1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LẠI PHƢƠNG DUNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
VỀ BẠO LỰC HỌC ĐƢỜNG
(Nghiên cứu trường hợp trường THPT Lương Ngọc Quyến và
trường THPT Dương Tự Minh, TP Thái Nguyên, Thái Nguyên) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2014 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
3.1. Ý nghĩa khoa học 24
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 24
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 25
4.1. Mục đích nghiên cứu 25
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 25
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 26
5.1. Đối tượng nghiên cứu 26
5.2. Khách thể nghiên cứu 26
5.3. Phạm vi nghiên cứu 26
6. Câu hỏi nghiên cứu 26
7. Giả thuyết nghiên cứu 26
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 27
9. Khung lý thuyết 29
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 30
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 30
4
1.1. Cơ sở lý luận 30
1.1.1. Một số khái niệm công cụ 30
1.1.2. Phương pháp luận 36
1.1.3. Một số lý thuyết xã hội học 37
1.1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên 41
1.2. Cơ sở thực tiễn 43
CHƢƠNG 2. VẤN ĐỀ BẠO LỰC HỌC ĐƢỜNG TẠI TRƢỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 47
2.1. Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về bạo lực học đƣờng 47
2.1.1. Nhận thức về hình thức và đối tượng của bạo lực học đường 47
2.1.2. Nhận thức về nguyên nhân của bạo lực học đường 51
2.1.3. Nhận thức về hậu quả của bạo lực học đường 56
2.1.4. Nhận thức về các biện pháp phòng ngừa 58
Biểu 2.1: Tƣơng quan về hành vi bạo lực theo trƣờng 67
Biểu 2.2: Các hình thức cụ thể của bạo lực trong nhà trƣờng 67
Biểu 2.3: Nguyên nhân gây ra bạo lực …………………………………… 77
Biểu 2.4: Mức độ quan tâm của cha mẹ đối với con cái 83
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trƣờng học là một trong những môi trƣờng xã hội hóa quan trọng của
cá nhân, là nơi trang bị những kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên và xã
hội và những kiến thức văn hóa chủ yếu làm nền tảng cho cuộc sống sau này.
Tuy nhiên hiện nay, môi trƣờng học đƣờng đang bị “ô nhiễm” nghiêm trọng.
Hiện tƣợng bạo lực học đƣờng xuất hiện ngày một nhiều và phổ biến trong
môi trƣờng học đƣờng. Đây là một vấn đề nhức nhối không chỉ với nền giáo
dục Việt Nam mà còn với nhiều nền giáo dục trên thế giới.
Trên thế giới, bạo lực học đƣờng đƣợc nhiều ngƣời coi là đã trở thành
một vấn đề nghiêm trọng trong những thập kỷ gần đây. Theo thống kê, mỗi
năm có 6 triệu em trai và 4 triệu em gái có liên quan trực tiếp đến bạo lực học
đƣờng. Tại Nam Phi, Cao uỷ Nhân quyền Nam Phi đã thấy rằng 40% trẻ em
đƣợc phỏng vấn nói rằng chúng từng là các nạn nhân của tội phạm tại trƣờng
học. Tại Anh, năm 2007 có hơn 7,000 trƣờng hợp cảnh sát đƣợc gọi tới để
giải quyết các vụ bạo lực trƣờng học. Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ cho
thấy cứ 7 phút lại có một trẻ em bị bắt nạt. Cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận
đã bị bắt nạt. Và cứ 5 trẻ, có một trẻ thừa nhận đã từng bắt nạt những trẻ khác.
Một cuộc thăm dò thực hiện ở trẻ có độ tuổi 12-17 cho kết quả các em đều
thừa nhận bạo lực đang gia tăng ở trƣờng học của mình [29].
Những năm gần đây ở Việt Nam, dƣ luận xã hội lên tiếng khá nhiều về
học sinh nhƣ một hình thức hiệu quả để dạy cho các em đang theo học ở đây
tiến bộ [32]. Trên đây chỉ là hai ví dụ về hiện tƣợng bạo lực học đƣờng ở
trung tâm giáo dục thƣờng xuyên và trung tâm bồi dƣỡng kiến thức tƣ nhân,
8
còn đối với những trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Thái Nguyên có xảy
ra hiện tƣợng bạo lực học đƣờng không?
