1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶNG HƢƠNG GIANG
VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƢỜI
NƢỚC NGOÀI TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2012
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN VỚI NGƢỜI NƢỚC
NGOÀI 13
1.1. Các khái niệm 13
1.1.1. Kết hôn 13
1.1.2. Kết hôn có yếu tố nước ngoài 15
1.1.3. Kết hôn kiểu truyền thống 18
1.1.4. Kết hôn kiểu hiện đại 21
1.2. Đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, Hiến pháp, pháp luật quy định về kết
hôn với ngƣời nƣớc ngoài 23
1.3. Thực trạng hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt Nam hiện nay 26
Tiểu kết chƣơng 1 29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI
NGƢỜI NƢỚC NGOÀI 30
2.1. Báo chí thông tin về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài 30
2.2. Giới thiệu về các báo khảo sát 32
2.2.1. Báo Phụ nữ Việt Nam 32
2.2.2. Báo Gia đình và Xã hội 33
2.2.3. Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh 33
CHÍ VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƢỜI NƢỚC NGOÀI 93
3.1. Bài học kinh nghiệm nghề nghiệp rút ra từ việc nghiên cứu đề tài 93
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lƣợng báo chí về vấn đề kết hôn với ngƣời nƣớc
ngoài của phụ nữ Việt Nam 97
3.2.1. Đối với cơ quan báo chí 97
3.2.2. Đối với các cơ quan chức năng 103
3.2.3. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong chiến dịch truyền thông. 104
3.2.4. Bản thân đương sự và gia đình họ 107
Tiểu kết chƣơng 3 110
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC BẢNG:
Bảng 1.1: Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tư pháp 26
Bảng 2.1: Mức độ tiếp nhận báo chí của chị em có nhu cầu lấy chồng nước ngoài 68
Bảng 2.2: Nhu cầu tìm hiểu thông tin của phụ nữ kết hôn với người nước ngoài 69
Bảng 2.3: Nguyên nhân phụ nữ không quan tâm đọc báo 70
Bảng 2.4: Các chủ trương, việc làm mà cấp uỷ đảng địa phương đã làm về vấn đề
phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài 77
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1: Cách thức kết hôn với người nước ngoài 37
hành hạ dã man, thậm chí dẫn đến cái chết thương tâm nơi đất khách quê người.
Ở Việt Nam, từ nhiều năm trước, dư luận xã hội và báo chí cũng đã nhiều
lần lên tiếng và cảnh báo trước hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài ngày càng gia tăng. Từ năm 1995 đến nay, hàng trăm bài báo ở Việt
Nam đã điều tra các đường dây tuyển các thôn nữ đem về thành phố Hồ Chí Minh
“nuôi nhốt” trong những phòng trọ, cho những người đàn ông lớn tuổi, tật nguyền
từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, đến tuyển lựa. Chưa kể hàng trăm bài báo
mô tả cảnh cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc bị ngược đãi,
làm vợ tập thể, phải trốn về nước. Tuy nhiên, không chỉ dư luận xã hội trong
nước mà dư luận xã hội ở nước ngoài cũng không tán đồng với những bài viết xúc
phạm nhân phẩm các cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài.
Các phương tiện truyền thông đại chúng không chỉ phản ánh thực trạng
8
đời sống hôn nhân có yếu tố nước ngoài, mà còn cho thấy quy trình của việc tuyển
chọn “cô dâu”. Bên cạnh đó, điểm nổi bật qua các bài viết trên phương tiện truyền
thông đại chúng cũng cho thấy đã có sự biến đổi về quan niệm, về giá trị hôn nhân
có yếu tố nước ngoài.
Hôn nhân với người nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay. Không thể duy ý chí trong việc muốn hay không muốn có hiện tượng
kết hôn với người nước ngoài. Đây là một vấn đề bình thường trong quá trình phát
triển, giao lưu và hội nhập kinh tế, văn hoá. Điều quan trọng là, làm thế nào để giảm
thiểu những rủi ro cho những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài? Vấn đề này phụ
thuộc một phần không nhỏ vào vai trò của báo chí trong việc truyền thông giúp
người dân (mà đặc biệt là đối tượng phụ nữ) có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc bản chất
của vấn đề trước khi đi đến những quyết định cho cuộc sống hôn nhân của mình.
