Nâng cao chất lượng cho vay đầu tư dự án tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tư và chất lượng cho vay đầu tư dự án 3
1.1. Dự án đầu tư và cho vay đầu tư dự án 3
1.1.1. Dự án đầu tư 2
1.1.2. Cho vay đầu tư dự án 8
1.2. Chất lượng cho vay đầu tư dự án 15
1.2.1. Khái niệm chất lượng cho vay đầu tư dự án 15
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay đầu tư dự án 17
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đầu tư dự án 21
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 28
2.1. Khái quát về hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Nam Hà Nội 28
2.1.1. Giới thiệu về Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 28
2.1.2. Tình hình hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam
Hà Nội 30
2.2. Thực trạng chất lượng cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 36
2.2.1. Cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam
Hà Nội 36
2.2.2. Chất lượng cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Nam Hà Nội 44
2.3. Đánh giá chung về chất lượng cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 53
2.3.1. Nhân tố làm tăng chất lượng cho vay đầu tư dự án án tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 53
2.3.2. Nhân tố làm giảm chất lượng cho vay đầu tư dự án án tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội 55

NHTM Ngân hàng thương mại
NSNN Ngân sách nhà nước
ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
I. DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về quy mô của BIDV Nam Hà Nội ( 2006 -
2010) 31
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về chất lượng của BIDV Nam Hà Nội ( 2006-
2010) 32
Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn của BIDV Nam Hà Nội (2008 – 2010) 33
Bảng 2.4: Tình hình hoạt động tín dụng của BIDV Nam Hà Nội (2008 – 2010) 34
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn thu dịch vụ của BIDV Nam Hà Nội năm 2010 35
Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ cho vay theo đối tượng khách hàng tại BIDV Nam Hà Nội. .41
Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ cho vay đầu tư dự án theo đối tượng khách hàng 42
Bảng 2.8: Cơ cấu cho vay dự án theo ngành nghề tại BIDV Nam Hà Nội 43
Bảng 2.9: Các tiêu chuẩn chất lượng của BIDV Nam Hà Nội 45
Bảng 2.10: Bảng quy định thời gian xét duyệt cho vay đầu tư dự án tại Chi nhánh
BIDV Nam Hà Nội 46
Bảng 2.11: Doanh số cho vay đầu tư dự án tại BIDV Nam Hà Nội (2008-2010) 48
Bảng 2.12: Tỷ lệ dư nợ cho vay đầu tư dự án/ Tổng dư nợ 49
Bảng 2.13: Tỷ lệ dư nợ cho vay đầu tư dự án/ Nguồn vốn trung dài hạn 50
Bảng 2.14: Doanh số thu nợ cho vay đầu tư dự án BIDV Nam Hà Nội ( 2008-2010). 51
Bảng 2.15: Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay đầu tư dự án của BIDV Nam Hà Nội giai đoạn
2008-2010 51
Bảng 2.16: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay đầu tư dự án của BIDV Nam Hà Nội 52
Bảng 3.1: Chỉ tiêu hoạt động cụ thể của BIDV Nam Hà Nội năm 2011 63
II . DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu cho vay dự án theo ngành nghề tại BIDV Nam Hà Nội 2010 43
III. DANH MỤC SƠ ĐỒ