Hiện nay, hiện tƣợng bạo lực học đƣờng đã đƣợc đề cập ở trên các
phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣng chủ yếu chỉ trên phƣơng diện các bài
báo, phóng sự. Việc nghiên cứu vấn đề bạo lực học đƣờng một cách bản chất,
toàn diện còn ít công trình đề cập. Do đó, việc nghiên cứu nhận thức, thái độ
và hành vi của học sinh THPT về vấn đề bạo lực học đƣờng là cần thiết và có
ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THPT về bạo lực học đường”
(Nghiên cứu trường hợp trường THPT Dương Tự Minh và THPT Lương Ngọc
Quyến, TP Thái Nguyên). Trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp
nhằm ngăn chặn và đẩy lùi hiện tƣợng bạo lực trong nhà trƣờng.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Về bạo lực ở giới trẻ
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, bạo lực ở giới trẻ là một trong
những hình thức bạo lực dễ thấy nhất trong xã hội và ngày càng gia tăng trong
những thập niên gần đây. Trên thế giới, báo chí và các phƣơng tiện truyền
thông đề cập hàng ngày thông tin về bạo lực của các băng nhóm, trong trƣờng
học và của giới trẻ trên đƣờng phố. Các nạn nhân và thủ phạm chính của bạo
lực ở khắp mọi nơi, có thể là trẻ vị thành niên hoặc thanh thiếu niên trẻ tuổi.
Những cái chết hoặc những cuộc tấn công liên quan đến bạo lực đã góp phần
làm gia tăng tỉ lệ chết trẻ, bị thƣơng và tàn tật trên toàn cầu.
Bạo lực ở giới trẻ liên quan đến những hành vi có hại có thể bắt đầu từ
rất sớm và tiếp tục vào tuổi trƣởng thành. Một thanh niên có thể là nạn nhân,
Năm 2000, ƣớc tính có 199.000 thanh thiếu niên trẻ bị giết trên toàn thế
giới (9,2 ngƣời/100.000 dân). Hay nói một cách khác, trung bình có 565 trẻ
em, trẻ vị thành niên hoặc thanh niên trẻ tuổi từ 10-29 tuổi chết mỗi ngày do
hậu quả của bạo lực giữa các cá nhân. Tỉ lệ ngƣời chết khác nhau giữa các
khu vực, từ 0,9/100.000 dân ở những nƣớc có thu nhập cao nhƣ Châu âu và
một phần của Châu Á Thái Bình Dƣơng đến 17,6/100.000 dân ở Châu Phi và
36.4/100.000 dân ở các nƣớc Mỹ La tinh [23].
Tính đơn vị từng nƣớc, ngoại trừ Mỹ, phần lớn những nƣớc có tỉ lệ tử
vong do bạo lực cao (từ 10/100.000 dân trở lên) chủ yếu là các nƣớc đang
phát triển hoặc những nƣớc có những biến động về kinh tế và xã hội (Salvado
tỉ lệ này là 84,4/100.000 dân; ở Pueto Rico là 41,8/100.000 dân, Nga là
18/100.000 dân và ở Mỹ là 11/100.000 dân). Những nƣớc có tỉ lệ tử vong do
bạo lực thấp chủ yếu ở Tây Âu (Pháp là 0.6/100.000 dân, con số này ở Đức là
0,8, ở Anh là 0.9). Còn ở Châu Á có Nhật Bản (0,4/100.000). Ở những nƣớc
này có ít hơn 20 vụ giết ngƣời một năm. Nghiên cứu này cũng cho thấy những
cái chết liên quan đến bạo lực xảy ra ở nam nhiều hơn với nữ giới.