Từ những lý do nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “ Vấn đề
phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay” (Khảo
sát Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Báo Gia đình và Xã hội
từ năm 2007- 2011), với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng tuyên truyền và
ngoài nảy sinh một số vấn đề tiêu cực: Thứ nhất là đã tạo ra một lực lượng môi
giới bất hợp pháp, kiếm lợi nhuận cao từ việc môi giới hôn nhân với người nước
ngoài. Thứ hai là đã có những tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng danh nghĩa
này để buôn bán phụ nữ Việt Nam sang nước thứ 3. Điều này đòi hỏi cần phải có
sự quản lý chặt từ phía các cơ quan nhà nước; Cuốn sách có tựa đề “Chuyện kể về
Hôn nhân giữa hai nền văn hóa” được xuất bản vào tháng 8/2009 của Tiến sĩ
người Úc gốc Việt Nathalie Huỳnh Châu Nguyễn mô tả quan điểm và kinh nghiệm
của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, đó là những cuộc hôn
nhân giữa hai người đến từ hai nền văn hóa khác biệt nhau. Những người phụ nữ
này sẵn sàng phản đối lại những khuôn mẫu dập khuôn về văn hóa và không chỉ
chọn người hôn phối là người ngoại quốc mà còn đưa ra những quyết định và lựa
chọn theo cách riêng của mình trong bối cảnh giao thoa văn hóa; Sách “Quan hệ
hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc
tế” của Tiến sĩ Nông Quốc Bình, xuất bản năm 2006 cũng phân tích và đánh giá
rất kỹ lưỡng đặc trưng phổ biến của những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài
trong giai đoạn hiện nay.
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội đã có nhiều
động thái tích cực nhằm ngăn ngừa các vi phạm và cải thiện tình hình kết hôn giữa
phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài. Hội đã tiến hành một nghiên cứu về
“Thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan: tại các tỉnh
10
Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang năm 2004, tổ chức Hội thảo quốc gia về vấn đề
“Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài” tại thành phố Hồ Chí Minh
tháng 6/2006 nhằm tìm giải pháp về vấn đề phụ nữ kết hôn với người nước ngoài
cùng nhiều hội thảo, diễn đàn cấp Trung ương và địa phương liên quan đến vấn đề
kết hôn với người nước ngoài.
Ba là, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí : Số chuyên đề của Tạp chí
Dân chủ và pháp luật thuộc Bộ Tư pháp về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 do TS. Đinh
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với
người nước ngoài trên báo in nhằm đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao
chất lượng truyền thông về vấn đề này trên báo chí, góp phần thay đổi nhận thức
và hành vi cho những đối tượng phụ nữ có ý định kết hôn với người nước ngoài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu về những vấn đề lý luận, thực tiễn,….có liên quan
đến đề tài.
- Khảo sát các tác phẩm báo chí về thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết
hôn với người nước ngoài trên Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí
Minh, Báo Gia đình và Xã hội (từ 2007- 2011).
- Tìm hiểu quan điểm của các cô dâu lấy chồng ngoại, của các nhà quản lý
báo chí, của một số quan chức nhà nước về chất lượng tác phẩm báo chí truyền
thông về vấn đề kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Phỏng vấn công chúng báo chí, các cô dâu lấy chồng ngoại, các nhà quản
lý báo chí, các quan chức nhà nước.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin
tuyên truyền về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo
chí.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài trên báo in.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng vấn
đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo in thông qua:
- Khảo sát Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Báo Gia
đình và Xã hội từ năm 2007- 2011.
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Kết hôn
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì kết hôn là việc “nam và nữ
chính thức lấy nhau làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật” [61, tr.178].