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nội
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
từ phía nhà trường và đơn vị thực tập.
Em xin bày tỏ lòng cám ơn với PGS.TS Nguyễn Thị Bất, cô đã trực tiếp hướng
dẫn, sửa chữa, giúp em hoàn thành bài viết này.
Em cũng xin gửi lời cám ơn đến các anh chị đang làm việc tại Phòng giao
dịch 3 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Nam Hà Nội đã tận tình
giúp đỡ em trong thời gian thực tập vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
VÀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐẦU TƯ DỰ ÁN
1.1. DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHO VAY ĐẦU TƯ DỰ ÁN
1.1.1. Dự án đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư
Trong nền kinh tế, tất cả các doanh nghiệp, tổ chức muốn tồn tại và phát triển
đều cần có hoạt động đầu tư. Đầu tư có thể hiểu đơn giản là hoạt động bỏ vốn ở hiện
tại nhằm mục đích đạt được những lợi ích lâu dài trong tương lai.
Các hoạt động đầu tư, và đặc biệt là đầu tư phát triển thường diễn ra trong thời
gian dài, vốn huy động thường lớn và vì vậy rủi ro đối với chủ đầu tư cũng rất cao. Để
giảm thiểu rủi ro, giúp công cuộc đầu tư đạt được mục đích mong muốn, đem lại hiệu
quả kinh tế xã hội cao thì công tác chuẩn bị đóng vai trò hết sức quan trọng. Trước khi
bỏ vốn, nhà đầu tư cần xem xét, tìm hiểu kỹ điều kiện tự nhiên xã hội, môi trường
pháp lý, khả năng cạnh tranh ở hiện tại, phải dự đoán được những yếu tố khó khăn và
thuận lợi trong tương lai có thể gây ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư… để từ đó có
phương án đầu tư hợp lý. Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này đều được thể hiện
trong dự án đầu tư.
Tuy nhiên, đứng trên các giác độ khác nhau thì cách hiểu về dự án đầu tư cũng
khác nhau.
Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một bộ hồ sơ tài liệu được trình bày một

điểm đều thống nhất một số đặc trưng của dự án như:
- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý hành động với
mục tiêu cụ thể. Mục tiêu được đặt ra xuất phát từ nhu cầu thực tế và các hoạt động để
thực hiện dự án đều cần nhắm đến mục tiêu đó.
- Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Thành quả mà dự án
mang lại được thể hiện trong tương lai. Trong khi đó dự án lại được vạch ra ở hiện tại.
Vì vậy, trong quá trình triển khai dự án có nhiều yếu tố bất định chưa lường trước
được, nên rủi ro trong đầu tư dự án thường cao.
- Dự án bị khống chế bởi thời hạn. Mọi hoạt động của dự án đều phải có thời
hạn kết thúc. Sự chậm trễ trong thực hiện dự án có thể sẽ làm mất cơ hội phát triển,
kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu tư và nền kinh tế.
- Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực. Thông thường, các dự án bị ràng buộc về
vốn, vật tư, lao động. Đối với dự án quy mô càng lớn, mức độ ràng buộc về nguồn lực
càng cao và càng phức tạp. Xử lí tốt các ràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt
được mục tiêu của dự án.
Từ những quan niệm và các đặc trưng trên có thể khái quát lại:
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù liên kết chặt chẽ và phụ
thuộc lẫn nhau nhằm đạt được trong tương lai mục tiêu đã đặt ra với nguồn lực và
thời gian xác định.
1.1.1.2. Phân loại dự án đầu tư
Dựa trên các tiêu thức khác nhau, dự án đầu tư cũng được chia thành nhiều loại
khác nhau.
* Căn cứ vào tính chất đầu tư:
Dự án đầu tư được chia thành 2 loại:
- Dự án đầu tư mới: là dự án có mục tiêu tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới đưa vào
thị trường. Dự án loại này được đầu tư mới toàn bộ từ nhà xưởng, máy móc, thiết bị
tới nguyên liệu, nhân công, thị trường… vì vậy dự án loại này thường có quy mô lớn,
thời gian dài và độ rủi ro cao.
- Dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: là dự án có mục tiêu tăng cường
năng lực sản xuất của doanh nghiệp, có quy mô nhỏ hơn, thời gian ngắn hơn và mức

