ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ HIỆP LIÊN KẾT CÁC HỆ THỐNG NGUỒN LỰC DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG NHẰM HỖ TRỢ GIÁO DỤC CHO
HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TÁI ĐỊNH CƢ
VÙNG LÒNG HỒ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG
(Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh - huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào
cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư
vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm
Hóa – Tuyên Quang) là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Hoàng Thu Hương và những kết quả nghiên cứu ở trong luận
văn này là hoàn toàn trung thực.
Ngày 15 tháng 08 năm 2014 Tác giả luận văn
Mai Thị Hiệp LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội
với đề tài: “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo
dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên
Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang), bên
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa của nghiên cứu: 7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: 8
6. Câu hỏi nghiên cứu: 9
7. Giả thuyết nghiên cứu: 9
8. Phương pháp nghiên cứu 10
NỘI DUNG CHÍNH 13
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu: 13
1.2 Các khái niệm công cụ: 15
1.2.1 Liên kết: 15
1.2.2 Nguồn lực dựa vào cộng đồng 16
1.2.3 Giáo dục và hỗ trợ giáo dục 17
1.2.4 Học sinh: 18
1.2.5 Gia đình: 18
1.2.6 Tái định cư: 19
1.3 Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng 19
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 22
1.4.1 Bối cảnh địa bàn xã Phúc Thịnh: 22
1.4.2 Khái quát về công tác TĐC dự án thủy điện Tuyên Quang tại xã Phúc Thịnh 25
Chƣơng 2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA NHÓM
HỌC SINH THUỘC CÁC HỘ GIA ĐÌNH TĐC TẠI XÃ PHÚC THỊNH. 30
2.1 Khái quát về điều kiện sống của các hộ gia đình TĐC. 30
2.1.1 Một số đặc điểm về tổ chức cuộc sống, hòa nhập cộng đồng của các hộ
gia đình TĐC 30
2.1.2 Tình trạng nghèo khó của các hộ gia đình TĐC 32
các hộ gia đình TĐC 73
3.3.1 Nguồn lực vật chất và khả năng tài chính của địa phương 777
3.3.2 Các thiết chế, tổ chức chính trị - xã hội: 80
3.3.3 Nguồn nhân lực: 833
3.4 Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho
học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC 877
3.4.1 Cách thức tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu: 877
3.4.2 Hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực: 888
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 999
1. Kết luận: 99
2. Khuyến nghị: 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1044
PHỤ LỤC 1077
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT:
- CTXH: Công tác xã hội
- PHHS: Phụ huynh học sinh
- PVS : Phỏng vấn sâu
- TĐC : Tái định cư
- THCS: Trung học cơ sở
- THPT: Trung học phổ thông
- UBND : Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1.1:
Các cách thức tiếp cận trong phát triển cộng đồng
20
Các nhu cầu do nhóm học sinh xác định
70
Bảng 3.3:
Thứ tự các nhu cầu ưu tiên do nhóm học sinh xác định
71
Bảng 3.4:
Bảng tổng hợp sắp xếp thứ tự ưu tiên các nhu cầu do 04
nhóm xác định
71 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nghèo với trên 20 dân tộc anh em cùng
sinh sống như Tày, Nùng, Dao, H'Mông Theo các số liệu báo cáo, thống kê của
tỉnh thì hiện nay tại Tuyên Quang còn rất nhiều các hộ gia đình thuộc diện hộ
nghèo, hộ cận nghèo và các hộ gia đình dân tộc thiểu số có điều kiện sống khó
khăn. Do đó, học sinh thuộc các hộ gia đình này còn gặp rất nhiều vấn đề khó khăn,
thiếu thốn và nhiều nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng.