Theo quy định tại khoản 2, Điều 8 LHNGĐ năm 2000: “Kết hôn là việc
nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng (lấy nhau thành vợ, thành chồng) theo quy định
của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”[6, tr.2]. Dưới góc độ pháp
lý, kết hôn trước hết là quyền con người và quyền được pháp luật bảo vệ trên cơ sở
các quy định của pháp luật. Để bảo vệ quyền kết hôn của con người, pháp luật về
HNGĐ của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận quyền được kết hôn của
mọi người khi có đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, đồng thời việc tiến
hành kết hôn phải theo đúng các quy định của pháp luật.
Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy định trong bộ Luật Dân sự
năm 2005 (Điều 24, Điều 39) [2, tr.11], theo đó nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của pháp luật về HNGĐ có quyền tự do kết hôn, không bên nào
được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ
hoặc cưỡng ép kết hôn. Muốn kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí của
mình là mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng. Sự bày tỏ ý chí thể hiện trong
việc xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền, trong đó thể hiện rõ
ràng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau. Cơ quan có thẩm quyền
đăng ký kết hôn xem xét yêu cầu đăng ký kết hôn của nam nữ, nếu các bên chủ thể
có đủ điều kiện kết hôn thì tiến hành đăng ký việc kết hôn, ghi vào sổ kết hôn và
cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ. Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp
lý ghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, đồng
thời là cơ sở pháp lý để xác định chủ thể các quan hệ giữa vợ và chồng và là cơ sở
để xác định thời điểm phát sinh các quan hệ đó.
Kết hôn là cơ sở, tiền đề cho việc tạo ra gia đình- tế bào của xã hội. Pháp
luật điều chỉnh kết hôn là tổng thể các quy phạm điều chỉnh việc liên kết giữa nam
và nữ và nhằm xác lập nên quan hệ vợ chồng. Trong bất kỳ xã hội có giai cấp
Theo quy định tại Điều 758 Bộ Luật Dân sự năm 2005 “Quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ
quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là
các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên
tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản
liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [2, tr.216]. Việc xác định đó là quan hệ
hôn nhân có yếu tố nước ngoài là dựa vào yếu tố quốc tịch, sự kiện pháp lý làm
phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Như vậy, xét về mặt bản chất, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài cũng là
loại quan hệ dân sự, song, nó khác cơ bản với các quan hệ dân sự thông thường là
luôn có yếu tố nước ngoài và khi phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
thường dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật. Có thể thấy quan hệ HNGĐ có yếu
tố nước ngoài được quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2000 là sự vận
dụng Điều 758 Bộ LDS năm 2005 (Điều 826 của Bộ LDS năm 1996) và có thể
hiểu: quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài là quan hệ HNGĐ phát sinh giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường
trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài, hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài.
Theo đó, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài bao gồm các quan hệ:
- Quan hệ kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài.
- Quan hệ giữa cha, mẹ con có yếu tố nước ngoài.
- Quan hệ giám hộ có yếu tố nước ngoài.
- Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài.
Yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được hiểu:
Các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quốc tịch khác nhau (khoản 14a
Điều 8 LHNGĐ năm 2000).
Các bên chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý liên quan tới
thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa Kiều”. Trong quyết định số
122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước
ngoài cư trú, làm ăn sinh sống tại Việt Nam Điều 1 quy định: “Người nước ngoài
(gọi tắt là ngoại kiều) là những người cư trú và làm ăn sinh sống tại Việt Nam,
17
có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch”. Khái niệm người nước ngoài
cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tiếp theo, Điều 5 Luật Quốc
tịch Việt Nam 28/6/1988, khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt
Nam và người nước ngoài [26]. Tại Điều 9, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày
10/7/2002 về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài quy định “Người nước ngoài là
người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người
không quốc tịch” [7, tr. 3]. Như vậy, người nước ngoài trong trường hợp này phải
được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có một hoặc
nhiều quốc tịch nước ngoài nhưng không có quốc tịch của nước sở tại và người
không quốc tịch. Để tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, người
nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự trước hết là theo
pháp luật của nước mà người đó là công dân. Khi xác lập quan hệ dân sự ở nước sở
tại người có quốc tịch nước ngoài sẽ được pháp luật của nước mình mang quốc
tịch bảo hộ về mặt ngoại giao. Theo Điều 761 Bộ LDS Việt Nam năm 2005 thì
người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt
Nam (trừ các trường hợp ngoại lệ). Tuy nhiên, để người nước ngoài tham gia trực
tiếp vào quan hệ kết hôn thì họ phải có năng lực hành vi dân sự. Ở Việt Nam, năng
lực hành vi dân sự của người nước ngoài được quy định tại Điều 726 Bộ LDS Việt
Nam.