* Căn cứ vào thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn của
các dự án:
Dự án đầu tư được chia thành:
- Dự án đầu tư ngắn hạn (thời gian đầu tư ngắn, ví dụ như các dự án đầu tư
thương mại)
- Dự án đầu tư dài hạn (thời gian đầu tư dài, như các dự án sản xuất, các dự án
đầu tư khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng…)
* Căn cứ vào phân cấp quản lý:
Tùy theo tính chất và quy mô mà các dự án được chia thành dự án quan trọng
cấp quốc gia (đầu tư cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học cấp quốc gia…)
hay các dự án thuộc 3 nhóm A, B, C. Trong đó, các dự án nhóm A do Thủ tướng chính
phủ quyết định; nhóm B, C do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung Ương quyết định.
* Căn cứ vào nguồn vốn:
Dự án đầu tư được chia thành:
- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn ngân sách, vốn tích lũy từ
doanh nghiệp, từ tiền tiết kiệm của dân cư…)
- Dự án có vốn huy động từ nước ngoài ( như các nguồn vốn đầu tư trực tiếp,
gián tiếp, viện trợ,…)
Cách phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai trò
của mỗi nguồn đối với sự phát triển của ngành, địa phương và nền kinh tế.
* Căn cứ vào vùng, lãnh thổ :
Việc phân loại các dự án đầu tư theo các tỉnh thành hay vùng kinh tế có thể cho
thấy được mức độ và hiệu quả đầu tư của từng vùng. Từ đó có kế hoạch đầu tư hợp lý
phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế và mục tiêu phát triển của từng địa phương.
Ngoài ra, trong thực tế, để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của việc quản lý,
nghiên cứu, dự án đầu tư còn được phân loại dựa trên một số tiêu thức khác như
quy mô dự án, chủ đầu tư…
1.1.2. Cho vay đầu tư dự án
1.1.2.1. Khái niệm cho vay đầu tư dự án

tư của khách hàng mà ngân hàng đã lựa chọn để tài trợ. Thực tế cho thấy việc lựa chọn
được dự án tốt là yếu tố quyết định của hình thức cho vay này.
* Quy trình cho vay đầu tư dự án :
Để lựa chọn được dự án tốt và giảm thiểu rủi ro, khi tiến hành cho vay dự án,
ngân hàng cần phải tuân theo một quy trình cụ thể. Quy trình cho vay đầu tư dự án nói
chung gồm 6 bước:
- Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Ngân hàng hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn. Bộ hồ sơ vay vốn
gồm: Giấy đề nghị vay vốn; Hồ sơ pháp lý; Hồ sơ kinh tế (chứng thực khả năng tài
chính của khách hàng); Hồ sơ dự án đầu tư; Hồ sơ đảm bảo tiền vay…
- Bước 2: Phân tích tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình tín dụng. Vì có phân tích tín dụng
tốt ngân hàng mới có quyết định đầu tư đúng đắn. Trong bước này ngân hàng cần thẩm
định 2 đối tượng là khách hàng và dự án.
Đối với khách hàng, ngân hàng cần thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân,
tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính… để có thể thấy được uy tín và năng
lực hoạt động của khách hàng như thế nào.
Đối với dự án, cán bộ tín dụng cần phân tích được mục đích kinh tế xã hội,
nguồn cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm… của dự
án. Từ đó đánh giá được hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của dự án, xem
dự án có khả thi hay không.
- Bước 3: Ra quyết định đầu tư tín dụng
Sau khi đã đánh giá được tình hình khách hàng và mức độ khả thi của dự án,
ngân hàng sẽ đưa ra quyết định có tài trợ cho dự án hay không. Nếu ngân hàng chấp
nhận cho vay, hai bên sẽ ký kết hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng tín dụng phải xác
định rõ đối tượng, mức vay, thời hạn vay, lãi suất, kế hoạch trả nợ, kế hoạch đảm bảo
tiền vay, quyền và nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay…
- Bước 4: Giải ngân
Căn cứ vào hợp động tín dụng, ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân vốn cho khách
hàng, để khách hàng sử dụng tiền vay vào thực thi dự án.

