
Tiền mặt và tiền gửi ngân
hàng
500
Nợ ngắn hạn
4.250
Chứng khoán ngắn hạn
0
Phải trả ngưới bán
910
Khoản phải thu
750
Phải trả CNV
750
4.150
2. Nợ ngắn hạn phi ngân hàng = ( 910 + 750 + 150 )
1.810
3. Mức chênh lệch = (1) - (2)
2.340
4. Vốn chủ sở hữu tham gia = (3) x tỷ lệ tham gia (30%)
702
5. Mức cho vay tối đa của ngân hàng = (3) - (4)
1.638
1. Giá trị TSLĐ
4.150
2. Vốn chủ sở hữu tham gia = 30% x (1)
1.245
3. Mức chênh lệch = (1) - (2)
2.905
4. Nợ ngắn hạn phi ngân hàng = ( 910 + 750 + 150 )
1.810
5. Mức cho vay tối đa của ngân hàng = (3) - (4)
1.095
14
Chuyên đề thực tập
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay theo hạn mức của Ngân hàng.
C ác chỉ tiêu định lượng:
(1) Chỉ tiêu tăng doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ
(2) Chỉ tiêu cơ cấu cho vay
(3) Chỉ tiêu doanh số cho vay có tài sản đảm bảo
(4) Tỷ lệ nợ quá hạn
(5) Tỷ lệ nợ xấu
(6) Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
(7) Chỉ tiêu lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng (hiệu suất sử dụng vốn và hiệu
vấn đề tất cả các yếu tố đó có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng cho
vay của Ngân hàng. Nếu như tất cả những yếu tố thuộc chính sách tín dụng đúng
đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì
Ngân hàng đó sẽ thành công trong việc tăng cường hoạt động cho vay, nhưng vẫn
đảm bảo được chất lượng tín dụng. Ngược lại, những yếu tố này bất hợp lý, cứng
nhắc, không theo sát tình hình thực tế sẽ dẫn đến khó khăn trong việc tăng cường
hoạt động cho vay của mình.
Ngân hàng càng đa dạng hoá các mức lãi suất phù hợp với từng loại khách
hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được
khách hàng, thực tốt mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay. Nhưng nếu lãi suất
không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút
được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế hoạt động cho vay của Ngân hàng
1.3.1.2 Năng lực điều hành của ban lãnh đạo
Yếu tố này có vai trò khá quan trọng. Thực tế chứng minh, nhiều Ngân hàng
thương mại tuy có được những nguồn lực khan hiếm và giá trị mà đối thủ cạnh
tranh không có như trụ sở khang trang đặt ở vùng tập trung nhiều khách hàng, vốn
tự có lớn, thu nhận được nhiều cán bộ giỏi. Song do cán bộ điều hành lãnh đạo
không sắc sảo, nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động Ngân hàng theo kịp
các tín hiệu thông tin, không sử dụng nhân viên đúng sở trường, dẫn đến lãng phí
các nguồn lực Ngân hàng mình có, giảm hiệu quả chi phí, tất nhiên hạ thấp đi hoạt
động cho vay của Ngân hàng .
Năng lực lãnh đạo của những người điều hành ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng. Nó thể ở các mặt sau:
- Khả năng chuyên môn: có được khả năng này, người lãnh đạo sẽ dễ dàng
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
16
Chuyên đề thực tập
hơn trong công tác quản lý và điều hành, vì kiến thức và kinh nghiện của nhà lãnh
đạo luôn tạo được uy tín tuyệt đối không chỉ với cấp dưới mà nhiều khi đối với cả
đối thủ cạnh tranh.
Ngược lại nếu thông không kịp thời, chính xác thì Ngân hàng sẽ cho vay
không hợp lí. Cho vay qúa thấp sẽ hạn chế khả năng sản xuất của doanh nghiệp do
lượng vốn đi vay chưa đủ để doanh nghiệp đầu tư toàn diện. Nhưng nếu cho vay
quá cao so với nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng do thông tin về
khách hàng này là tốt trong khi thực tế thì không phải như vậy, cho nên khi khách
hàng làm ăn thua lỗ sẽ không có khả năng trả hết nợ.
