KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÌ MỤC ĐÍCH KINH TẾ - THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TƯ PHÁP QUỐC TẾ CẦN GIẢI QUYẾT
NGUYỄN QUỐC CƯỜNG
Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính tư pháp
Bộ Tư pháp Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự phát triển của tiến bộ xã hội, tự do kết hôn đã trở thành một giá trị cơ bản
của quyền con người. Chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, trải qua 3 lần lập pháp,
đều nhất quán khẳng định mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững làm nền tảng cho sự phát triển của tiến
bộ xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng
toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, đời sống hôn nhân và gia đình Việt Nam đang
đứng trước sự phát sinh những hiện tượng hôn nhân không bình thường của việc lợi
dụng quyền tự do kết hôn nhằm hướng đến các quan hệ lợi ích. Trong đó, hiện tượng
kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế với những động thái rõ nét biểu hiện
trong khoảng một thập kỷ qua có thể coi là ví dụ điển hình về sự tác động tiêu cực của
mặt trái kinh tế thị trường đối với quan hệ hôn nhân. Đây thực sự là một vấn đề xã hội
phức tạp trong sự quan tâm của dư luận xã hội cũng như các cơ quan quản lý nhà
nước, đồng thời cũng đặt ra những vấn đề cần xem xét, giải quyết từ giác độ tư pháp
quốc tế.
II. THỰC TRẠNG KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÌ MỤC ĐÍCH KINH TẾ
1. Tổng quan: Bối cảnh và tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam từ
năm 1995 đến nay
Năm 1995 được coi là dấu mốc quan trọng trong sự vận động, phát triển của các hiện
tượng hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam bởi đây là năm đầu tiên thực hiện
Nghị định số 184/CP ngày 30/11/1994 của Chính phủ quy định chi tiết về thủ tục đăng
ký kết hôn, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
– văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam quy định thống nhất thủ tục pháp lý để xác
lâp các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, vốn là các quan hệ dân sự
rất nhạy cảm và có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng. Văn bản này là sự cụ thể
hoá chính sách đối ngoại rộng mở và quan điểm tôn trọng, bảo hộ các quan hệ hôn
Trung Quốc, đồng thời thực hiện “chính sách hướng Nam”, trong đó tập trung các hoạt
động đầu tư, thương mại vào Việt Nam nên xu hướng lấy vợ là người nước ngoài của
nam giới Đài Loan có sự chuyển dịch sang Việt Nam. Tuy nhiên chỉ từ năm 1995 thì
hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan mới tăng nhanh tại Thành phố
Hồ Chí Minh, đồng thời lan rộng ra các tỉnh phía Nam. Thống kê theo số liệu đăng ký
kết hôn đã được giải quyết thì trong thời gian 8 năm (1995-2002) đã có 55.765
trường hợp đăng ký kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan, chiếm 86,2%
tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và 48,1% tổng số công dân
Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người
Đài Loan tăng mạnh trong thời gian 3 năm từ năm 2000 đến năm 2002, chiếm 68%
tổng số trường hợp đã được đăng ký kết hôn trong 8 năm. Số trường hợp phụ nữ Việt
Nam kết hôn với người Đài Loan của từng năm và diễn biến tình hình 8 năm qua cụ
thể như sau:
Năm 1995: 1.365 trường hợp
Năm 1996: 2.754 trường hợp
Năm 1997: 3.248 trường hợp
Năm 1998: 4.506 trường hợp
Năm 1999 : 7.179 trường hợp
Năm 2000: 12.419 trường hợp
Năm 2001: 11.771 trường hợp
Năm 2002: 12.523 trường hợp
Số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan tập trung chủ yếu tại 12 tỉnh,
thành phố phía Nam: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Nai, Đồng
Tháp, An Giang, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sóc Trăng. Số
lượng giải quyết tại 12 tỉnh nói trên chiếm 89% tổng số đã giải quyết trên toàn quốc
trong 8 năm qua, trong đó riêng số lượng giải quyết tại Thành phố Hồ Chí Minh chiếm
22% và tỉnh Cần Thơ chiếm 17% tổng số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan
trên cả nước.
Từ cuối năm 2002 đến nay tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Đài Loan có
xu hướng giảm mạnh tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đồng thời vẫn tiếp tục tăng
đến tâm lý phổ biến là hy vọng việc kết hôn với người Đài Loan sẽ giúp thay đổi hoàn
cảnh sống và tạo điều kiện giúp đỡ gia đình bớt khó khăn về kinh tế. Không ít chị em
quyết định kết hôn với người nước ngoài trong tình trạng gia đình đang túng quẫn,
thiếu nợ. Trong tình trạng ấy, viẹc kết hôn với người nước ngoài để có ngay một khoản
tiền là biện pháp duy nhất được chọn lựa để giúp gia đình giải quyết ngay những khó
khăn trước mắt.
