ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ PHONG LAN
HÀNH ĐỘNG DẪN NHẬP
TRONG PHẦN MỞ ĐẦU CUỘC THOẠI MUA BÁN
(Trên cứ liệu ghi âm tại các chợ và một số trung tâm mua sắm ở Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Mục đích và nhiệm vụ 5
2.1. Mục đích 5
2.2. Nhiệm vụ 6
3. Tƣ liệu 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 6
5. Bố cục luận văn 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1. Những vấn đề lý thuyết hội thoại liên quan đến đề tài 8
1.1.1. Khái niệm hội thoại 8
1.1.2. Cặp thoại 9
1.1.3. Tham thoại 10
1.1.4. Hành động ngôn ngữ 12
1.1.4.1. Khái niệm 12
1.1.4.2. Phân loại 12
1.2. Cuộc thoại và hành động dẫn nhập 13
1.2.1. Khái niệm và cấu trúc cuộc thoại 13
1.2.1.1. Khái niệm cuộc thoại 13
1.2.1.2. Cấu trúc cuộc thoại 15
1.2.2. Hành động dẫn nhập 16
1.2.2.1. Khái niệm 16
1.2.2.2. Vị trí và vai trò của hành vi dẫn nhập trong cuộc thoại và trong
phần mở thoại 16
1.3. Hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại mua bán 18
2
1.3.1. Hội thoại mua bán 18
1.3.1.1. Khái niệm 18
1.3.1.2. Các nhân tố tham gia vào cuộc thoại mua bán 19
1.3.1.3. Cấu trúc và phân loại (Dựa vào tư liệu thu thập) 20
3.2.4. Kiểu xưng hô: sp1 không xưng, không gọi sp2 nhưng có thể có ạ
(nhé) ở cuối hành động. 78
3.2.5. Kiểu xưng hô sp1 tự xưng (không gọi Sp2) đi cùng cấu trúc: Cho +
tự xưng trong các hành vi dẫn nhập đề nghị hoặc mong, muốn + tự xưng
trong các hành vi dẫn nhập mong muốn. 79
3.2.6. Kiểu xưng hô có phần hô gọi nhưng sp1 không gọi sp2 cũng không
tự xưng. 81
3.3. Cách xƣng hô trong hành động dẫn nhập của ngƣời bán 84
3.3.1. Kiểu xưng hô có cả tự xưng của sp2 và gọi sp1. 84
3.3.2. Kiểu xưng hô sp2 không tự xưng và gọi sp1 (cô, em, cháu …) 85
3.3.3. Kiểu xưng hô có phần hô gọi, không gọi sp1, sp2 tự xưng. 87
3.3.4. Kiểu xưng hô sp2 không tự xưng cũng không gọi sp1 mà chỉ ngay
đến mặt hàng. 88
3.3.5. Các kiểu khác 89
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hội thoại là một hình thức phổ biến trong giao tiếp của tất cả các ngôn
ngữ. Thông qua đó con ngƣời có thể truyền tải và tiếp nhận những nội dung,
thông tin cần thiết. Hội thoại là nơi các yếu tố ngôn ngữ ở dạng trừu tƣợng
giả Mai Thị Kiều Phƣợng lại đi vào chi tiết hơn khi quan tâm đến ngôn ngữ
song thoại của ngƣời mua và ngƣời bán trong luận văn thạc sĩ năm 1996
“Những đặc điểm của cấu trúc ngôn ngữ song thoại giữa người mua và người
bán”.
Có thể nói, hội thoại mua bán là một phạm vi đƣợc nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu. Trên cơ sở những vấn đề các tác giả đi trƣớc đã đặt ra, chúng
tôi nhận thấy để hiểu sâu hơn một cuộc thoại mua bán thì có lẽ nên bắt đầu từ
đơn vị nhỏ nhất là hành động ngôn ngữ - đơn vị cơ sở tạo lập hội thoại. Với
mong muốn góp phần làm cho bức tranh về cuộc thoại mua bán thêm toàn
diện, luận văn này lấy “Hành động dẫn nhập trong phần mở đầu cuộc thoại
mua bán” làm đối tƣợng nghiên cứu. Trong khuôn khổ có giới hạn của luận
văn, chúng tôi mới chỉ tìm hiểu đƣợc về hành động dẫn nhập trong phần mở
đầu với mục đích từ cơ sở này tƣơng lai chúng tôi sẽ mở rộng để triển khai
tiếp ở các phần còn lại của hội thoại mua bán.
2. Mục đích và nhiệm vụ
2.1. Mục đích
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích hành động dẫn nhập trong phần mở
đầu hội thoại mua bán, luận văn mong muốn hƣớng đến:
- Phân loại các kiểu hành động dẫn nhập trong phần mở đầu của cuộc
thoại mua bán.