Trên thực tế ở Việt Nam, tiếp cận thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ là khó
khăn. Và khả năng cho vay còn nhiều hạn chế.
1.3.1.4 Quy mô vốn của Ngân hàng
Một Ngân hàng cũng như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh thì phải có vốn. Hai nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng là vốn tự có
và vốn huy động.
Ngân hàng thương mại nằm trong hệ thống Ngân hàng chịu sự tác động của
chính sách tiền tệ, chịu sự quản lý của Ngân hàng trung ương và tuân thủ các qui
định của luật Ngân hàng. Một Ngân hàng chỉ được huy động một số vốn gấp 20 lần
số vốn tự có. Điều đó có nghĩa là nếu vốn tự có càng lớn, khả năng được phép huy
động vốn càng cao, và Ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc thực hiện các hoạt
động kinh doanh của mình.
Đặc điểm khác nhau cơ bản trong nguồn vốn của thương mại và các doanh
nghiệp phi tài chính là các Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu bằng nguồn
vốn huy động từ các thành phần kinh tế còn các doanh nghiệp khác hoạt động bằng
nguồn vốn tự có là chính.
Ta biết Ngân hàng cho vay bằng nguồn vốn huy động của mình. Mà hoạt
động cho vay của Ngân hàng ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng
cho vay càng lớn khi mà nguồn vốn của Ngân hàng phải lớn mạnh. khi nguồn vốn
của Ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì Ngân hàng có thêm nhiều tiền cho
khách hàng vay, điều đó cũng có nghĩa là hoạt động cho vay của Ngân hàng được
tăng cường và mở rộng. Còn nếu lượng vốn ít thì không đủ tiền cho khách hàng
vay, Ngân hàng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của Ngân hàng sẽ không cao
và việc tăng cường hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu vốn quá nhiều,
tiềm năng giúp mở rộng hoạt cho vay của Ngân hàng
1.3.1.7 Đối thủ cạnh tranh
Các Ngân hàng thương mại hoạt động trong môi trường có nhiều đối thủ
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
19
Chuyên đề thực tập
cạnh tranh. Cạnh tranh là một động lực tốt để Ngân hàng ngày càng hoàn thiện, vì
để ngày càng phát triển thì Ngân hàng luôn phải cố gắng không để mình tụt hậu so
với đối thủ cạnh tranh và phải nâng cao, tăng cường các hoạt động của mình vượt
đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khách hàng có sự lựa chọn của mình khi gửi tiền, sử
dụng dịch vụ và vay tiền của Ngân hàng nào có lợi cho họ. Nếu như đối thủ cạnh
tranh mà chiềm ưu thế hơn so với Ngân hàng thì sẽ thu hút nhiều khách hàng hơn
Ngân hàng thậm chí khách hàng của Ngân hàng cũng chuyển sang đối thủ cạnh
tranh. Do đó để mở rộng hoạt động cho vay thì việc nghiên cứu tìm hiểu đối thủ
cạnh tranh để ngày càng chiếm ưu thế hơn là vô cùng quan trọng.
Quá trình phân tích đối thủ cạnh tranh gồm có: xác định các nguồn thông tin
về đối thủ cạnh tranh, phân tích các thông tin đó, dự đoán chiến lược của các đối thủ
cạnh tranh và đánh giá khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong việc mở rộng hoạt
động cho vay.
1.3.2 Các nhân tố khách quan
1.3.2.1 Môi trường kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. Nó tạo môi trường rất
thuận lợi để mở rộng hoạt động cho vay.
Bất cứ một Ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của các chu kì kinh tế.
