2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỒNG THỊ THƢƠNG HIỀN
TĂNG CƢỜNG THƢƠNG LƢỢNG
TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
(Nghiên cứu trƣờng hợp hai doanh nghiệp: Công ty TNHH Quốc tế
D&S và Công ty TNHH Brother Việt Nam) Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trƣơng An Quốc HÀ NỘI - 2011
8
4.3. Phạm vi nghiên cứu
8
4.4. Mẫu nghiên cứu
8
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
8
5.1. Phương pháp luận chung
8
5.2. Phương pháp nghiên cứu
10
6. Giả thuyết nghiên cứu
11
7. Khung lý thuyết
12
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
13
1.1.1. Các nghiên cứu ở ngoài nước
13
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
15
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu đề tài
20
1.2.1. Lý thuyết hành động xã hội
20
1.2.2. Lý thuyết tương tác biểu trưng
nghiên cứu
45
2.1.1. Công ty DS
45
2.1.2. Công ty Brother
47
2.2. Thực trạng thƣơng lƣợng trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
48
2.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của hai doanh nghiệp và QHLĐ trong hai
doanh nghiệp
48
2.2.2. Tình hình lao động, việc làm trong hai doanh nghiệp
51
2.2.3. Nội dung thương lượng trong quan hệ lao động ở hai doanh nghiệp
54
2.3. Đánh giá chung về thƣơng lƣợng tập thể
71
2.3.1. Nhận thức của các chủ thể về thương lượng tập thể được cải thiện
71
2.3.2. Các bên đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm cách thức thương lượng
trong hòa bình
75
2.3.3. Vấn đề thương lượng vẫn còn nhiều tồn tại do nhiều nguyên nhân khác
nhau
77
Công nhân lao động
Công ty Brother
Công ty trách nhiệm hữu hạn Brother Việt Nam
Công ty DS
Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc tế D&S
Doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
KCN
Khu công nghiệp
LĐLĐ
Liên đoàn Lao động
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
PLLĐ
Pháp luật lao động
QHLĐ
Quan hệ lao động
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TƢLĐTT
Thỏa ước lao động tập thể
doanh nghiệp FDI đang trở thành một trong những vấn đề nóng của các địa phương.
Từ con số các cuộc đình công tự phát tăng lên một cách nhanh chóng, có thể thấy
các chủ thể chính thức của QHLĐ vẫn chưa thành công trong việc tạo dựng và củng
cố được một quá trình và hệ thống của QHLĐ mới để có thể xử lý được những
quyền lợi có tính chất xung đột giữa NLĐ và NSDLĐ một cách trật tự, quy củ,
thông qua thương lượng tập thể và đối thoại xã hội ở các cấp khác nhau. Việc cải
cách QHLĐ thông qua thương lượng đã, đang và sẽ được lưu ý hơn và xúc tiến
mạnh mẽ hơn trong thời gian tới bởi các chủ thể QHLĐ đã ý thức sâu sắc hơn tầm
quan trọng của việc xây dựng hệ thống QHLĐ lành mạnh, hài hòa, ổn định, tiến bộ 9
và đã bắt đầu hoặc đang có kế hoạch thực hiện những động thái tích cực nhằm cải
thiện QHLĐ thông qua thương lượng.
Muốn phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đem lại lợi ích cho cả
hai bên cũng như tạo sự ổn định xã hội nói chung, cần đặt sự chú ý đúng mực hơn
nữa đến vấn đề tăng cường thương lượng QHLĐ tại khu vực có vốn ĐTNN, bắt đầu
từ mỗi nhận thức đến hành động, bắt đầu từ mỗi doanh nghiệp.
Hải Dương hiện là một trong 10 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn
ĐTNN, với 162 dự án, đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký
1,891 tỷ USD và tổng vốn thực hiện đạt 802 triệu USD. Với 92 dự án đã đi vào hoạt
động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp FDI hiện đang hoạt động trên địa bàn
tỉnh Hải Dương đã thu hút được một lực lượng lao động trực tiếp lên đến 42.000
người và hàng ngàn lao động gián tiếp. Sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp
FDI trên địa bàn tỉnh cũng làm nóng lên nhiều vấn đề về QHLĐ nơi đây đòi hỏi cần
có sự nghiên cứu và tìm ra giải pháp phù hợp.