khiến doanh nghiệp có thể bỏ lỡ mất cơ hội. Khi đó, tín dụng ngân hàng là giải pháp
tốt đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể lựa chon kỳ hạn phù hợp với nhu
cầu kinh doanh của mình.
- Thứ ba, với việc vay ngân hàng, doanh nghiệp vừa có vốn, vừa có thể đảm
bảo quyền kiểm soát của mình. Điều này sẽ không thể có được nếu nhà kinh doanh
phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Vì khi đó, quyền lực đã được san sẻ cho các cổ
đông mới.
- Thứ tư, việc vay vốn từ ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh hiệu
quả hơn. So với việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu, doanh nghiệp có thể tiết kiệm
được các chi phí như: chi phí phát hành, chi phí bảo lãnh, chi phí đăng ký…Tuy nhiên,
khi doanh nghiệp vay vốn sẽ phải trả lãi cho ngân hàng. Lãi suất vay trung và dài hạn
của ngân hàng thường khá cao, bởi vậy các doanh nghiệp cần nghĩ đến nâng cao hiệu
quả đầu tư, để sau khi trả lãi cho ngân hàng, doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận.
Điều này thúc đẩy các nhà đầu tư khai thác triệt để đồng vốn, để nâng cao năng lực sản
xuất và kinh doanh có lãi.
Có thể nói nguồn vốn vay từ ngân hàng là nguồn vốn quan trọng giúp các
doanh nghiệp thực hiện dự án kinh doanh của mình.
* Đối với ngân hàng :
- Thứ nhất, cho vay dự án mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng. Trong
các tài sản của NHTM, khoản mục cho vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản
mục đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Các khoản vay có thời hạn càng dài thì
lãi suất vay càng cao và tiền lãi vay ngân hàng thu được càng lớn. Cho vay đầu tư dự
án thường là các khoản vay trung và dài hạn có thời hạn trên 3 năm, đặc biệt có những
dự án lớn thời gian vay vốn có thể trên 10 năm nên nguồn thu từ lãi vay sẽ cao và ổn
định hơn, giúp ngân hàng tăng thu nhập. Tuy nhiên, các dự án đầu tư có thời gian dài
thì độ rủi ro cũng lớn. Để giảm thiểu rủi ro, ngân hàng cần phải lựa chọn được những
dự án khả thi, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
- Thứ hai, tăng cường cho vay dự án sẽ thúc đẩy các hoạt động khác của ngân
hàng phát triển. Việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn và đặc biệt là cho vay theo dự
án sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh tín dụng ngắn hạn và các hoạt động dịch vụ khác của

thiết bị, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nền sản
xuất trong nước. Thông qua đó, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường các
tính năng mới, đa dạng hóa mẫu mã hàng hóa, làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng
Việt Nam trên thị trường quốc tế.
- Thứ ba, cho vay đầu tư dự án giúp tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống
nhân dân, góp phần ổn định kinh tế xã hội. Mỗi dự án muốn triển khai đi vào hoạt
động đều cần có một lực lượng lao động nhất định. Người lao động tham gia vào các
dự án sẽ có thu nhập để có thể cải thiện đời sống. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các dự
án mở rộng sản xuất kinh doanh sẽ giúp năng suất lao động tăng cao, lợi nhuận của các
doanh nghiệp lớn và thu nhập của người lao động cũng tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp
giảm, đời sống của nhân dân được nâng cao chính là yếu tố giúp ổn định nền kinh tế
xã hội trong nước.
1.1.2.3. Đặc điểm cho vay đầu tư dự án
- Vốn tham gia dự án:
Các dự án xin vay vốn thường là những dự án có nhu cầu vốn đầu tư lớn, thời
gian đầu tư dài, vì thế mức độ rủi ro cũng rất cao. Khi quyết định cho vay đầu tư dự
án, NHTM sẽ phải đối mặt với những biến động của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội…có thể xảy ra trong tương lai. Những biến động này có thể gây ảnh hưởng mạnh
đến hoạt động của doanh nghiệp và tác động tiêu cực đến hiệu quả của dự án…Để
giảm bớt mức độ rủi ro, các NHTM thường yêu cầu doanh nghiệp phải dùng cả vốn
chủ sở hữu tham gia vào dự án. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu này phụ thuộc vào quy định của
từng ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định.
- Thời hạn trả nợ và nguồn trả nợ:
Doanh nghiệp vay vốn ngân hàng cần phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn.
Thời hạn trả nợ của doanh nghiệp được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng.
Doanh nghiệp có thể trả nợ một lần cuối kỳ hoặc trả làm nhiều lần. Đối với cho vay
đầu tư dự án, số tiền các doanh nghiệp dùng để trả nợ thường lấy từ khấu hao tài sản
cố định và doanh thu của dự án.
- Giải ngân trong cho vay đầu tư dự án:
Việc triển khai và đưa các dự án đi vào hoạt động diễn ra trong thời gian dài và