Bên cạnh những hậu quả dẫn đến chết ngƣời, bạo lực ở giới trẻ cũng
xảy ra ở những hành vi nhƣ bắt nạt, tát, hoặc sử dụng vũ lực dẫn đến bị
thƣơng. Ở trƣờng hợp này, bạo lực xảy ra ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Một
nghiên cứu ở Eldoret, Kenya cho thấy tỉ lệ nạn nhân là nam giới so với nữ
giới là 2,6:1. Một nghiên cứu khác ở Jamaica là 3:1 và ở Na Uy là 4,5:1. Tỉ lệ
bạo lực gây chấn thƣơng có xu hƣớng tăng nhanh ở độ tuổi từ thanh thiếu
niên đến thanh niên. Một cuộc điều tra ở Johannnesburg, Nam Phi cho thấy
3,5% nạn nhân của bạo lực ở độ tuổi 13 hoặc ít hơn trong khi ở độ tuổi từ 14-
21 là 21,9% và từ 22-35 tuổi là 52,3%. Tỉ lệ này cũng tƣơng tự ở Brazil,
Chile, Colombia, Costa Rica, El Salvador và Venezuela. Nghiên cứu cũng
11
cho thấy ở hành vi bạo lực này ít sử dụng đến súng mà chủ yếu sử dụng nắm
tâm của gia đình; thành tích học tập không tốt và hoàn cảnh gia đình nghèo
khó [15].
Bạo lực học đường
Bạo lực học đƣờng là bạo lực ở giới trẻ xảy ra tại trƣờng học, trên
đƣờng đến trƣờng, từ trƣờng hay trong một sự kiện do trƣờng bảo trợ.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, tình trạng bạo lực học đƣờng đang là
vấn nạn toàn cầu, nó đã trở thành vấn đề không chỉ của riêng giới giáo dục mà
của toàn xã hội khi mức độ ảnh hƣởng của nó ngày càng lan rộng và hậu quả
ngày càng nghiêm trọng.
Nghiên cứu của WHO cho thấy những cuộc đánh nhau bằng chân tay
xảy ra phổ biến ở trẻ em độ tuổi đi học ở nhiều nơi trên thế giới. Khoảng một
phần ba học sinh cho biết có tham gia vào các cuộc đánh nhau, tỉ lệ này ở nam
gấp 2-3 lần nữ giới. Bắt nạt cũng là phổ biến ở trẻ em độ tuổi đi học. Trong
một nghiên cứu về hành vi sức khỏe ở những trẻ em trong độ tuổi ở 27 nƣớc,
đa số trẻ ở độ tuổi 13 tuổi ở hầu hết các nƣớc đã tham gia vào bắt nạt ít nhất
một vài lần. Ngoài các hình thức tấn công, bắt nạt và đánh nhau cũng có thể
dẫn đến các hình thức nghiêm trọng hơn của bạo lực. Việc mang vũ khí là
một hành vi có nguy cơ dẫn đến bạo lực và đây còn là một hoạt động chủ yếu
của nam thanh niên trong độ tuổi đi học. Ở Cape Town, Nam Phi, 9,8 % học
sinh nam và 1,3 % học sinh nữ trong các trƣờng trung học cho biết có mang
dao đến trƣờng trong vòng 4 tuần trƣớc. Ở Scotland, 34,1 % nam giới và 8,6
% nữ giới trong độ tuổi 11-16 nói rằng họ đã mang theo vũ khí ít nhất một lần
13
trong suốt cuộc đời của họ và đối với những ngƣời nghiện ma túy có nhiều
khả năng hơn ngƣời không sử dụng ma túy. Ở Hà Lan, 21% học sinh trung
học cơ sở thừa nhận sở hữu 1 vũ khí và 8% đã thực sự mang vũ khí đến
trƣờng. Tại Hoa Kỳ, một cuộc khảo sát quốc gia đối với học sinh từ lớp 9-12
thì thấy rằng 17,3% đã mang theo một vũ khí trong vòng 30 ngày trƣớc và
tăng 6,9% đã mang vũ khí đến trƣờng học [23].