Tuy vậy, hiện nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề tăng cường thương
lượng trong QHLĐ ở các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các nghiên cứu trường hợp
về vấn đề này. Đó chính là lý do tôi chọn “Tăng cường thương lượng trong
QHLĐ ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” (nghiên cứu trường hợp hai
1. Tìm hiểu rõ thực trạng thương lượng về các vấn đề việc làm, tiền lương,
BHXH và các điều kiện làm việc khác của công nhân lao động, những mong muốn,
nguyện vọng của các chủ thể QHLĐ.
2. Đánh giá chất lượng thương lượng: những mặt mạnh, những hạn chế của
các bên trong QHLĐ để đạt tới sự hài hòa, ổn định, tiến bộ trong QHLĐ.
3. Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị, nhằm tăng cường thương lượng trong
QHLĐ để xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp FDI.
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu 11
Thương lượng trong QHLĐ ở doanh nghiệp FDI (nghiên cứu trường hợp hai
doanh nghiệp: công ty DS và công ty Brother).
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các chủ thể của QHLĐ ở hai doanh nghiệp (NLĐ và đại diện của họ,
NSDLĐ).
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: 02 doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Hải
Dương: Công ty TNHH Quốc tế D&S (thuộc địa bàn xã Tân Dân, Thị xã Chí Linh)
và Công ty TNHH công nghiệp Brother Việt Nam (KCN Phúc Điền, huyện Cẩm
Giàng).
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Tháng 09/2009 - 3/2011.
4.4. Mẫu nghiên cứu
- Chủ thể NSDLĐ trong doanh nghiệp FDI (từ quản đốc phân xưởng trở lên,
bao gồm: giám đốc/tổng giám đốc; phó giám đốc (Phó tổng giám đốc), trưởng phó
các phòng ban, quản đốc phân xưởng).
- Chủ thể NLĐ, đại diện NLĐ trong doanh nghiệp FDI (công nhân lao động,
nhóm công nhân, Ban Chấp hành công đoàn).
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
phải là hiện tượng ngẫu nhiên, bất thường, không bản chất và phiến diện. Luận văn
hướng đến việc chỉ ra vai trò tích cực của các chủ thể QHLĐ trong việc thương
lượng để đạt tới QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ.
- Quan điểm phát triển: Khách thể nghiên cứu được xem xét trong sự vận
động của nó, trong các mối quan hệ có tính quy luật, trong sự phụ thuộc, quyết định
lẫn nhau, trong sự phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng.
- Quan điểm lịch sử cụ thể: Đối tượng nghiên cứu được xuất phát từ thực tế
xã hội hiện nay, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế
của đất nước. Thực tế lịch sử này được xem xét như cơ sở, mục tiêu, tiêu chuẩn của
thông tin thực nghiệm của nghiên cứu. 13
5.1.2. Phương pháp luận của hệ thống lý thuyết xã hội học
Bên cạnh phương pháp luận triết học Mác-Lênin, đề tài còn sử dụng phương
pháp nghiên cứu xã hội học, cụ thể là thông qua việc vận dụng các lý thuyết xã hội
học như lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết tương tác biểu trưng, lý thuyết cấu
trúc - chức năng trong việc giải quyết vấn đề nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu cho phép tác giả tiếp cận tình hình nghiên cứu
một cách nhanh nhất. Dựa trên những nghiên cứu đi trước, tác giả sử dụng nguồn
thông tin đã được nghiên cứu để làm sáng tỏ cho vấn đề mình nghiên cứu. Mặt
khác, những thông tin thu được không chỉ cung cấp một bức tranh chung về thực
trạng QHLĐ trong các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam mà còn giúp tác giả tìm ra
những nét mới, những khía cạnh cần khai thác sâu cho đề tài về thương lượng trong
QHLĐ hiện nay. Đề tài nghiên cứu về QHLĐ nói chung đã được nhiều nhà khoa
học, sinh viên và các phương tiện truyền thông quan tâm. Đây là điều kiện thuận lợi
cho tác giả trong việc tìm nguồn tài liệu cung cấp cho việc nghiên cứu của mình.