Theo quan điểm của Philip B. Crosby, một học giả giàu kinh nghiệm trong
lĩnh vực quản lý, tác giả của 13 cuốn sách nổi tiếng về chất lượng :“Chất lượng là
sự phù hợp với yêu cầu”
Mặc dù chất lượng là khái niệm tương đối rộng và trừu tượng nhưng từ các
quan điểm trên chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm chung của chất lượng:
Một là, chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì một
lý do nào đó mà không được chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù
công nghệ để chế tạo ra sản phẩm có thể rất hiện đại. Và do nhu cầu luôn thay đổi nên
chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng.
Hai là, khi đánh giá chất lượng của đối tượng, phải xét đến mọi đặc tính có liên
quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể. Các yêu cầu này không chỉ từ phía khách
hàng mà còn từ các bên có liên quan. Ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu
cầu cộng đồng, xã hội… Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định
tiêu chuẩn, nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng
chỉ có thể cảm nhận hoặc phát hiện ra chúng trong quá trình sử dụng.
Ba là, khái niệm chất lượng không chỉ đề cập đến sản phẩm hàng hoá mà còn
áp dụng cho một hệ thống hay một quá trình.
Từ những khái niệm và đặc điểm của chất lượng đã nêu, chúng ta có thể hiểu
đơn giản: Chất lượng là tập hợp các đặc trưng của một sản phẩm, hệ thống hay
quá trình thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu cụ thể trong những điều kiện sử dụng
xác định.
1.2.1.2. Quan điểm về chất lượng cho vay đầu tư dự án
Trong mối quan hệ vay mượn, người đi vay và người cho vay đều đặt ra những
mục tiêu và nhu cầu riêng. Người đi vay cần vốn để đầu tư, giúp các dự án đi vào hoạt
động, đảm bảo công việc sản xuất kinh doanh của mình. Người cho vay thì có thêm
thu nhập từ nguồn lãi vay. Bởi vậy:
Chất lượng của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản
vay đó mang lại cho vả người đi vay và người cho vay.
Chất lượng cho vay được nhìn nhận từ 3 góc độ: ngân hàng, người vay và nền
kinh tế.

Khách hàng có thể so sánh mức lãi suất của rất nhiều ngân hàng, để từ đó lựa chọn
mức lãi suất phù hợp. Vì vậy, để có thể giữ được khách hàng của mình, ngân hàng cần
có một mức lãi suất cho vay cạnh tranh.
Không chỉ có thế, sự thỏa mãn của khách hàng còn phụ thuộc vào thái độ của
nhân viên ngân hàng, thời gian xử lý hồ sơ vay vốn, các thủ tục cần thiết có đơn giản
và nhanh chóng không, nguồn vốn có đảm bảo được cấp đầy đủ và đúng thời hạn
không… Một ngân hàng có thái độ phục vụ chuyên nghiệp, các thủ tục đơn giản,
nhanh chóng, nhân viên tín dụng có trình độ chuyên môn cao…chắc chắn sẽ tạo được
những ấn tượng tốt đẹp trong lòng khách hàng.
Mức độ hài lòng của khách hàng sẽ thể hiện chất lượng cho vay của ngân hàng.
Một ngân hàng có chất lượng cho vay tốt sẽ khiến khách hàng hài lòng, tin tưởng và là
địa chỉ tin cậy khách hàng tìm đến mỗi khi có nhu cầu vay vốn.
* Hiệu quả xã hội của các dự án:
Đánh giá chất lượng cho vay đầu tư dự án của ngân hàng không chỉ có khách
hàng mà còn có sự đánh giá của toàn xã hội.
Một ngân hàng muốn nâng cao vị thế, uy tín của mình cần được cả xã hội công
nhận. Nếu ngân hàng đầu tư vào một dự án có hiệu quả kinh tế cao nhưng lại sản xuất
những mặt hàng có hại cho môi trường, xã hội, gây tác động tiêu cực đến đời sống của
người dân… thì khoản đầu tư này không thể coi là có chất lượng, sẽ ảnh hưởng xấu
đến uy tín của ngân hàng. Muốn đảm bảo chất lượng cho vay đầu tư dự án của mình,
ngân hàng cần tài trợ cho những dự án đạt được cả hiệu quả kinh tế và xã hội. Nó được
biểu hiện ở việc góp phần vào sự ổn định nền tài chính tiền tệ quốc gia, giúp nâng cao
năng lực sản xuất, năng lực công nghệ của khách hàng, giải quyết công ăn việc làm,
tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư.
Tuy nhiên khi đánh giá tiêu thức này cần căn cứ vào điều kiện cụ thể trong từng
thời kỳ. Chẳng hạn các dự án cải tạo nâng cấp trang thiết bị, đổi mới công nghệ giúp
doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, nhưng đồng thời cũng thu hẹp công ăn việc
làm của người lao động, hay những dự án trước mắt chưa có hiệu quả kinh tế cao,
nhưng sau này sẽ là động lực thúc đẩy nền sản xuất trong nước… Nên để đánh giá
chính xác hiệu quả xã hội của dự án cần dựa vào rất nhiều yếu tố liên quan.

