LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa của nhân loại, hoạt
động kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm vị trí quan trọng
trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta. Với tư cách là
chất xúc tác cho sự phát triển thương mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế
cũng không ngừng được mở rộng và chú trọng phát triển.
Trong khi đó, với sự non trẻ và còn ít kinh nghiệm thực tế trong thanh
toán quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và Chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Đông Anh nói riêng đang
gặp rất nhiều khó khăn trong việc đối phó với xu thế hội nhập ngân hàng khu
vực và quốc tế cũng như tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do vậy, việc
hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế là mối quan
tâm hết sức cấp bách và thường xuyên của mỗi ngân hàng.
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Đông Anh” làm nội dung
chuyên đề tốt nghiệp. Với mục đích làm sáng tỏ vị trí, vai trò của hoạt động
thanh toán quốc tế trong nền kinh tế, luận giải có tính hệ thống cơ sở lý luận
và thực tiễn, các hạn chế và nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh.
Đề tài tập trung nghiên cứu một số hoạt động thanh toán quốc tế như:
phương thức thanh toán Chuyển tiền, phương thức Nhờ thu, phương thức Tín
dụng chứng từ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Đông Anh.
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu: phương pháp duy
vật biện chứng, phương pháp duy vật lich sử của chủ nghĩa Mác – Lênin,
phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp thống kê chọn mẫu kết
hợp với phân tích tổng hợp, so sánh và mô hình hóa.
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3
chương :
Chương 1: Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế và hiệu quả hoạt
được sử dụng hiện nay gồm có: phương thức Chuyển tiền, phương thức Nhờ
thu và phương thức Tín dụng chứng từ.
1.1.2. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
“Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ,
tín dụng mà hoạt động chủ yếu của nó là nhận tiền gửi của khách hàng với
trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó để đầu tư, cho vay, chiết khấu và làm
phương tiện thanh toán”.
Với nền kinh tế thế giới đang ngày càng hội nhập và phát triển, việc mở
rộng các lĩnh vực hoạt động, xây dựng mô hình Ngân hàng hiện đại đang là
hướng đi chung của tất cả các Ngân hàng thương mại trên thế giới. Ngân hàng
hiện đại là ngân hàng hoạt động theo hướng đa năng, tức là ngoài các nghiệp
vụ truyền thống như nhận tiền gửi của khách hàng, cho vay và làm trung gian
thanh toán còn thực hiện nhiều hoạt động dịch vụ khác. Một trong các dịch vụ
đem lại lượng doanh thu lớn cho ngân hàng chính là hoạt động TTQT.
Hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt
động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển. Nó tạo ra một nguồn thu lớn
cho các ngân hàng thương mại, phí thu từ hoạt động này chiếm tỷ trọng
không nhỏ trong tổng thu nhập của Ngân hàng.
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá như hiện nay thì hoạt động TTQT
ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng,
cũng như trong việc thúc đẩy xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Tháng 11/2006,
Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Nền kinh tế Việt Nam bước vào một sân chơi lớn, khắc nghiệt, đòi hỏi hệ
thống pháp luật, các doanh nghiệp cần có những đổi mới nhanh, quyết liệt
hơn để thích ứng kịp thời. Tốc độ phát triển của nền kinh tế nước ta diễn ra
phụ thuộc vào tốc độ phát triển của các ngành kinh tế then chốt, trong đó có
lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng. Hoạt động Ngân hàng hội nhập và phát triển
như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Chính vì vậy, mở rộng và
phát triển hoạt động TTQT là việc các Ngân hàng cần phải chú trọng quan
tâm.
chuyển những thông tin thanh toán, giá thành hạ, an toàn, nhanh chóng,
không dùng chứng từ giữa ngân hàng với ngân hàng. Mọi thông tin của
SWIFT đều được mật mã hoá mà chỉ những người có phận sự mới được tiếp
nhận.
Dùng nghiệp vụ chuyển tiền trong thanh toán xuất nhập khẩu thường
không an toàn nên ít khi sử dụng. Người ta thường sử dụng phương thức
chuyển tiền trong các trường hợp sau:
- Thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan
đến xuất nhập khẩu hàng hoá, trị giá hợp đồng nhỏ, đối tác quen biết, tín
nhiệm;
- Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư;
- Chuyển kiều hối;
- Thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu (khi hai bên mua bán có quan hệ
lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn).
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng đóng vai trò
trung gian thực hiện dịch vụ chuyển tiền và thu phí chuyển tiền.