Tác giả đã sử dụng một số dạng tài liệu sau: tài liệu nghiên cứu và xuất bản của các
Giả thuyết một: Năng lực thương lượng của các chủ thể trong QHLĐ còn
nhiều hạn chế, nên chất lượng thương lượng chưa cao, cần được nắm bắt, thay đổi
cho phù hợp và hiệu quả hơn.
Giả thuyết hai: Thương lượng có vai trò quan trọng trong xây dựng QHLĐ
và ngày càng chứng tỏ tính hiệu quả để đạt được QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ. 15
7. Khung lý thuyết Điều kiện kinh tế - xã hội
Chuẩn mực và
quy tắc xã hội
Pháp luật lao động
Các chủ thể
quan hệ lao động
Thƣơng lƣợng
Chất lƣợng quan
hệ lao động
(Hài hoà, ổn
định, tiến bộ)
Gắn kết xã hội 16
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về QHLĐ nói chung, tăng cường thương lượng QHLĐ nói riêng
và mối quan hệ qua lại trong hệ thống QHLĐ, quá trình phát triển của QHLĐ); sự
phân hoá vị trí của giai cấp công nhân trong thời kỳ chuyển đổi QHLĐ; xây dựng
mối QHLĐ hài hòa hiệu quả thông qua chế độ HĐLĐ trong thực tiễn; chế độ
thương lượng tập thể và hợp đồng tập thể; xây dựng kiện toàn chế độ công nhân
tham gia dân chủ; cơ chế thương lượng ba bên của QHLĐ; sự đồng nhất văn hóa đa
nguyên và sự hài hòa QHLĐ
Tác phẩm “Quan hệ lao động”, Thường Khải chủ biên, Nhà xuất bản Lao
động và bảo đảm xã hội Trung Quốc, dịch giả Hoàng Văn Tuấn dịch sang Tiếng
Việt và được Nhà xuất bản Lao động phát hành. Đây là giáo trình chuyên ngành
QHLĐ được viết cho sinh viên chính quy và nghiên cứu sinh của Trung Quốc gồm
bốn phần và 21 chương. Phần I giới thiệu và trình bày một cách hệ thống về lý luận
chung của QHLĐ. Phần II nghiên cứu riêng về đương sự của QHLĐ, cụ thể bao gồm
NLĐ, công đoàn, giới chủ và tổ chức giới chủ, chính phủ QHLĐ. Phần III là nghiên
cứu về vận hành và điều hoà QHLĐ. Phần IV là nghiên cứu về xử lý mâu thuẫn
QHLĐ, nội dung của nó bao gồm xung đột chủ thợ và an sinh xã hội, tranh chấp lao
động và xử lý, tranh chấp tập thể và hoạt động ngành nghề, cứu trợ hành vi lao động
không quy phạm. Trên cơ sở giới thiệu và đánh giá một cách hệ thống lý luận và
chính sách QHLĐ trong và ngoài nước, trọng điểm là tập trung vào hiện trạng, đặc
điểm và xu hướng phát triển của QHLĐ của Trung Quốc, cuốn sách đã đưa ra phân
tích lý luận của riêng mình, đồng thời đưa ra kiến nghị chính sách của mình đối với
việc cải tiến và hoàn thiện chính sách lao công của Trung Quốc.
Bài viết “Toàn cầu hoá QHLĐ và Công đoàn" của Giáo sư, Tiến sỹ Rene E.
Ofrenneo, Uỷ viên quản trị Trung tâm giám sát nguồn lực châu Á, cố vấn mạng lưới
Công đoàn Quốc tế khu vực châu Á đã phân tích 3 động lực chính của toàn càu hoá
(công nghệ, sự thắng thế của triết học thương mại tự do, sự bành trướng của các công
ty đa quốc gia trên toàn cầu). Tác giả chỉ rõ tác động của 3 động lực này đến QHLĐ và 18
quản lý nguồn nhân lực, đó là những thay đổi sâu rộng trong hệ thống sản xuất; nhiều
QHLĐ trong doanh nghiệp FDI; quan điểm và biện pháp nhằm hoàn thiện QHLĐ
trong các doanh nghiệp FDI.