Trong giai đoạn nền kinh tế phát triển ổn định, doanh nghiệp làm ăn tốt thì xã thì xã
hội có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vay vốn
tăng. Mặt khác nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ lệ thất
nghiệp thấp sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, thay đổi thói quen tiêu dùng của người
dân và tạo khả năng tiết kiệm do đó tạo triển vọng cho vay tiêu dùng. Ngược lại nền
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành
* Thời kỳ từ 1957- 1980:
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
21
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) - tiền thân của Ngân
hàng ĐT&PTVN - được thành lập ngày 26/04/1957 theo quyết định 177/TTg ngày
26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh, 200 cán
bộ.
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý
vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã
hội.
* Thời kỳ 1981- 1989:
Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây
dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Quyết định số 259-
CP của Hội đồng Chính phủ, ngày 24/06/1981.
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng cũng giống như của
Ngân hàng Kiến thiết là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.
Trong khoảng từ 1981- 1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đã
từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thiện các cơ chế nghiệp vụ, tiếp tục khẳng định
để đứng vững và phát triển. Đây cũng là thời kỳ ngân hàng đã có bước chuyển mình
theo định hướng của sự nghiệp đổi mới của cả nước nói chung và ngành ngân hàng
nói riêng, từng bước trở thành một trong các ngân hàng chuyên doanh hàng đầu
trong nền kinh tế. Những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam
thời kỳ này này lớn hơn trước gấp bội cả về tổng nguồn vốn cấp phát, tổng nguồn
vốn cho vay và tổng số tài sản cố định đã hình thành trong nền kinh tế .
Thời kỳ này đã hình thành và đưa vào hoạt động hàng loạt những công trình to
lớn có “ý nghĩa thế kỷ” của đất nước, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vực
sự nghiệp và phúc lợi như: công trình thủy điện Sông Đà, cầu Thăng Long, nhà máy
cấp 1 thứ 80 của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), là đại diện pháp
nhân của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, có con dấu, có bảng tổng kết tài sản, hạch
toán phụ thuộc trong hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam…Chi nhánh Đông
Anh sẽ thực hiện các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác như:
dịch vụ tiền gửi; thanh toán trong nước; dịch vụ ngân hàng đối ngoại; cung cấp các
sản phẩm tín dụng; các dịch vụ ngân hàng điện tử; đại lý thanh toán thẻ visa,
master…
Chi nhánh Đông Anh là đơn vị thành viên thứ 90 của BIDV, tại thời điểm
thành lập, chi nhánh cấp 1 Đông Anh có tổng tài sản trên 700 tỷ đồng với 70 cán bộ
nhân viên. Trụ sở chính đóng tại Tổ 3 thị trấn Đông Anh, Huyện Đông Anh, Hà
Nội, ngoài ra còn có 03 phòng giao dịch trên địa bàn.
Sự ra đời và đi vào hoạt động của chi nhánh cấp 1 Đông Anh cùng với các chi
nhánh bắc Hà Nội, nam Hà Nội, Cầu Giấy sẽ phủ song đủ 4 mặt mạng lưới chi
nhánh trên địa bàn thủ đô.… Sau một thời gian phát triển, chi nhánh đã có sự phát
triển bắt kịp với thị truờng, chi nhánh đã trở thành một trong những đơn vị hoạt
động kinh doanh có hiệu quả tiêu biểu của hệ thống. Việc thành lập chi nhánh
SV: Phùng Thị Xuân Lớp: Ngân hàng K39
23
Chuyên đề thực tập
BIDV Đông Anh phù hợp với tiến trình thực hiện chương trình cơ cấu lại, gắn liền
với đổi mới toàn diện và phát triển vững chắc với nhịp độ tăng trưởng cao, phát huy
truyền thống phục vụ đầu tư phát triển, đa dạng hoá khách hàng thuộc mọi thành
phần kinh tế, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng,
nâng cao hiệu quả an toàn hệ thống theo dõi đòi hỏi của cơ chế thị trường và lộ
trình hội nhập, làm nòng cốt cho việc xây dựng tập đoàn tài chính đa năng, vững
mạnh, hội nhập quốc tế .
2.1.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi
nhánh Đông Anh
Mô hình tổ chức hoạt động của chi nhánh BIDV Đông Anh được xây dựng