6
- Xem xét ý nghĩa của các yếu tố tác động đến hành động dẫn nhập
trong phần mở đầu hội thoại mua bán.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc các mục đích trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những lý luận về hội thoại và các vấn đề liên quan.
- Xác lập thế nào là hành động dẫn nhập đồng thời phân tích các kiểu
cấu trúc đã có trên cơ sở tƣ liệu thu thập.
- Phân tích ý nghĩa của nhân tố tác động đến hành động dẫn nhập.
8
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Những vấn đề lý thuyết hội thoại liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Ngữ dụng học là một lĩnh vực đang phát triển, mở ra nhiều hƣớng đi
mới cho các nhà ngôn ngữ học. Nhiệm vụ của ngành này là nghiên cứu mối
Hành vi ngôn ngữ
lại có tính chất đơn thoại bởi do một ngƣời nói ra (có thể là ngƣời nói hoặc
ngƣời nghe).
Tựu chung lại, trong ngữ dụng học, hội thoại là một mảnh đất màu mỡ,
mà ở đó, có thể xem xét sự hành chức của ngôn ngữ dƣới nhiều góc độ khác
nhau. Sự khác nhau ấy khiến cho lĩnh vực hội thoại càng trở nên có sức thu
hút mạnh mẽ đối với các nhà nghiên cứu, đồng thời mở ra nhiều triển vọng
phát triển của các chuyên ngành mới liên quan.
1.1.2. Cặp thoại
Trong một cuộc thoại có thể có nhiều đoạn thoại. Nói đến đoạn thoại
không thể không nói tới cặp thoại - đơn vị lƣỡng thoại nhỏ nhất gồm một
hành vi mang tính chất mở đầu và một hành vi có ý nghĩa hồi đáp hoặc hơn
hai hành vi. Cặp thoại là “hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp với nhau”
2
,
chẳng hạn nhƣ chào - chào, hỏi - trả lời, trao - nhận, xin lỗi - chấp nhận……
Cặp thoại hay cặp trao đáp là do những ngƣời nói khác nhau nói ra, mà có thể
gọi là vế thứ nhất và vế thứ hai. Bình thƣờng hai vế trong cặp thoại liền kề
nhau.
Ví dụ:
Ngƣời mua (Sp1): Rau hôm nay thế nào hả bác?
Ngƣời bán (Sp2): Rau tƣơi đấy em ạ. Lấy đi. 3500 đồng một mớ.
Tuy nhiên, có những trƣờng hợp hai cặp thoại chủ hƣớng lại bị tách ra
bằng hai hoặc nhiều cặp thoại chêm xen khác.
2
Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, 2000, tr70.
10
Ví dụ:
Nguyễn Thiện Giáp, Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG, 2000, tr71
4
Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học (tập 2, ngữ dụng học), NXB Giáo dục, 2001, tr303.
11
hƣớng là hành vi có hiệu lực ở lời và ngƣời tiếp nhận phải có chiến lƣợc để
hồi trả.
Khi nói đến tham thoại, chúng ta cũng cần phân biệt nó với lƣợt lời.
Tham thoại và lƣợt lời đều là phần đóng góp của một ngƣời vào cuộc thoại
nhƣng chúng không phải là một. Lƣợt lời “là một lần nói xong của một ngƣời
trong khi những ngƣời khác không nói, để rồi đến lƣợt một ngƣời tiếp theo
nói”
5
. Nhƣ vậy, một lƣợt lời có thể có nhiều tham thoại và một tham thoại có
nhiều lƣợt lời.
Ví dụ: Một lượt lời có nhiều tham thoại:
Sp2 [1]: Bác ơi, mua gì vào đây em bán cho!
Sp1 [2]: Cô bán cho tôi cái bật lửa tốt nhé!
Sp2 [3]: Vâng, bác chờ em tý nhé… Của bác đây ạ.
Trong cả hai lần ngƣời bán nói, lƣợt lời của ngƣời này đều có trên hai
tham thoại trở lên. Trong lƣợt đầu tiên, có hai tham thoại là: tham thoại gọi và
tham thoại mời mua hàng. Trong lƣợt lời thứ ba, có ba tham thoại. Đó là tham
thoại đồng ý, tham thoại đề nghị và tham thoại xác nhận mặt hàng đƣa cho
khách.
Ví dụ: Một tham thoại gồm nhiều lượt lời:
Sp1[1]: Cái bật lửa này bao nhiêu tiền hả cô?
Sp2[2]: Đồ tốt, giá rẻ. Chỉ tám nghìn thôi bác ạ.
Sp1[3]: Đắt thế, bốn nghìn nhé….