Một số đề tài nghiên cứu về đình công cũng đã phân tích thực trạng QHLĐ
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, như “Đình công của CNLĐ trong các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội” của LĐLĐ thành phố Hà Nội,
năm 2002 ; “Khảo sát về tình hình tranh chấp lao động và đình công ở một số khu
vực trọng điểm trên cả nước” của Ban Pháp luật Tổng Liên đoàn LĐVN, năm 2005
Đề tài “Công đoàn với việc xây dựng QHLĐ hài hòa trong các doanh nghiệp
FDI ở Việt Nam hiện nay” do Viện Công nhân và Công đoàn tiến hành năm 2007
đã đánh giá thực trạng QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ và thực trạng hoạt động công
đoàn trong doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, tìm nguyên nhân cơ bản trong mâu thuẫn
QHLĐ, hạn chế của tổ chức công đoàn trong nội dung này và đề xuất các giải pháp
của công đoàn nhằm xây dựng QHLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ trong doanh nghiệp
FDI ngày càng tốt đẹp hơn; đưa ra nhiều kiến nghị với Đảng, Nhà nước để có biện
pháp xây dựng QHLĐ hài hòa, tiến bộ trong doanh nghiệp FDI, nhằm thu hút
ĐTNN ở Việt Nam, hạn chế tranh chấp lao động và đình công.
Cuốn sách “QHLĐ, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và vai trò của
Công đoàn ở Việt Nam” do Tổng LĐLĐ Việt Nam phối hợp với Công đoàn Đức
phát hành tháng 7/2010 đã phân tích một số vấn đề về QHLĐ, đối thoại xã hội, tiêu
chuẩn xã hội trong lĩnh vực lao động và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; khẳng
định vai trò của công đoàn Việt Nam trong xây dựng QHLĐ, thực hiện trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp và chỉ rõ nhiệm vụ của các cấp công đoàn trong xây dựng
QHLĐ, thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Trong cuốn sách này, tác giả
luận văn cũng tham gia viết phần QHLĐ.
Đề tài “Một số giải pháp tăng cường sự hài hòa, ổn định QHLĐ và nâng cao
hiệu quả quản lý Nhà nước về lao động ở các doanh nghiệp FDI trên địa bàn Hải
Phòng” do Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Hải Phòng chủ trì năm
2004 đã làm rõ những vấn đề chung về QHLĐ và quản lý Nhà nước về QHLĐ; thực
21
trên thương lượng tập thể tại Việt Nam”, Hà Nội, tháng 6/2008. Tác giả đã có nhiều
nỗ lực trong việc “xác định vấn đề và thử tìm kiếm những giải pháp khả thi”. Trong
đó, tác giả đã phân tích về QHLĐ hiện nay tại Việt Nam, phân tích về một quá trình
QHLĐ đặc trưng ở cấp doanh nghiệp sau khi xảy ra đình công tự phát, từ đó đưa ra
một kịch bản của thương lượng theo ngành và đặt ra vấn đề về củng cố tổ chức CĐ,
thúc đẩy thương lượng tập thể và đối thoại xã hội tại Việt Nam. Tác giả cũng nhấn
mạnh những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thúc đẩy thương lượng tập thể
cho một xã hội hài hòa.
Tác phẩm: “QHLĐ và môi trường kinh doanh ở Việt Nam” do TS. Nguyễn
Bá Ngọc chủ biên, NXB Lao động – Xã hội phát hành năm 2008 đã nghiên cứu
những thay đổi và nhiều vấn đề mới về QHLĐ cũng như vai trò của các đối tác xã
hội ở Việt Nam trong điều kiện Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Đặc biệt, tác phẩm phân tích tình hình tranh chấp lao động trong những năm gần
đây với tâm điểm là các cuộc đình công, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động
và khuyến nghị những giải pháp thúc đẩy QHLĐ lành mạnh.
“Giáo trình QHLĐ”, PGS. TS. Nguyễn Tiệp, NXB Lao động – Xã hội phát
hành năm 2008 thực sự là một cuốn cẩm nang cung cấp cho những người nghiên
cứu sâu về QHLĐ những kiến thức và kỹ năng cơ bản trong lĩnh vực QHLĐ phù
hợp với các tri thức hiện đại của thế giới và thực tiễn của Việt Nam. Cuốn sách gồm
hai phần chính: phần thứ nhất khái quát các vấn đề cơ bản về QHLĐ và phần thứ
hai phân tích sâu hơn vê QHLĐ ở Việt Nam như: khung pháp luật điều chỉnh
QHLĐ ở Việt Nam, một số đặc điểm và thực trạng QHLĐ trong doanh nghiệp ở
Việt Nam, quản lý nhà nước về QHLĐ.