Đặc biệt tại một số địa phương trong tỉnh còn một bộ phận dân cư là các gia
đình thuộc vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại địa phương mới để
phục vụ cho việc xây dựng nhà máy thủy điện Tuyên Quang. Theo kết quả thống kê
của ban di dân thì tổng số có 4.193 hộ, 20.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88
thôn bản, tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na
Hang (nơi xây dựng thủy điện Tuyên Quang). Việc di dời, TĐC tại nơi ở mới kéo
theo rất nhiều những thay đổi về phong tục, tập quán, nguồn sinh kế, lối sống, môi
trường, văn hóa, giáo dục
Thực tế cho thấy đời sống của các hộ gia đình sau TĐC gặp khó khăn về
nhiều mặt: việc làm, thu nhập, học hành của con em các hộ gia đình, việc học nghề
thu nhập và ổn định cuộc sống hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì quá
trình di cư này cũng đã để lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho xã hội. Trước hết, vấn đề
di cư đã gây xáo trộn dân cư cho cả nơi xuất cư và nhập cư, đồng thời việc di cư từ
nông thôn lên thành phố tăng nhanh kéo theo các vấn đề về việc làm, nhà ở, các
công trình công cộng cùng với nhiều tệ nạn xã hội khác. Đây là những vấn đề bức
xúc cho toàn xã hội. Trước những thực trạng đó, đã có rất nhiều nhà khoa học đã
tiến hành các nghiên cứu về vấn đề di cư trong nước để đưa ra những biện pháp hữu
hiệu nhất cho sự phát triển bền vững. Cho đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều
những công trình nghiên cứu khoa học về di dân. Nhìn chung, những công trình này
đã nghiên cứu di dân trên nhiều lĩnh vực.
3
Trước hết phải kế đến những nghiên cứu đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất
về di dân ở Việt Nam. Đầu tiên là nghiên cứu “Di dân của người Việt từ thế kỷ X
đến thế kỷ XIX” của Đặng Thu được đăng trên phụ san tạp chí nghiên cứu lịch sử,
Hà Nội, khoa học xã hội, năm 1993; hay nghiên cứu của Guest, Philip về “Động lực
di dân nội địa ở Việt Nam” năm 1998; và cũng phải kể đến nghiên cứu “Nghiên cứu
di dân ở Việt Nam” do Đỗ Văn Hòa – Trịnh Khắc Thẩm cùng tiến hành nghiên cứu
vào năm 1999. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ xoay quanh những
vấn đề như : Nguyên nhân, thực trạng, hệ quả của di cư, đặc biệt là những nghiên
cứu về nguyên nhân chỉ mới xem xét trên góc độ kinh tế việc làm mà chưa đề cập
nhiều đến những tác động về mặt văn hoá - xã hội hay vai trò của mạng lưới xã hội
trong quá trình di dân.
Về sau đã có thêm nhiều nghiên cứu về di cư xem xét đến những góc độ
khác như ảnh hưởng của yếu tố văn hóa – xã hội đối với di cư. Nổi bật trong số đó
là nghiên cứu: “Vai trò của mạng lưới xã hội trong di dân” của tác giả Đặng nguyên
Anh, đăng trên tạp chí xã hội học số 2 năm 1998. Có thể nói mạng lưới xã hội là
một nhân tố quan trọng quyết định đến toàn bộ quá trình di cư. Ảnh hưởng của
mạng lưới xã hội đối với di cư khác nhau theo đặc điểm cá nhân và hộ gia đình,
cũng như khác biệt giữa nam và nữ. Do đó, nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã
độc giả là các tổ chức chính phủ và phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát
triển đô thị. Đồng thời, các kết quả nghin cứu cũng sẽ là cơ sở để trung tâm hành
động vì sự phát triển Đô thị xây dựng nên các chương trình hỗ trợ người nghèo ổn
định TĐC.
Những năm gần đây nước ta có nhiều công trình có quy mô lớn như thuỷ
điện Sơn La, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An), thuỷ điện Tuyên
Quang đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ
đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá của cộng đồng. Đời sống của các hộ
gia đình sau khi di dời, TĐC tại nơi ở mới tồn tại rất nhiều vấn đề cần được nghiên
cứu, xem xét. Chính vì vậy trong nước đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá riêng liên
quan đến nhóm hộ gia đình di dân do các dự án thủy điện
Trước hết là một số nghiên cứu, đánh giá, bài viết chung về thực trạng đời sống
5
của các hộ dân sau khi TĐC tại nơi ở mới, như nghiên cứu “Chính sách di dân tái
định cư các công trình thuỷ điện ở việt nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” của
PGS.TS. Đặng Nguyên Anh được đăng trên tạp chí DS&PT (số 6/2007). Nghiên
cứu đưa ra cái nhìn chung nhất về thực trạng công tác TĐC tại các dự án thủy điện,
những khó khăn trong quá trình quy hoạch và công tác chuyển dân; đồng thời đề
cập đến một số vấn đề về cơ chế quản lý và chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC; đề
xuất một số giải pháp khắc phục được các bất cập nói trên và đảm bảo di dân TĐC
bền vững.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu nhằm tìm hiều thực trạng, nhu cầu và
giải quyết một số vấn đề, khía cạnh riêng của nhóm gia đình sau khi di dân- TĐC
của các dự án thủy điện. Điển hình nhất là các nghiên cứu về sinh kế, nhằm điều tra,
đánh giá, tìm hiểu các thông tin về hoạt động kinh tế, nguồn thu nhập… như nghiên
cứu “sinh kế của cộng đồng dân tái định cư vùng lòng hồ sông Đà, huyện Phù Yên,