* Thứ hai, sự kiện pháp lý nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ
dân sự xảy ra ở nước ngoài.
Trong trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài đều là người Việt Nam nhưng căn cứ pháp lý làm phát sinh sự kiện này lại
xảy ra ở nước ngoài. Yếu tố này được áp dụng trong các trường hợp các bên có
Khi người Pháp vào Việt Nam, vấn đề hôn nhân không chỉ dừng lại ở gần
hay xa trong một làng, một vùng miền, mà đã vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia, vượt
ra ngoài vấn đề dân tộc và quốc tịch. Nhưng, với quan niệm phong kiến về lấy
chồng gần xa, văn hoá và phong tục xưa khinh thị những người lấy chồng Tây, gọi
những người lấy Tây là "me Tây" và thường không gần gũi với họ.
Xã hội Việt Nam trong hàng ngàn năm là một xã hội nông nghiệp, nền văn
hóa cũng là nền văn hóa nông nghiệp. Trong xã hội ấy, gia đình, họ hàng, làng mạc
tạo thành đơn vị xã hội cơ sở. Điều này ấn định một nguyên tắc ngàn năm gần như
bất di bất dịch – các giá trị gia đình và cộng đồng được đặt trên các giá trị cá nhân.
Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận và cho phép tạo ra những công
dân mới cho xã hội. Gia đình người Việt, trong đại đa số trường hợp là gia đình hạt
nhân (bố mẹ và con cái chưa trưởng thành). Ngoài ra còn có hình thức gia
19
đình nhỏ (bố mẹ và gia đình một con trai, thường là con trai trưởng). Tuy vậy,
trong từng làng, một “gia đình nhỏ” chỉ là thiểu số bên cạnh rất nhiều gia đình hạt
nhân. Do đó, hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai
người lấy nhau, mà là việc “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái.
Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ
giữa hai gia tộc. Vì vậy, điều cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân
cụ thể, mà lựa chọn một dòng họ, một gia đình, xem cửa nhà hai bên có tương
xứng không, có môn đăng hộ đối không. Tiếp theo, đối với cộng đồng gia tộc, hôn
nhân là một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển
nguồn nhân lực. Khi xem xét con người trong hôn nhân, người Việt Nam thường
quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ. Không chỉ duy trì dòng giống,
người con tương lai còn phải có trách nhiệm làm lợi cho gia đình. Con cái phải
đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng; con trai
phải giỏi giang, đem lại nguồn lợi tinh thần cho gia đình nhà vợ. Mối quan tâm
hàng đầu của người Việt Nam là sự ổn định của làng xã. Cũng nhằm tạo nên sự ổn
định, đã hình thành quan niệm chọn vợ chồng cùng làng: "ta về ta tắm ao ta, dù
(tên đọc chệch đi của bánh phu thê): Bánh phu thê hình tròn bọc bằng hai khuôn
hình vuông úp khít vào nhau. Đó chính là biểu tượng của triết lí âm dương (vuông
tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng nhân đậu vàng, rắc vừng đen, khuôn lá xanh,
buộc lạt đỏ), biểu tượng cho sự vẹn toàn, hòa hợp của đất trời và của con người.