Hai cuốn tài liệu tham khảo do Nhà xuất bản Lao động Hà Nội ấn hành “Xây
dựng quan hệ lao động hài hòa tại doanh nghiệp” (năm 2008), và cuốn “Kỹ năng
thương lượng và ký kết TƯLĐTT” (năm 2010) đã đề cập đến một số khái niệm cơ
bản của TƯLĐTT và các kỹ năng để NSDLĐ và NLĐ cần nắm được để thương
lượng đi tới ký kết được TƯLĐTT tại doanh nghiệp.
lao động, những mong muốn, nguyện vọng của các chủ thể QHLĐ; thực trạng mối quan
hệ giữa các chủ thể QHLĐ; các cách thức thương lượng/cơ chế thỏa thuận giữa các bên 23
QHLĐ để đạt tới sự hài hòa, ổn định QHLĐ để từ đó tìm ra các giải pháp, khuyến nghị,
nhằm xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp FDI. Đây cũng chính là
điểm khác biệt của công trình nghiên cứu này so với nhiều công trình đi trước.
1.2. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu đề tài
1.2.1. Lý thuyết hành động xã hội
Trong công trình "The Structure of Social Action" (Cấu trúc của hành động xã
hội, 1937), Parsons cố gắng tổng hợp di sản của Weber, Durkheim và Vilfredo
Pareto, đưa ra lý thuyết hành động xã hội tự giác. Trong lý thuyết hành động tổng
quát, Parsons mượn quan điểm của Weber: cốt lõi của mọi hành động xã hội là ý
nghĩa, do đó để hiểu được hành động phải hiểu được ý nghĩa gắn với hành động đó.
Mặt khác, Parsons cũng chấp nhận quan điểm của Durkheim rằng có một trật tự đạo
đức điều khiển xã hội. Từ đó, Parsons xây dựng khái niệm "khung tham chiếu hành
động", cụ thể hóa hơn lập luận của Weber. Để hiểu hành động cần hiểu được bản chất
chủ quan của hành động, tức là hiểu ý nghĩa của nó. Nhưng tiếp đó phải tiến đến phân
tích các mục tiêu và phương tiện hành động, những điều này nảy sinh trong bối cảnh
các giá trị và chuẩn mực hình thành một cách tập thể. Đây chính là khung tham chiếu
hành động, trong đó là sự định hướng mang tính chuẩn mực của con người định
hướng vào các niềm tin, giá trị, chuẩn mực.
Khái niệm "khung tham chiếu hành động" giúp Parsons giải thích về trật tự
xã hội: xã hội vận hành thông qua hành động xã hội, hành động xã hội được cấu
trúc hóa, mang tính chuẩn mực, bởi những giá trì hình thành một cách tập thể trong
xã hội. Con người là chủ thể, tìm kiếm việc tối đa hóa phần thưởng thông qua hành
động. Hành động nhằm đạt được mục đích đó được thiết chế hóa vào một cơ cấu
các vị thế và vai trò.
tiêu: Thƣơng lƣợng 25
giá). Tương tự là ba kiểu giá trị: nhận thức (lượng định theo chuẩn khách quan), tán
thưởng (lượng định theo chuẩn thẩm mỹ), và đạo đức (lượng định theo sự đúng sai).
Những phương thức định hướng khác nhau ở chủ thể tạo ra những kiểu hành
động khác nhau. Theo Parsons, có ba kiểu hành động: công cụ (hành động định
hướng rõ ràng vào việc thực hiện mục tiêu một cách hiệu quả), biểu cảm (hành động
nhằm thoả mãn cảm xúc), và đạo đức (hành động liên quan đến việc thực hiện
chuẩn mực về sự đúng sai).
Khi các chủ thể với những định hướng hành động nhất định tương tác với
nhau, họ sẽ tạo ra những thỏa thuận và khuôn mẫu tương tác, dẫn đến sự thiết chế
hóa. Các khuôn mẫu được thiết chế hóa, theo Parsons, chính là hệ thống xã hội.