tỉnh Sơn La” của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1,
nghiên cứu đã thực hiện điều tra đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội, tìm các thông
tin về kinh tế hộ gia đình, nguồn thu nhập từ nông nghiệp hay khai thác nuôi trồng
hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015. Tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất cho các trường học để trẻ em nói chung và trẻ em con
hộ nghèo, cận nghèo và hộ dân tộc thiêu số nghèo nói riêng có điều kiện học tập
thuận lợi; ưu tiên đầu tư trước cho các cơ sở trường, lớp học ở các xã nghèo, thôn,
bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới, mở rộng “Quỹ khuyến
học” các cấp…con em một số hộ gia đình TĐC cũng được áp dụng chính sách giáo
dục đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Đề tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng
nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ
thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thinh – Chiêm Hóa – Tuyên
Quang), mặc dù không phải là một vấn đề nghiên cứu hoàn toàn mới nhưng có thể
nhận thấy một số điểm khác biệt đối với các đề tài nghiên cứu về di dân, di cư và
TĐC trước đây như sau:
7
Thứ nhất là sự khác biệt về khách thể nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành
với nhóm học sinh dân tộc thiểu số thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy
điện Tuyên Quang.
Thứ hai, là khác biệt về đối tượng nghiên cứu, đây là nghiên cứu tập trung
đến việc hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện được trình độ học vấn, giải quyết những vấn
đề khác tồn tại trong học đường đối với nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC.
Thứ ba, hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng được xây dựng bằng cách
khai thác, sử dụng chính những nguồn lực sẵn có trong cộng đồng để trợ giúp.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu:
3.1 Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu giúp cho việc ứng dụng một số lý thuyết của xã hội học,
tâm lý học và đặc biệt là công tác xã hội vào quá trình nghiên cứu và thực hành.
Với đặc trưng của ngành công tác xã hội, đề tài nghiên cứu còn là cơ hội để
ứng dụng các kỹ năng công tác xã hội và các kỹ thuật công tác xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề xuất hoạt động liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm
hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC.
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tuợng nghiên cứu:
Liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các
hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang (Nghiên cứu trường hợp học
sinh thuộc các hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã
Phúc Thịnh - Chiêm Hóa - Tuyên Quang).
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
tại hai thôn: An Thịnh và An Quỳnh thuộc xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh
Tuyên Quang.
Các nguồn lực hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vùng
lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, bao gồm:
- Các hộ gia đình TĐC có con em trong độ tuổi đi học
9
- Các hộ gia đình bản địa tại xã Phúc Thịnh
- Chính quyền và các ban, đoàn thể xã Phúc Thịnh; cán bộ 02 thôn An Thịnh
và An Quỳnh (xã Phúc Thịnh)
- Nhà trường
- Ban di dân, TĐC huyện Chiêm Hóa.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hỗ trợ giáo
dục giúp cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khó khăn trong học
đường cho học sinh thuộc các gia đình TĐC vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang.
Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp học sinh thuộc các
hộ gia đình vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại xã Phúc Thịnh -
Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2014 - tháng 8/2014
trình nghiên cứu.
8.2 Phương pháp thu thập thông tin:
8.2.1 Phương pháp quan sát:
Mục đích của phương pháp quan sát:
- Quan sát môi trường sống, sinh hoạt của nhóm học sinh và các hộ gia đình
TĐC nhằm tìm hiểu thực trạng, điều kiện sống, các mối quan hệ; điều kiện và hoạt
động học tập của nhóm học sinh.
- Quan sát tại trường học nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập, sự hòa
đồng và các mối quan hệ của nhóm học sinh với bạn bè và thầy cô giáo.
Địa điểm quan sát:
- Quan sát tại gia đình các hộ TĐC; quan sát tại buổi họp thôn
- Quan sát tại trường học (bao gồm trường Tiểu học Phúc Thịnh và trường
THCS Phúc Thịnh).
Cách thức tiến hành quan sát: quan sát không tham dự; nhiều lần.
8.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu:
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích nắm rõ được các số liệu về số
lượng các hộ di dân- TĐC, số hộ nghèo, cận nghèo; số lượng học sinh; thực trạng
11
đời sống, các hoạt động hỗ trợ đối với nhóm học sinh và các hộ gia đình TĐC; đồng
thời thông qua các tài liệu của nhà trường nắm được thực trạng hoạt động học tập
của nhóm học sinh.