• 5,4% cho biết đã từng mang theo vũ khí (súng, dao) một hoặc nhiều
ngày trong 30 trƣờng ngày trƣớc cuộc điều tra.
• 7,4% cho biết đã bị đe dọa hoặc bị thƣơng do vũ khí tại khuôn viên
trƣờng một hoặc nhiều lần trong 12 tháng trƣớc điều tra.
• 20% cho biết đã từng bị bắt nạt tại trƣờng học và 16% cho biết bị bắt
nạt trên mạng trong 12 tháng trƣớc điều tra.
Ở Châu Âu, vấn đề ngăn chặn bạo lực học đƣờng đƣợc quan tâm từ rất
sớm. Hiện tƣợng bạo lực học đƣờng xảy ra thƣờng xuyên ở trƣờng tiểu học,
liên quan tới khoảng 15% học sinh. Ở trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh bị bắt
nạt là 3-10% với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13-14. Đến cấp THPT, nạn
bạo lực học dƣờng bắt đầu có xu hƣớng giảm đi [25].
Ở Vƣơng Quốc Anh, trung bình một ngày xảy ra khoảng 40 vụ gây gổ
buộc cảnh sát phải can thiệp. Trong năm học 2007, cảnh sát buộc phải xuất
hiện tại trƣờng học hơn 7300 lần nhƣng thực sự trên toàn nƣớc Anh, bạo lực
học đƣờng có thể lên đến hơn 1000 vụ do khoảng 1/3 nhân viên cảnh sát quên
cập nhật dữ liệu. Đó là kết quả của cuộc khảo sát gần đây do Đảng Bảo thủ
15
công bố trong lúc lo ngại về nạn nhân bạo lực học đƣờng đang tăng cao. Số
liệu trên đƣợc tổng hợp từ 25/39 đồn cảnh sát trung tâm của nƣớc Anh.
Không chỉ có vậy, số học sinh bị đuổi học vì bạo lực học đƣờng cũng gia
tăng. Năm 2006, hơn 1000 trẻ chỉ mới 5 tuổi hoặc ít hơn bị đuổi học vì bạo
lực gia tăng. Tính tổng cộng, số học sinh dƣới 16 tuổi bị đuổi học vì tấn công
bạn cùng trƣờng là 65390 vụ, tăng khoảng 2720 vụ chỉ trong 1 năm [3].
Ở Đức, trung bình mỗi ngày các trƣờng học ở nƣớc này xảy ra khoảng
50 vụ gây gổ, buộc cảnh sát phải can thiệp. Số học sinh bị đuổi học do đánh
nhau cũng gia tăng. Năm 2008, có khoảng 60.000 học sinh tham gia, tăng
2.500 em so với năm trƣớc. Hơn thế, “bạo lực băng đảng” trên đƣờng phố
cũng đang ngấm dần vào các trƣờng học. Năm 2002, một vụ nổ súng ở trƣờng
học cƣớp đi mạng sống của 14 giáo viên, 2 học sinh và 1 cảnh sát tại thành
2-3 lần. Để ngăn ngừa nạn bạo lực học đƣờng, cùng với việc thi hành luật,
ngƣời dân nƣớc này cũng đã tham gia nhiều cuộc vận động nâng cao nhận
thức về bạo lực học đƣờng, tƣ vấn cũng nhƣ các biện pháp khác nhằm hỗ trợ
các nạn nhân là học sinh. Hệ thống cảnh sát học đƣờng cũng đƣợc tăng cƣờng
để chống lại nạn bạo lực trƣờng học đang gia tăng và ngăn chặn tội phạm vị
thành niên. Công việc của những cảnh sát này là giám sát bạo lực trƣờng học,
tƣ vấn cho học sinh, phụ huynh và giáo viên, đồng thời bảo vệ các nạn nhân.
Hơn 70 trƣờng học Hàn Quốc đã áp dụng hệ thống này nhằm xóa sổ bạo lực
học đƣờng [8].