Người ta có thể mô tả lý thuyết hành động thuyết bắt đầu bằng một chủ thể, người
đóng vai trò (cá nhân hay một tập thể). Chủ thể có động cơ hành động để đạt được
một mục đích mà hệ thống văn hóa đã xác định. Hành động tiến hành trong một tình
huống gồm các phương tiện (công cụ, nguồn lực) và điều kiện (trở ngại, câu thúc),
chúng làm cho tình huống mang tính không ổn định, không chắc chắn. Mọi yếu tố
trên chịu sự điều chỉnh của các tiêu chuẩn mang tính chuẩn mực của hệ thống xã
hội. Chủ thể không thể bỏ qua các quy tắc, chúng quy định các mục đích và cách
mà chủ thể phải ứng xử, những kỳ vọng mang tính chuẩn mực phải được chủ thể
đáp ứng, người đã được gắn cho động cơ theo đuổi các mục đích. Các chuẩn mực
được nội tâm hóa, nên chủ thể được tạo nên động cơ hành động một cách tương
thích. Các chuẩn mực được hệ thống văn hóa hợp pháp hóa.
Với đề tài nghiên cứu của mình tác giả nhìn nhận các chủ thể theo đuổi các
tiêu của QHLĐ là sự hài hòa, ổn định, tiến bộ trong QHLĐ. Các chủ thể phát triển
thương lượng và đối thoại xã hội như là các phương tiện khác nhau để đạt mục tiêu
đó. Trong quá trình này, các chủ thể đối mặt với những hoàn cảnh khác nhau, những
hoàn cảnh gây tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện. Các chủ thể bị
là một sự tác động qua lại giữa các kích thích xã hội và những phản ứng lại các kích
thích ấy. Các hành động của con người chịu ảnh hưởng chứ không phải là bị quy định
bởi những sự kiện trước đó hay bởi những lực xã hội hay những lực sinh học. 27
Con người là những sinh vật hành động trong những hoàn cảnh và theo
những hoàn cảnh có chủ đích. Theo các nhà tương tác luận, con người không thể
nào thoát khỏi hành vi của mình, như độ căng trong một thanh lò xo, trong sự phản
ứng lại những xung năng sinh học, những nhu cầu tâm lý hay những mong đợi xã
hội. Nói đúng hơn, con người hành động theo những hoàn cảnh, kiến tạo hành vi
dựa trên nghĩa mà họ gán cho cái hoàn cảnh đặc thù trong đó họ nhận ra chính
mình. Nghĩa, hay sự định nghĩa về hoàn cảnh, này nảy sinh từ những sự tương tác
đương diễn ra với người khác. Tức là, con người xác định nghĩa nào được gán cho
một hoàn cảnh và cách thức hành động theo hoàn cảnh qua việc họ xét tới những ý
đồ, những hành động và những thể hiện của người khác đang bộc lộ ra. Các tác
nhân nhận lấy, thương lượng và xác lập những định nghĩa về một hoàn cảnh thông
qua các tiến trình của sự tương tác biểu trưng.
Xã hội người là ở chỗ con người ta tham gia vào sự tương tác biểu trưng.
Các nhà tương tác luận khác với các nhà xã hội học khác trong quan niệm của mình
về xã hội và mối quan hệ giữa xã hội với cá nhân. Theo Blumer, các nhà tương tác
luận quan niệm xã hội như là một quá trình hay thay đổi nhưng được cấu trúc hóa,
đó chính là quá trình các cá nhân đang tương tác với nhau.
Mỗi khi con người hướng mình đến với những người khác và những hành
động của họ, không nghĩ đến việc có phải họ đang cố gắng làm tổn thương người
khác, giúp đỡ người khác, làm biến đổi hay hủy diệt người khác hay không, là họ tiến
hành một hành vi xã hội. Các cá nhân cố gắng làm cho những cách xử sự của mình
tương xứng và phù hợp với người khác. Khi làm như vậy, họ có thể hành động như là
những cá nhân hay như là những đại diện của một nhóm hay một tổ chức. Được
Blumer khơi nguồn cảm hứng, các nhà tương tác luận xem lĩnh vực xã hội học – và