Vì sự hứa hẹn của những lợi ích kinh tế nên cũng có không ít những trường hợp phụ
nữ tuy hoàn cảnh sống không khó khăn, thậm chí khá giả nhưng vẫn lựa chọn việc kết
hôn với người Đài Loan. Kết quả nghiên cứu chọn mẫu về hoàn cảnh sống của phụ nữ
lấy chồng Đài Loan tại một số xã nơi bùng phát “làn sóng” kết hôn với người Đài Loan
những năm gần đây như sau:
o Tại xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh có tổng số 122 phụ nữ kết hôn
với người Đài Loan, trong đó: 34% xuất thân nghèo (42/122), 16% xuất thân
hoàn cảnh sống trung bình (19/122), 43% xuất thân hoàn cảnh sống khá giả
(53/122), 7% xuất thân từ các hộ giàu (8/122);
o Tại xã An Hoà (huyện Trảng Bàng) có 60 trường hợp phụ nữ kết hôn với
người Đài Loan, trong đó: 38% xuất thân nghèo (23/60), 37% xuất thân hoàn
cảnh sống trung bình (22/60), 12% xuất thân hoàn cảnh sống khá giả (7/60),
3% xuất thân từ các hộ giàu (2/60).
c. Về phía nam giới Đài Loan: Việc kết hôn với phụ nữ Việt Nam không tốn nhiều
chi phí, phù hợp với khả năng tài chính của số đông chàng rể Đài Loan thuộc tầng
lớp công nhân, nông dân hoặc thị dân nghèo. Chi phí trung bình để kết hôn với phụ
nữ Việt Nam chỉ tốn từ 7.000 đến 8.000 USD, trong khi để kết hôn với phụ nữ Đài
Loan hoặc phụ nữ Trung Quốc đại lục chi phí này tốn gấp nhiều lần. Mức thu nhập
khiêm tốn của bộ phận nam giới Đài Loan thuộc tầng lớp công nhân, nông dân hoặc
thị dân nghèo khiến họ rất khó khăn để tìm được bạn đời bản xứ, trong khi chỉ với
một khoản chi phí không quá tốn kém (so với mức thu nhập tại Đài Loan) thì nếu
tới Việt Nam họ có thể dễ dàng kết hôn với một phụ nữ có nhiều ưu điểm thu hút sự
lựa chọn của nam giới Đài Loan như: hình thức ưa nhìn, khoẻ mạnh, có khả năng
sinh con duy trì nòi giống, chịu khó lao động, không đòi hỏi nhiều về vật chất.
Việc kết hôn diễn ra vội vã, chóng vánh:
Chỉ một bộ phận nhỏ phụ nữ Việt Nam có điều kiện trực tiếp quen biết, có thời gian
tìm hiểu trước khi đi đến quyết định kết hôn với người Đài Loan. Phần lớn các trường
hợp kết hôn với người Đài Loan, thời gian từ khi nam giới Đài Loan lần đầu tiên gặp
mặt và đồng ý chọn người phối ngẫu cho đến khi làm đám cưới và hoàn thành thủ tục
đăng ký kết hôn rất ngắn, trong khoảng thời gian đó cô dâu chỉ gặp được chú rể vài
lần. Thông qua hoạt động môi giới, chú rể Đài Loan chủ động lựa chọn cô dâu Việt
Nam còn cô dâu Việt Nam không có điều kiện tìm hiểu về người sẽ kết hôn với mình.
Kết quả phỏng vấn 44 phụ nữ đang làm thủ tục đăng ký kết hôn với người Đài Loan
cho thấy tính đến thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn 60% cô dâu Việt Nam mới chỉ
gặp mặt người chồng Đài Loan được 2 lần (chủ yếu là một lần gặp mặt làm quen và
một lần đến nhận làm lễ đăng ký kết hôn), 14% chỉ mới gặp nhau một lần, 12% gặp
nhau ba lần và 14% gặp nhau nhiều lần.
Về tính tự nguyện trong việc xác lập quan hệ hôn nhân:
Do sự thúc đẩy của lợi ích kinh tế nên khi quyết định kết hôn với người Đài Loan, mặc
dù ý thức rõ là cuộc hôn nhân đó không xuất phát từ tình yêu thực sự nhưng nhiều
phụ nữ vẫn khẳng định sự tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân đó trước cơ quan đăng
ký kết hôn. Ngay cả khi được tuyên truyền, giải thích về những khó khăn và hậu quả
bất lợi có thể xảy đến với một cuộc hôn nhân vội vã, thiếu hiểu biết, sự chênh lệch về
độ tuổi rất cao giữa người vợ và người chồng nhưng chị em vẫn khẳng định sự tự
nguyện kết hôn của mình để cơ quan đăng ký kết hôn không có cơ sở từ chối việc
đăng ký quan hệ hôn nhân đó.
Về độ bền của quan hệ hôn nhân
Do kết hôn vội vã, thiếu hiểu biết vì mục đích kinh tế nên một bộ phận cô dâu Việt
Nam sau khi sang Đài Loan sống không hoà hợp với chồng đưa đến tình trạng nhiều
cặp vợ chồng Đài – Việt nhanh chóng ly hôn chỉ sau một thời gian ngắn chung sống.
Vấn đề bất bình thường nổi lên là hầu hết các cuộc hôn nhân Đài – Việt không thành
công có độ bền rất ngắn và đa số giải quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng hình
thức thoả thuận ly hôn tại cơ quan hộ tịch. Kết quả thống kê ngẫu nhiên về độ bền
của 188 trường hợp ly hôn bằng phương thức “đăng ký ly hôn” (theo pháp luật Đài