Khi nhắc tới thân phận phụ nữ trong chế độ phong kiến, nhiều người
thường liên tưởng đến hình ảnh “con cò” đã được dân gian ví von như chính
số phận long đong của những người đàn bà thời xưa: “Cái cò lặn lội bờ sông. Gánh
gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”. Họ là những con người luôn phải chịu thiệt thòi
trong cuộc sống và đối diện với nhiều bất công của xã hội chỉ vì họ mang phận gái
mỏng manh dưới chế độ nam quyền. Từ thuở sinh thời, họ không được phép đến
trường học chữ nhưng phải thấm nhuần triết lý Nho giáo bao gồm “tam tòng” và
“tứ đức”. Ở đây “tam tòng” là ba điều mà người phụ nữ cần phải theo: “tại gia tòng
phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng,
chồng chết theo con). Trong khi đó “tứ đức” là bốn đức tính căn bản mà mỗi một
người con gái xưa cần phải có như công, dung, ngôn, hạnh (nghĩa là làm việc khéo
léo, sắc diện hoà nhã, nói năng nhẹ nhàng, tính nết nhu mì). Đây là những chuẩn
mực đạo đức mà cha ông ta luôn trân trọng và cố gắng phát huy. Một người phụ nữ
được người xưa đánh giá là đoan trang và ngoan hiền chỉ khi nào người ấy có đầy
đủ những phẩm hạnh trên. Chính những nét đẹp này đã tạo nên hình tượng người
con gái Việt Nam duyên dáng mà khi nhìn vào, các nước lân bang thời đó
21
phải thầm khen ngợi và nể phục.
1.1.4. Kết hôn kiểu hiện đại
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt với bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay, song song với việc phát triển kinh tế một cách mạnh
mẽ là sự xuất hiện của một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, như xuất khẩu lao
động, các đường dây buôn bán ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em….trong
đó hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài đang thực sự là một vấn đề
nóng bỏng và cấp bách được dư luận xã hội quan tâm chú ý.
cảm của phụ nữ….
“ Mai mối” là một tập tục truyền thống có từ lâu đời ở các nước châu Á.
Nhưng mai mối ở đây, đúng nghĩa là mai mối, chứ không bị lợi dụng như là một
công cụ để ép duyên. Ở đây đôi bên tự quyết định các bước tiếp theo sau khi bà
mối mối lái cho cặp đôi nam và nữ. Tuy nhiên, đó là cái thời xa xưa, hiện nay môi
giới hôn nhân nói chung và môi giới kết hôn với người nước ngoài nói riêng luôn
có tính hai mặt. Mặt tích cực là tạo điều kiện cho hai bên có điều kiện làm quen,
tiếp xúc và tìm hiểu “nhân thân” của nhau. Đó cũng là những yếu tố cần thiết để
hình thành giai đoạn tiền hôn nhân, nhất là trong xã hội công nghiệp.
Mặt trái của môi giới kết hôn với người nước ngoài là áp đặt, cung cấp
những thông tin sai lệch cho khách hàng để kiếm lời. Họ tìm mọi cách để thành
công với mục đích kiếm được tiền, bất kể việc cung cấp thông tin sai, lừa dối đôi
bên dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm nhiều gia đình tan vỡ, trong đó người
chịu ảnh hưởng nhiều nhất, thiệt thòi nhất là người phụ nữ. Hoạt động của các loại
hình công ty môi giới hôn nhân như vậy chính là cơ sở cho việc thiết lập các mối
quan hệ đầu tiên dẫn đến nhiều quan hệ phức tạp khác do kiểu hôn nhân này đem
lại.
Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 5,2 người/hộ (1997)
xuống còn 4,5 người/hộ (1999). Tỉ lệ gia đình ly hôn, ly thân ngày càng gia tăng.
Sự sùng bái đồng tiền đã phá hoại không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong
gia đình. Sự giao lưu kinh tế thông qua xuất khẩu có khả năng làm năng động hoá
các giá trị Việt Nam xưa vốn xem nặng tình nghĩa và nhẹ về lợi, tạo nên sự cạnh
tranh mới trong cái hệ thống: dĩ hoà vi quý.