với rủi ro mất khả năng thanh toán. Thường thì các ngân hàng sẽ không giữ tỷ lệ này
quá cao mà phân tán bớt rủi ro bằng cách đa dạng hóa tài sản.
* Chỉ tiêu về thu nợ:
- Chỉ tiêu 1: Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ thể hiện số nợ thu hồi được của ngân hàng. Doanh số thu nợ
tăng chứng tỏ công tác thu nợ của ngân hàng tốt, đồng thời cũng cho thấy hoạt động
cho vay dự án của ngân hàng gặp thuận lợi. Bởi lẽ chỉ có mở rộng quy mô cho vay và
các khoản vay đến hạn được hoàn trả đầy đủ thì doanh số thu nợ mới tăng. Ngược lại,
doanh số thu nợ giảm chứng tỏ việc cho vay của ngân hàng hoặc công tác thu nợ đang
gặp khó khăn.
- Chỉ tiêu 2: Tốc độ tăng của doanh số thu nợ
Là một chỉ tiêu tương đối, tốc độ tăng của doanh số thu nợ không phản ánh quy
mô số nợ thu hồi được, nhưng qua chỉ tiêu này ta có thể thấy doanh số thu nợ năm sau
so với năm trước ra sao. Nếu chỉ tiêu này lớn, chứng tỏ doanh số thu nợ tăng nhanh.
Cũng đồng nghĩa với khả năng mở rộng quy mô và khả năng thu nợ của NHTM năm
sau tốt hơn nhiều so với năm trước.
* Chỉ tiêu về nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là những khoản nợ đến kỳ hạn trả nợ, nhưng khách hàng vẫn chưa
trả được nợ. Trong trường hợp này khách hàng phải chịu lãi phạt, thường bằng 150%
lãi suất ghi trên hợp động tín dụng. Khách hàng không trả được nợ đúng thời hạn có
thể do nhiều nguyên nhân, nhưng đa số là do khách hàng gặp khó khăn về tài chính.
Việc này cũng gây ra những rủi ro rất lớn đối với ngân hàng. Nợ quá hạn là một trong
những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng, nó phản ánh
những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Để lượng hóa mức độ rủi ro này, các ngân
hàng sử dụng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ =
Nợ quá hạn cho vay đầu tư dự án
Tổng dư nợ cho vay đầu tư dự án
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ rủi ro ngân hàng đang gặp phải càng lớn. Mọi ngân
hàng đều muốn giảm tỷ lệ này đến mức thấp nhất. Tuy nhiên rủi ro trong kinh doanh là

tế, NHTM cần hạn chế cho vay, điều này có thể làm giảm quy mô cho vay đầu tư dự
án, nhưng sẽ đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng.
Ngoài ra chính sách cho vay đầu tư dự án của ngân hàng còn bao gồm hàng loạt
có yếu tố như: những quy định về khách hàng mục tiêu, lĩnh vực tài trợ, các biện pháp
đảm bảo tiền vay, lãi suất cho vay… Những yếu tố này đều tác động trực tiếp và gián
tiếp đến chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng cho vay đầu tư dự án của ngân
hàng nói riêng. Nếu các yếu tố này được sắp xếp một cách hợp lý, khoa học, phù hợp
với điều kiện phát triển của đất nước, kết hợp hài hòa lợi ích của ngân hàng, khách

Trích đoạn Tình hình hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Nam Định hướng hoạt động chung Nâng cao chất lượng thẩm định dự án trước khi cho vay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status