Sp2[4]: Không đƣợc đâu ạ. Bác trả hơn cho em đi.
Sp1[5]: Sáu nghìn nhé.
Trong hoạt động giao tiếp, khi chúng ta nói nghĩa là chúng ta đã thực
hiện một loại hành vi đặc biệt. Hành vi đó trong bất kỳ trƣờng hợp nào cũng
có ba kiểu hành vi đƣợc thực hiện đồng thời (theo sự phân biệt của Austin) là:
hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mƣợn lời.
13
- Hành vi tạo lời sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ ngữ âm, ngữ
pháp, từ…để tạo ra một phát ngôn đúng về hình thức và nội dung.
- Hành vi mƣợn lời là hành vi mƣợn phƣơng tiện ngôn ngữ, hay nói cách
khác là mƣợn các phát ngôn để gây ra tác động hay hiệu quả ngoài
ngôn ngữ với ngƣời nghe, ngƣời nhận hoặc ở chính ngƣời nói.
- Hành vi tại lời là hành vi ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu
quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng với ngƣời nghe.
Có thể nói, lý thuyết hành vi quan tâm nhiều đến hành vi tại lời bởi
ngƣời ta luôn cố gắng tìm cách truyền đạt đƣợc nhiều nhất cái ngƣời ta muốn
đề cập.
Trong giao tiếp nói chung, hay trong các cuộc thoại nói riêng, hành vi
ngôn ngữ là một nhân tố giúp duy trì, phát triển cuộc thoại, giúp cho các nhân
vật giao tiếp truyền đi thông điệp của mình, giúp ngƣời ngoài cuộc thoại hiểu
đƣợc đích giao tiếp là gì.
1.2. Cuộc thoại và hành động dẫn nhập
1.2.1. Khái niệm và cấu trúc cuộc thoại
1.2.1.1. Khái niệm cuộc thoại
a. Khái niệm
Theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp, hội thoại là một tổ chức tôn ti
nhƣ tổ chức đơn vị cú pháp. Vì thế, trong cấu trúc hội thoại sẽ có các đơn vị
từ lớn đến bé là: cuộc thoại - đoạn thoại - cặp trao đáp - tham thoại - hành vi
ngôn ngữ. Trong luận văn này, cuộc thoại là một trong những đối tƣợng mà
chúng tôi quan tâm đầu tiên, đi vào phân tích nó trƣớc khi đi đến các đơn vị
C.K.Orecchioni đƣa ra một định nghĩa về cuộc thoại khá mềm dẻo: “để có
6
Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học (tập 2, ngữ dụng học), NXB Giáo dục, 2001, tr312.
15
một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có
thể thay đổi nhƣng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian
có thể thay đổi nhƣng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi
nhƣng không đứt quãng” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu)
7
.
Nói chung để phân định ranh giới cuộc thoại đến nay chƣa có những
tiêu chí đủ tin cậy và xác đáng đƣợc dùng mang tính phổ niệm. Thế nhƣng
các cuộc thoại trong giao tiếp hàng ngày là có thật và việc phân định chúng
phục vụ trong nghiên cứu là cần thiết dù có thể sự phân định đó vẫn còn mang
tính võ đoán.
1.2.1.2. Cấu trúc cuộc thoại
Mặc dù việc phân chia một cuộc thoại vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh
cãi, nhƣng tổng quát chung, một cuộc thoại thƣờng có ba phần:
Mở thoại
Thân thoại
Kết thoại
Mỗi phần (đoạn) trong cuộc thoại có những chức năng khác nhau
nhƣng vẫn phải hƣớng đến phục vụ chủ đề của cuộc thoại.
Đoạn thoại mở đầu phần lớn là công thức hóa, mang tính chất “đƣa
đẩy”, không chỉ có chức năng mở đầu một cuộc thoại mà còn manh nha tiến
hành “thƣơng lƣợng hội thoại” về đề tài diễn ngôn, thăm dò đối phƣơng về
mọi mặt.
Đoạn thân thoại thực hiện đích chính của cuộc thoại. Các nhân vật tham
Dẫn nhập là hành động có ý nghĩa trọng tâm trong một phần hoặc toàn
bộ cuộc thoại mà ở đó ngƣời ta liệu đoán đƣợc cái gì sắp xảy ra, cũng nhƣ dẫn
nhập hầu nhƣ đảm bảo đƣợc sự hợp tác của ngƣời tiếp nhận. Đƣa ra lời dẫn
nhập, chắc chắn sẽ có lời hồi đáp (có thể bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ).