Quá trình toàn cầu hoá cũng tạo ra những sự va đập giá trị, "sự đụng độ của
những nền văn minh". Hội nhập kinh tế, văn hoá khiến cho gia đình giờ đây cũng
biến thành một đối tác để hợp tác. Những tư tưởng gia trưởng, phụ quyền giờ đây
dần đã không tồn tại nữa thay vào đó là sự bình đẳng, dân chủ trong gia đình. Sự
tan rã của gia đình nhiều thế hệ, xuất hiện xung đột thế hệ, những rạn nứt
23
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, hướng các quan hệ này phù hợp với các
chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
24
bảo đảm mục tiêu xây dựng gia đình bền vững, ổn định, tránh tình trạng lợi dụng
việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán, bóc lột phụ nữ, Nhà nước ta đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ này, trong đó phải kể đến
Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/2/2002
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia
đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP
ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP
ngày 10/2/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn
nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Bộ Tư pháp ban hành
Thông tư số 07/ 2002/TT-BTP ngày 16 tháng 12 năm 2002 Hướng dẫn thi hành
một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về
quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
Luật Hôn nhân và gia đình nghiêm cấm việc kết hôn giả tạo, lừa dối để kết
hôn, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi (Điều 4); nghiêm cấm lợi dụng việc kết
hôn có yếu tố nước ngoài để mua bán, bóc lột sức lao động của phụ nữ, xâm phạm
tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác (Điều 103). Để ngăn ngừa việc lợi dụng kết
hôn có yếu tố nước ngoài để mua bán phụ nữ, Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị
định 68/2002/NĐ-CP quy định khá cụ thể và chặt chẽ về điều kiện kết hôn, hồ sơ
đăng ký kết hôn, thủ tục, trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn cũng như hoạt
động hỗ trợ kết hôn.
Để công khai hoá việc đăng ký kết hôn, tạo điều kiện phát hiện những
trường hợp không đủ điều kiện kết hôn, Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định niêm
yết việc kết hôn trong 07 ngày liên tục tại trụ sở Sở Tư pháp và tại Uỷ ban nhân
dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân
Việt Nam. Trong thời hạn này, nếu có khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện có hành vi
điều chỉnh hầu hết quan hệ HNGĐ phát sinh trên thực tế. Hiệu lực của các văn bản
pháp luật có giá trị cao. Nếu như trước đây quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài
chỉ được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật thì hiện nay các quan hệ đó được
điều chỉnh bằng các văn bản có giá trị pháp lý rất cao (LHNGĐ năm 1986, năm
2000). Nghiên cứu nội dung của các văn bản này cho thấy, pháp luật nước ta
không có sự phân biệt và hạn chế nào đối với người nước ngoài khi tham gia vào
quan hệ hôn nhân (QHHN) nói chung và việc kết hôn có yếu tố nước ngoài nói
riêng. Các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết điều chỉnh QHHN có yếu tố nước
ngoài ngày càng gia tăng về số lượng. Các điều ước quốc tế và văn bản pháp luật
trong nước đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều chỉnh QHHN có
26
yếu tố nước ngoài trong điều kiện đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Nhà
nước ta.
1.3. Thực trạng hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt
Nam hiện nay
Từ năm 2003, trào lưu nam giới ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc sang
Việt Nam tìm vợ bắt đầu phổ biến khiến dư luận xã hội phải quan tâm về tính chất
vụ lợi của hiện tượng này.
Theo Báo cáo của Bộ Công an tổng hợp từ báo cáo của các địa phương trên
toàn quốc, từ năm 1998 đến nay, cả nước có 272.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với
công dân của trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung
đông là các quốc gia: Trung Quốc chiếm 10,86%, Đài Loan chiếm 30%, , Mỹ
chiếm 13,87%, Hàn Quốc 12,8%, … Chỉ tính riêng số lượng phụ nữ kết hôn với
người nước ngoài thì năm 2005 có 21.771 người, năm 2006: 20.019 người, năm
2007 có 19.226 người, năm 2008 có 13.661 người.
Theo số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tư pháp số lượng
khai sinh, đăng ký kết hôn và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng,
cụ thể:
Bảng 1.1: Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tƣ pháp
chồng nước ngoài có cuộc sống ổn định. Họ đã quảng bá được hình ảnh tốt đẹp