1.2.2. Thanh toán quốc tế theo phương thức Nhờ thu
Khái niệm: Nhờ thu (ủy thác thu) là phương thức thanh toán, trong đó
người xuất khẩu (bên bán hàng) sau khi hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao
hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, ủy thác cho Ngân hàng
phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu (người mua hàng), trên cơ sở
tờ hối phiếu do người xuất khẩu kí phát hành.
Căn cứ vào nội dung chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà
người ta chia phương thức thanh toán này thành hai loại:
- Nhờ thu trơn (Clean Collection): là phương thức thanh toán, trong
đó người xuất khẩu ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở
người nhập khẩu, chỉ căn cứ vào hối phiếu do nhà xuất khẩu lập ra mà không
kèm theo các chứng từ hàng hóa.
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Credit): là một phương thức
thanh toán, trong đó người xuất khẩu ủy nhiệm cho Ngân hàng phục vụ mình
sau khi được mở vẫn có thể bị sửa đổi một số điều khoản hoặc hủy bỏ toàn bộ
mà không cần báo trước cho người thụ hưởng. Việc sửa đổi, hủy bỏ L/C này
chỉ được thực hiện trước khi người xuất khẩu chuyển giao hàng hóa và vận
đơn chưa được chuyển nhượng.
Loại L/C này không bảo đảm quyền lợi cho người xuất khẩu, do vậy
ngày nay hầu như không sử dụng nó trong thương mại quốc tế.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C): là loại L/C sau
khi được mở, mọi việc liên quan đến sửa đổi, hủy bỏ, bổ sung… chỉ được
thực hiện bởi Ngân hàng phát hành khi có sự đồng ý của các bên có liên quan.
Loại L/C này được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế, nó bảo đảm
quyền lợi cho các bên tham gia.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed
Irrevocable L/C): là loại L/C không thể hủy ngang được một Ngân hàng có uy
tín xác nhận đảm bảo việc thanh toán cho người thụ hưởng theo yêu cầu của
Ngân hàng phát hành. Loại Thư tín dụng này là phương thức thanh toán đảm
bảo quyền lợi cho người xuất khẩu nhưng người xuất khẩu đương nhiên phải
chịu một khoản phí xác nhận tương đối cao.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable
Without Recourse L/C): là loại Thư tín dụng không thể hủy ngang mà sau khi
người thụ hưởng đã được thanh toán tiền thì Ngân hàng phát hành không có
quyền đòi lại tiền người xuất khẩu trong bất cứ tình huống nào. Loại Thư tín
dụng này cũng được sử dụng rộng rãi trong TTQT.
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): là loại Thư tín
dụng không thể hủy ngang cho phép Ngân hàng trả tiền được quyền trả toàn
bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của
người hưởng lợi đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một
lần, chi phí chuyển nhượng do người thụ hưởng đầu tiên chịu trách nhiệm.
Loại L/C này áp dụng trong trường hợp người thụ hưởng đầu tiên
không có đủ số lượng hàng hóa để xuất khẩu hoặc không có hàng, họ chỉ là
người môi giới thương mại.
THƯƠNG MẠI
1.3.1. Khái niệm
Hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế: là một phạm trù hiệu quả kinh
tế phản ánh chất lượng kinh doanh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng thương mại. Nó được đo bằng hiệu số giữa doanh thu hoạt động thanh
toán quốc tế và chi phí hoạt động thanh toán quốc tế.
Hiệu quả hoạt động TTQT được thể hiện qua công thức sau:
H
ttqt
= D
ttqt
- C
ttqt
Trong đó:
H
ttqt
: Hiệu quả hoạt động thanh toán quốc tế
D
ttqt
: Doanh thu hoạt động thanh toán quốc tế
C
ttqt
: Chi phí hoạt động thanh toán quốc tế
Hiệu quả hoạt động TTQT trong cơ chế thị trường hiện nay không chỉ
đơn thuần ở việc đo lường hữu hình bằng hiệu số giữa doanh thu và chi phí
mà còn được đánh giá thông qua mối liên hệ giữa hoạt động TTQT và các
hoạt động khác, là hiệu quả mang lại do sử dụng dịch vụ TTQT làm đòn bẩy
để phát triển các hoạt động kinh doanh khác như: Tín dụng, kinh doanh ngoại
hối. Hơn thế nữa, nó còn là uy tín và mối quan hệ rộng lớn của NHTM trên
thương trường quốc tế, là thị phần hoạt động TTQT của NHTM, là hiệu quả
TTQT càng cao.