Tại Nhật, theo một nghiên cứu của Chính phủ Nhật Bản, nạn gây hấn
với bạn trong các trƣờng học Nhật Bản đã tăng hơn 5% trong năm 2003 so
với năm trƣớc đó. Sách trắng về thanh thiếu niên thống kê 23.351 vụ bắt nạt
trong các trƣờng tiểu học và trung học công lập cùng với trƣờng khiếm thính,
khiếm thị và khuyết tật khác trong năm 2003. Con số này vƣợt hơn năm trƣớc
17
1.046 vụ, tăng 5.16%. Các vụ bắt nạt trong trƣờng học lên tới đỉnh điểm vào
năm 1995 với 60.069 vụ. Trong một cuộc khảo sát của Bộ Giáo dục Nhật
Bản, báo cáo đã chỉ ra rằng học sinh ở các trƣờng công lập tham gia vào một
số lƣợng kỷ lục các sự cố bạo lực trong năm 2007 là 52.756 trƣờng hợp, gia
tăng 8.000 vụ so với năm trƣớc. Trong đó, giáo viên là mục tiêu của gần 7000
cuôc tấn công. Tính đến thời điểm năm học kết thúc vào ngày 31/3/2008, số
vụ bạo lực do học sinh gây ra ở nƣớc này đã tăng 18%, nâng tổng số vụ bạo
lực học đƣờng lên 53.000 vụ, trong đó số vụ liên quan tới học sinh tiểu học
tăng 37%, nâng tổng số vụ bạo lực học đƣờng ở học sinh tiểu học lên tới
5.124 vụ [26].
Trƣớc tình hình bạo lực học đƣờng diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, đã
có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Năm 2008, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật tại Mỹ đã tổ
chức một cuộc khảo sát mang tên: "Hiểu biết về bạo lực học đƣờng". Nghiên
quan với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ và bạn bè
đã đƣợc khảo sát. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ về hành vi bắt nạt
ngƣời khác hoặc đã từng bị bắt nạt ở trƣờng học ít nhất một lần trong 2 tháng
gần đây là 20,8% về mặt thể chất, 53,6% bằng lời nói, 51,4% về mặt xã hội
và 13,6% trên internet. Các bạn trai dính líu nhiều hơn vào bắt nạt thể chất
hoặc bằng lời nói, trong khi các bạn gái thƣờng liên quan đến các kiểu bắt nạt
khác. Các bạn nam có xu hƣớng là ngƣời đi bắt nạt qua mạng, trong khi các
bạn gái có xu hƣớng là nạn nhân của hiện tƣợng bắt nạt đó. Thanh thiếu niên
Mỹ gốc Phi đã tham gia bắt nạt nhiều hơn về mặt thân thể, lời nói hoặc qua
mạng nhƣng lại ít trở thành nạn nhân của những bắt nạt bằng lời nói. Nghiên
cứu cho thấy nếu có sự hỗ trợ nhiều hơn của cha mẹ thì thanh thiếu niên ít
19
dính líu đến tất cả các hành vi bắt nạt nói trên. Ngoài ra, việc thanh thiếu niên
có nhiều bạn bè sẽ liên quan đến việc bắt nạt nhiều hơn và cũng ít bị bắt nạt
hơn về những hình thức nhƣ thể chất, bằng lời nói và quan hệ trừ hình thức
bắt nạt qua mạng.