Các nguồn tài liệu chính được sử dụng để phân tích: các chương trình, quyết
định, báo cáo công tác di dân của Tỉnh Tuyên Quang; báo cáo tổng của ban di dân
TĐC huyện Chiêm Hóa; báo cáo, theo dõi của xã Phúc Thịnh, các biên bản họp
thôn; báo cáo của nhà trường…
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Mục đích của phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin về thực trạng
đời sống của các hộ gia đình TĐC; thực trạng hoạt động học tập của nhóm học sinh
thuộc các hộ gia đình TĐC, nắm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập của
nhóm học sinh và gia đình. Sử dụng trong thảo luận nhóm với cán bộ
- Bảng sắp xếp các vấn đề ưu tiên giải quyết:
Phương pháp xác định:
Chuẩn bị: Giấy Ao, bút viết, giấy A4
Sau khi mỗi nhóm xác định được các nhu cầu, viết lại các nhu cầu lên giấy
A0, đặt kí hiệu A, B, C, D cho từng nhu cầu. Sau đó diền các nhu cầu vào các
mảnh giấy nhỏ đã chuẩn bị sẵn theo các kí hiệu ở trên, phát cho những người tham
gia thảo luận nhóm để họ cho điểm các nhu cầu theo thứ tự lựa chọn ưu tiên
- Điểm được xác định sẵn dựa trên từng mức độ mong muốn thứ tự 1, 2, 3, 4,
5 Sau khi những người tham gia thảo luận nhóm đã lựa chọn xong, thu lại mảnh
giấy đó và cộng điểm. Từ tổng điểm xác định được thứ tự ưu tiên các nhu cầu. Đây
chính là cách thức để có được bảng sắp xếp thứ tự các vấn đề cần ưu tiên giải quyết
do mỗi nhóm xác định.
13
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu:
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu:
Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng. Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ tạo nên
cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển. Ngược lại nếu không được đáp ứng
thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn đến những hậu quả nhất định. Nhu cầu
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): nhu cầu được hoàn
thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình…[20].
Nhìn chung với nghiên cứu về hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia
đình TĐC trước hết cần tìm hiểu kỹ những vấn đề tồn tại đối với nhóm trẻ. Qua đó
xác định được những nhu cầu còn thiếu của các em, từ những nhu cầu vật chất cơ
bản nhất đến nhu cầu được hòa nhập, nhu cầu phát triển được thể hiện bản thân. Vì
đây là giai đoạn các em cần được đáp ứng đầy đủ các điều kiện để việc phát triển
được hoàn thiện nhất, đặc biệt là phát triển trí tuệ.
1.1.2 Lý thuyết hệ thống:
Đây là một thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm chỉ cho
thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực
nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập. Bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến
cái tổng thể và mang tính hoà nhập. Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá
nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả
mãn được cuộc sống riêng. Do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống
như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối tượng.
Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại [26, tr.192-193]: “Hệ
thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để
hoạt động thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ
15
thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ. Có rất nhiều cách phân loại hệ
thống, theo tính chất thì công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:
- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự
nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp
- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các tổ
chức công đoàn….
- Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học…
Hay phân loại theo cấp độ thì hệ thống cũng được chia làm ba cấp độ:
- Vĩ mô: Cá nhân
- Nguồn lực tự nhiên: Tài nguyên thiên nhiên (khoảng sản, đất đai, rừng,
nước, khí hậu…); vị trí địa lý (đường bộ, đường thủy, đường không)
- Nguồn lực vốn: nội lực (ngân sách nhà nước, đóng góp của nhân dân);
ngoại lực (đầu tư thông qua con đường hợp tác chính phủ)
Hay theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn lực con người
là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, phẩm chất, đạo đức, trình độ
tri thức, vị thế xã hội… tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng có thể sử
dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong các
hoạt động xã hội khác.
Thứ hai là khái niệm “cộng đồng”: Khái niệm cộng đồng rất mở và phong
phú, ít khi bị giới hạn bởi địa lý. Đây là một khái niệm rất quan trọng, cần được
hiểu rõ trước khi sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng kế
hoạch hỗ trợ cho nhóm đối tượng. Có một số định nghĩa khác nhau về cộng đồng
như sau:
1)Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không
chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc bởi các đặc điểm và
lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên.
[21, tr.43].