Ba là, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá qua việc góp phần tăng
cường và tạo hiệu quả kinh doanh ngoại hối:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, Ngân hàng bán ngoại tệ
cho khách hàng có nhu cầu thanh toán tiền hàng nhập khẩu, hoặc mua của
khách hàng có nguồn ngoại tệ thu về trong thanh toán hàng xuất. Khi nghiệp
vụ thanh toán XNK qua Ngân hàng ngày càng phát triển sẽ tạo điều kiện cho
hoạt động kinh doanh ngoại tệ nâng cao được doanh số. Như vậy, nhờ vào
hoạt động TTQT các Ngân hàng phát triển được hoạt động kinh doanh ngoại
tệ, tạo khả năng tăng doanh thu dịch vụ, đạt hiệu quả trong kinh doanh Ngân
hàng.
Bốn là, hiệu quả hoạt động TTQT được đánh giá thông qua việc làm
tăng và củng cố nguồn vốn cho Ngân hàng:
Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, mọi nguồn thu ngoại tệ từ nước ngoài
hoặc chi ngoại tệ để thanh toán cho nước ngoài, các NHTM phải thực hiện
thông qua tài khoản NOSTRO – Tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại nước ngoài.
Trong khi đó, hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng phát triển, doanh số
thanh toán hàng xuất càng cao thì nguồn ngoại tệ thu về trên tài khoản
NOSTRO càng lớn, số dư tiền gửi ngoại tệ của NHTM cũng sẽ tăng. Như
vậy, hoạt động TTQT đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tiền
gửi ngoại tệ ở nước ngoài. Đây chính là hiệu quả mà hoạt động thanh toán
quốc tế mang lại cho quá trình kinh doanh của Ngân hàng.
Năm là, hiệu quả mà hoạt động TTQT đem lại còn được đánh giá thông
qua sự phát triển mạng lưới Ngân hàng đại lý, phát triển quan hệ hối ngoại,
nâng cao uy tín của Ngân hàng:
Để quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh đối ngoại của mình
trên lĩnh vực thanh toán, bảo lãnh được nhanh chóng, an toàn và thuận lợi, các
Ngân hàng trong nước phải có quan hệ với các Ngân hàng đại lý ở nước
ngoài. Mối quan hệ này phải dựa trên cơ sở hợp tác và tương trợ. Với thời
gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ này ngày càng được mở rộng
tài chính đã gây vỡ nợ, phá sản một số doanh nghiệp hoặc Ngân hàng, sẽ tác
động đến hoạt động đến hoạt động TTQT: tiền hàng trong thanh toán XNK
hoặc vốn tín dụng không thu hồi được, nợ đọng…
- Sự ổn định của đồng tiền trong thanh toán: Nếu đồng tiền thanh toán
bị mất giá thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác xuất khẩu, nó làm cho hoạt
động xuất khẩu giảm sút. Ngược lại, nếu đồng tiền thanh toán tăng thì nó lại
làm giảm các hoạt động nhập khẩu. Chính sự bất ổn định của đồng tiền trong
thanh toán làm ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương, dẫn đến ảnh hưởng
tới hoạt động TTQT của các Ngân hàng. Do vậy, hoạt động TTQT khá nhạy
cảm với sự thay đổi về giá trị của đồng tiền trong thanh toán.
- Năng lực kinh doanh của khách hàng: Đối với lĩnh vực TTQT, khách
hàng của Ngân hàng là những doanh nghiệp kinh doanh XNK, có quan hệ
thương nhân với nước ngoài đòi hỏi họ phải là người năng động, có năng lực
và trình độ về TTQT và pháp luật nước ngoài.
b) Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động TTQT điển hình
như:
- Chính sách đối ngoại của Ngân hàng: Bao gồm các định hướng
chung trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, quan hệ đại lí với các ngân hàng
nước ngoài, phát triển hoạt động TTQT, đưa ra các quy trình nghiệp vụ
TTQT… Chính sách đối ngoại của Ngân hàng phải phù hợp với quan điểm,
đường lối phát triển kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
- Chính sách phát triển dịch vụ của NHTM: Nếu Ngân hàng chỉ quan
tâm đến các dịch vụ sẵn có mà không quan tâm đến phát triển các dịch vụ
mới sẽ đi dần vào lạc hậu, không theo kịp đà tiến bộ xã hội, không đủ khả
năng hội nhập và chắc chắn sẽ bị đào thải. Vì vậy, chính sách phát triển dịch
vụ phải nằm trong tổng thể chiến lược kinh doanh của Ngân hàng và phải bao
gồm dịch vụ TTQT. Một chính sách phát triển dịch vụ hấp dẫn, phù hợp với
yêu cầu của khách hàng sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng thu hút khách hàng.