Qua những nghiên cứu trên cho thấy bạo lực học đƣờng thực sự đã trở
thành vấn nạn trên thế giới. Hình thức của nó có thể là bạo lực về mặt tinh
thần hoặc bạo lực về mặt thể chất, ở đây có thể là những cuộc đánh nhau bằng
tay chân hay có thể có vũ khí thô sơ hoặc thậm chí cả súng. Hậu quả để lại có
thể là gây thƣơng tích trên cơ thể. Một số các thƣơng tích là tƣơng đối nhỏ,
bao gồm nhƣ vết bầm tím, xây xát hoặc gãy xƣơng. Một số thƣơng tích khác
nặng hơn nhƣ vết thƣơng do đạn bắn và chấn thƣơng đầu, nghiêm trọng hơn
có thể dẫn đến tàn tật vĩnh viễn hoặc tử vong. Tuy nhiên, không phải tất cả
chấn thƣơng có thể nhìn thấy. Bạo lực ở giới trẻ cũng nhƣ ở trƣờng học có thể
dẫn đến một loạt các biểu hiện và hậu quả sức khỏe tiêu cực, bao gồm cả việc
sử dụng rƣợu, ma túy và tự tử. Trầm cảm, lo lắng và nhiều vấn đề tâm lý khác
(bao gồm sợ hãi) có thể dẫn đến từ bạo lực học đƣờng
Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng bạo lực học đƣờng
phạm pháp luật hình sự. Số vụ phạm pháp tăng gần 4.300 vụ, bằng 6,72% so
với 6,5 năm trƣớc đó. Nhƣ vậy, trong 6 năm qua, bình quân mỗi năm có trên
10.000 vụ án, với hơn 15.000 đối tƣợng là trẻ vị thành niên phạm tội. Bình
quân mỗi ngày xảy ra trên 30 vụ án với gần 40 đối tƣợng. Con số này cũng
tƣơng đƣơng với số vụ tai nạn giao thông và số ngƣời chết vì tai nạn giao
thông hàng năm và hàng ngày. Còn theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát Thi
hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp (Bộ Công an), từ năm 2002 đến tháng
21
6/2013, 4 trƣờng giáo dƣỡng gồm Trƣờng giáo dƣỡng số 2 - Ninh Bình; số 3 -
Đà Nẵng; số 4 - Đồng Nai và số 5 - Long An đã tiếp nhận 21.836 ngƣời chƣa
thành niên vi phạm pháp luật. Tính đến hết tháng 6/2013, 4 trƣờng giáo
dƣỡng nói trên đang quản lý 2.834 học sinh, trong đó có 70 em là nữ. Trong
số những học sinh vi phạm pháp luật nói trên, có tới 40,7% các em đã từng bị
nhà trƣờng thi hành kỷ luật cảnh cáo hoặc đuổi học, hơn 85% số em nghiện
thuốc lá, thuốc lào, gần 60% thích xem phim đồi trụy, phim đen, 33% em
thích uống rƣợu, bia [27].
Trƣớc tình hình đó, bên cạnh những thông tin về bạo lực học đƣờng
đƣợc đề cập nhiều trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, cũng đã có một
số nghiên cứu, các bài báo khoa học quan tâm nghiên cứu về vấn đề này.
Bài viết của tác giả Phan Mai Hƣơng về "Thực trạng bạo lực học
đường hiện nay" đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế (tháng 8/2009)
đã trình bày khảo sát của tác giả về thực trạng bạo lực học đƣờng bằng
phƣơng pháp phân tích tài liệu và các tài liệu thứ cấp đƣợc công bố trên diễn
đàn. Qua phân tích tài liệu, tác giả đã chỉ ra rằng bạo lực học đƣờng ngày một
gia tăng, không chỉ ở các thành phố lớn mà phổ biến trên khắp các tỉnh thành
trong cả nƣớc. Đối tƣợng của bạo lực học đƣờng ngày càng đa dạng, bao gồm
nam sinh, nữ sinh và cả thầy cô giáo. Bạo lực học đƣờng ngày một đa dạng về
kiểu loại và phong phú về biểu hiện. Ngoài ra, bài viết cũng đƣa ra một số
nguyên nhân và giải pháp nhằm đẩy lùi tình trạng bạo lực nhƣ sự quan tâm
đƣờng nhƣ nâng cao nhận thức của học sinh về vấn đề này; xây dựng môi
trƣờng sống lành mạnh, ít bạo lực; học sinh cần đƣợc học kỹ năng sống để có
những cách ứng phó hiệu quả khi xảy ra hành vi bạo lực.
23
Tác giả Lê Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên với nghiên cứu về “Nguyên
nhân dẫn đến bạo lực học đường” tại trƣờng THCS Lê Lai, Quận 8, TP Hồ
Chí Minh đã chỉ ra nhận thức của các em học sinh THCS về hành vi bạo lực.