Để thực hiện chính sách này, các Ngân hàng phải thực hiện đa dạng hóa
đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được thành lập ngày 06/05/1951.
Thực hiện chủ trương của Đảng, năm 1959 trên địa bàn Đông Anh
Ngân hàng Nhà nước Chi điếm Đông Anh được thành lập. Hoạt động của
Ngân hàng lúc bấy giờ thực chất là thay Ngân sách Nhà nước cấp phát vốn
tiền mặt cho đơn vị theo kế hoạch, hoạt động tín dụng mang tính bao cấp,
đồng vốn cho vay không tính đến hiệu quả kinh tế. Như vậy trong thời kì này,
Ngân hàng Đông Anh chưa phải là một Ngân hàng Thương Mại theo đúng
nghĩa của nó: là một tổ chức tài chính trung gian chuyên hoạt động về lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận
tiền gửi và cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế.
Đến khi Đảng và Nhà nước thực hiện bước chuyển mình, từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước (1986). Theo quyết định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 thì hệ thống Ngân
hàng là một cấp chuyển sang hệ thống Ngân hàng hai cấp. Ngân hàng cấp một
là Ngân hàng Nhà nước với chức năng điều hành quản lí vĩ mô. Ngân hàng
cấp hai là Ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh tiền tệ. Với sự
tách bạch này thì hệ thống ngân hàng thương mại thực sự ra đời. Sau đó với
quyết định số 53/HĐBT – NHNN Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chi điếm
Đông Anh đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Đông Anh (NHNo & PTNT Đông Anh) thuộc NHNo & PTNT
Thành phố Hà Nội. Năm 1996 có sự thay đổi về cơ chế quản lí và cấp điều
hành, NHNo & PTNT Đông Anh tách ra khỏi NHNo & PTNT Hà Nội. Và từ
đó đến nay, NHNo & PTNT Chi nhánh Đông Anh trực thuộc trung tâm điều
hành NHNo & PTNT Việt Nam.
Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của NHNo & PTNT Chi nhánh Đông
Anh là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân
hàng. Bên cạnh đó, NHNo & PTNT Chi nhánh Đông Anh còn phải bảo đảm
hoạt động được lành mạnh, an toàn có hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của
các cá nhân, tổ chức, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà
– ngân
quỹ
Phòng
thẩm
định
Phòng
hành
chính
-tổ
chức
Phòng
tín
dụng
Phòng
nguồn
vốn kế
hoạch
Phòng
kiểm
tra-
kiểm
toán
nội bộ
Phòng
Kinh
doanh
Ngoại
hối
Phòng
kinh
Thành tựu mà chi nhánh NHNo & PTNT Đông Anh đã đạt được trong
những năm qua có đóng góp rất lớn của hoạt động thanh toán quốc tế.
Sự phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của Chi nhánh trong những
năm qua gắn với sự tăng trưởng các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến ngoại tệ
như: kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế, thanh toán thẻ. Séc, chi trả kiều
hối, các lĩnh vực tài trợ thương mại phục vụ xuất nhập khẩu, góp phần tạo ra
sự thay đổi cả về chiều rộng và chiều sâu trong quan hệ với khách hàng nội
địa và quốc tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế năm 2007
Năm 2007 là năm thứ 8 chi nhánh thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc
tế. Hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh ngày càng được mở rộng và đi
vào chiều sâu, hoạt động thanh toán ngày càng đạt được hiệu quả cả về mặt
lượng lẫn chất. Thực hiện thanh toán cho các ngân hàng nước ngoài đúng thời
hạn cam kết, ngày càng có uy tín đối với các ngân hàng đại lý nước ngoài, với
khách hàng trong và ngoài nước.
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT ĐÔNG ANH
Hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT Việt Nam được tổ
chức theo mô hình quản lý vốn tập trung, xử lý nghiệp vụ tổng hợp. Trong đó
các Chi nhánh cấp I (bao gồm NHNo&PTNT Chi nhánh Đông Anh) được
phép trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Phòng Thanh toán
quốc tế của NHNo & PTNT Chi nhánh Đông Anh được thành lập vào ngày
01/04/2002. Mọi quy trình kĩ thuật nghiệp vụ TTQT được thực hiện theo
quyết định số 447/QĐ – NHNo – QHQT ngày 07/06/2001 về quy trình kĩ
thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam
và đến ngày 01/01/2006 thực hiện theo quyết định số 1998/QĐ – NHNo –
QHQT ngày 15/12/2005 về quy trình kĩ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế
trong hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.