Các đối tƣợng nghiên cứu đều cho rằng hành vi bạo lực học đƣờng là những
hành vi nhƣ kết thành nhóm, đe dọa bạn bè, đánh nhau hay đánh nhau có sử
dụng hung khí. Đa số các đối tƣợng cho rằng hành vi chửi nhau, hành vi hiếp
dâm không phải là bạo lực học đƣờng. Ngoài ra, các đối tƣợng nghiên cứu
cho rằng bạo lực học đƣờng ảnh hƣởng đến thể chất nhƣ gãy tay, gãy
chân và ảnh hƣởng đến tinh thần và xã hội của nạn nhân nhƣ lo lắng, sợ sệt,
tƣ tƣởng không ổn định. Qua nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các em có hành
vi bạo lực luôn muốn chứng tỏ mình. Ba mẹ các em thƣờng la rầy, đánh đập
mỗi khi các em sai phạm và ba mẹ có thái độ xúi giục các em thực hiện hành
vi bạo lực khi bị ngƣời khác xúc phạm, anh chị thì không quan tâm đúng cách
đến các em. Nhà trƣờng chƣa tổ chức đƣợc chƣơng trình phòng chống bạo lực
học đƣờng và không đồng nhất trong cách xử lý các hành vi sai phạm của các
em, đôi khi nhà trƣờng còn dùng hành vi bạo lực đối với các em.
Một nghiên cứu khác của tác giả Ông Mai Thƣơng đã tiến hành nghiên
cứu về “Hành vi bạo lực trong nữ sinh THPT” năm 2008 khảo sát trên 200
học sinh tại 2 trƣờng thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Đề tài nghiên cứu đã chỉ
ra nhận thức của học sinh về vấn đề bạo lực và nguyên nhân xuất hiện bạo
lực. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của
học sinh nhƣ thiếu sự quan tâm của gia đình, ảnh hƣơng của phƣơng tiện
truyền thông đại chúng… Đến năm 2012, tác giả tiếp tục nghiên cứu vấn đề
này ở khía cạnh “Tác động của các nhóm không chính thức đến hành vi bạo
lực thể chất trong học sinh THPT” ở trƣờng THPT trên địa bàn thành phố
Tìm hiểu, đánh giá những quan niệm, thái độ và hành vi của học sinh
THPT về vấn đề bạo lực học đƣờng, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến
hành vi bạo lực của học sinh THPT.
Kết quả nghiên cứu giúp gia đình, nhà trƣờng và cộng đồng xã hội hiểu
rõ vai trò quan trọng của mình trong việc giáo dục nhận thức cho học sinh
THPT; giúp các nhà quản lý, nhà khoa học tham khảo, đƣa ra những biện
pháp cũng nhƣ phƣơng án ngăn ngừa hiện tƣợng bạo lực học đƣờng, giúp học
sinh THPT có kiến thức toàn diện hơn về vấn đề này.
Kết quả nghiên cứu đề tài này cũng là tài liệu có giá trị tham khảo cho
những ngƣời đang quan tâm tới vấn đề bạo lực trong học đƣờng và việc bảo
vệ chăm sóc giáo dục trẻ em.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đo và đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi của học
sinh THPT về bạo lực học đƣờng, giải thích nguyên nhân của bạo lực học
đƣờng, từ đó đƣa ra những giải pháp trong công tác quản lý, giáo dục nhận
thức, lối sống cho học sinh THPT.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá nhận thức của học sinh THPT về bạo lực học đƣờng
Tìm hiểu thái độ của học sinh THPT đối với hiện tƣợng bạo lực học đƣờng
Tìm hiểu hình thức, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực học đƣờng
Xây dựng một số khuyến nghị về định hƣớng giáo dục cho học sinh
THPT và các nhóm biện pháp về gia đình, phƣơng tiện truyền thông, quản lý
nhằm giảm hiện tƣợng bạo lực học đƣờng.