2.2.1. Thanh toán chuyển tiền
Đây là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Chi nhánh. Mặc dù
vốn và Kinh doanh ngoại tệ - NHNo & PTNT Việt Nam. Căn cứ vào các bức
điện MT 103 được chuyển tới, lãnh đạo Phòng tiến hành kiểm tra nội dung
bức điện và in ra làm 02 bản chuyển bộ phận kế toán ngoại tệ hạch toán vào
tài khoản chỉ định trong bức điện cho người thụ hưởng. Đồng thời thông báo
bằng điện thoại, fax… cho khách hàng của Ngân hàng biết.
2.2.1.2. Thực trạng hoạt động thanh toán Chuyển tiền
Tại Chi nhánh, hoạt động thanh toán Chuyển tiền được coi là một
nghiệp vụ chiếm doanh số tương đối lớn (chỉ đứng sau hoạt động thanh toán
Tín dụng chứng từ), bao gồm thanh toán Chuyển tiền đi và thanh toán Chuyển
tiền đến. Hoạt động này cũng mang đến nguồn thu phí đáng kể cho Chi
nhánh.
* Thanh toán chuyển tiền đi
Hoạt động chuyển tiền đi chủ yếu là chuyển tiền thương mại (Thanh
toán TTR.TT).
Đối tượng khách hàng thanh toán chuyển tiền qua Chi nhánh đa số là
các DN cổ phần, DN nhà nước như : Công ty cổ phần XNK Hà Anh, Công ty
ô tô 1-5, Công ty xích líp Đông Anh, Công ty Đông Thành, Công ty TNHH
Vạn Lộc, Công ty TNHH SX & KD XNK Tuyên Quang, Công ty cổ phần In
sách giáo khoa Hà Nội để thanh toán tiền nhập khẩu hàng hóa dịch vụ.
Bảng 1.1 : Doanh số thanh toán tiền chuyển đi
Đơn vị: Quy 1000 USD
Chỉ tiêu
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm 2006
so với 2005
hối và một số ít là chuyển tiền thanh toán L/C hàng xuất khẩu. Doanh số cho
những món chuyển tiền đến thường là nhỏ.
Bảng 1.2 : Doanh số thanh toán chuyển tiền đến
Đơn vị: Quy 1000 USD
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Năm 2006
so với 2005
Năm 2007
so với 2006
Số món tiền chuyển đến 1218 1196 1341 0,98 lần 1,12 lần
Doanh số tiền chuyển đến 3,847 3,406 9,701 11,5% 184%
(Nguồn: Báo cáo hoạt động TTQT)
Qua bảng số liệu 1.2 cho ta thấy trong năm 2006 số món chuyển tiền
đến giảm 0,98 lần và doanh số là 3,406 nghìn USD giảm 11,5 % so với năm
2005. Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng xăng dầu trên thế giới đã ảnh
hưởng đến sự biến động chỉ số giá cả ở hầu hết các nước trên thế giới. Do đó
nguồn thu nhập của các cá nhân đi lao động ở nước ngoài gặp khó khăn hơn
và nguồn ngoại tệ gửi về bị hạn chế hơn. Đến năm 2007, số món tiền chuyển
đến đã tăng 1,12 lần so với năm 2006 và doanh số đạt 9,701 nghìn USD tức là
tăng so với năm 2006 184%. Để đạt được kết quả này, Ngân hàng No &
PTNT Chi nhánh Đông Anh đã không ngừng cố gắng thu hút khách hàng mới
và tạo dựng được uy tín trong và ngoài địa bàn. Và cũng bởi lẽ, môi trường
kinh doanh trong nước đã an toàn và rộng mở hơn trước kể từ khi Việt Nam
gia nhập WTO. Bước ngoặt này đã làm các nhà kinh doanh trong nước thấy
rằng không thể thụ động và chờ đợi sự bảo hộ của Nhà nước nữa, họ cần phải
khai thác những cơ hội mà WTO đem lại. Đồng thời những doanh nhân nước
ngoài cũng nhận thấy thị trường Việt Nam là một thị trường tiềm năng, cần
đầu tư để phát triển hơn.
Hoạt động chuyển tiền đến làm tăng nguồn thu nhập cho Chi nhánh, là
hoạt động không thể thiếu được trong quá trình thu hút nguồn vốn ngoại tệ