1.2.2.2. Vị trí và vai trò của hành vi dẫn nhập trong cuộc thoại và trong phần
mở thoại
17
Một cuộc thoại luôn luôn có ba phần, trong mỗi phần trƣớc khi đi vào
vấn đề chính, hầu nhƣ sẽ luôn có cái gọi là dẫn nhập. Dẫn nhập của những
ngƣời giao tiếp đều có ý nghĩa chung là chuẩn bị về tinh thần, khả năng tiếp
nhận của các bên. Chính vì điều đó nên trong giao tiếp, hành động dẫn nhập
có vai trò quan trọng. Mỗi hành động dẫn nhập đƣợc tạo lập trong từng phần
của cuộc thoại, giúp cuộc thoại tự nhiên và uyển chuyển hơn. Mặt khác, tạo
điều kiện cho cuộc thoại có cơ sở phát triển sau này.
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, lời dẫn nhập có chức năng quy định “quyền
lực và trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại”
8
. Dẫn nhập có thể là yêu cầu về
thông tin, yêu cầu đƣợc tán đồng…. Quan trọng hơn, ngoài việc dẫn ngƣời
giao tiếp đi vào nội dung sắp đƣợc bàn luận, thì dẫn nhập còn ngầm quy định
việc phải (nên) hồi đáp lại. Đó là trách nhiệm của ngƣời tiếp nhận lời dẫn
nhập. Vì thế, dẫn nhập thƣờng thuộc về các tham thoại chủ hƣớng trong mỗi
phần của cuộc thoại. Tuy nhiên, không phải cứ là tham thoại chủ hƣớng thì
coi nó có vai trò dẫn nhập và ngƣợc lại. Vấn đề đến đây đặt ra là, trong cuộc
thoại, mỗi phần thƣờng có dẫn nhập.
Mở thoại cũng không phải là trƣờng hợp đi ngƣợc lại điều đã nói trên.
Mở đầu là bộ phận quan trọng trong cấu trúc cuộc thoại. Nó cho phép các
nhân vật giao tiếp có thể tiếp xúc với nhau, gợi ra chủ đề chính cần bàn luận.
Việc bắt đầu đi vào chủ đề chính cần bàn luận đó gọi là hành động dẫn nhập.
phẩm, hỏi giá, mặc cả, thỏa thuận hoặc không và kết thúc mua bán. Nếu cuộc
mua bán thành công thì sau khi thỏa thuận ngƣời mua - ngƣời bán sẽ trao tiền
- trao hàng cho nhau. Những cuộc mua bán kiểu nhƣ vậy gọi là tích cực.
Ngƣợc lại khi thỏa thuận về giá cả không đƣợc ngã ngũ ngƣời bán và ngƣời
mua sẽ kết thúc cuộc thoại một cách tiêu cực, mục đích hội thoại không hoàn
thành.
Cuộc mua bán có thể đƣợc kéo dài hay rút ngắn tùy thuộc vào sự
thƣơng lƣợng giữa ngƣời bán và ngƣời mua. Tuy nhiên, mỗi cuộc thoại dù dài
hay ngắn vẫn phải hƣớng về một chủ đề chung từ khi bắt đầu cho đến diễn
biến và kết thúc lần mua bán hàng hóa.
Hội thoại mua bán cũng giống nhƣ bất kỳ cuộc giao tiếp nào, để đạt
đƣợc mục đích của mình, những ngƣời tham gia không chỉ sử dụng phƣơng
19
tiện là ngôn ngữ mà còn kèm theo các động tác, cử chỉ, nét mặt… Tất cả
những vấn đề này nhằm đi đến một điều quan trọng là sao cho đích của cuộc
thoại đƣợc thực hiện.
Mua bán là hoạt động thƣờng xuyên và phổ biến, cần thiết trong đời
sống của con ngƣời. Chính vì vậy, các dạng mua bán có rất nhiều, để phân
loại chúng ngƣời ta thƣờng căn cứ vào đích chính của cuộc mua bán, vào mặt
hàng đƣợc đƣa ra để chào mời, thƣơng lƣợng. Theo tác giả Nguyễn Thị Đan
10
có thể có các kiểu thoại mua bán sau thƣờng xuất hiện:
Mua bán lƣơng thực (gạo, mì, khoai, sắn… )
Mua bán thực phẩm (thịt lợn, thịt gà, thịt bò… )
Mua bán các loại vải
Mua bán các loại quần áo may sẵn
Mua bán các loại hàng giải khát
Mua bán các loại hoa quả
giá cả, chất lƣợng, ngƣời bán nói thách quá cao, ngƣời mua trả giá quá thấp
thì dù cuộc thƣơng lƣợng kéo dài nhƣng mục đích cuộc thoại vẫn không đƣợc
thực hiện, cuộc thoại kết thúc mang tính chất tiêu cực.
1.3.1.3. Cấu trúc và phân loại (Dựa vào tư liệu thu thập)
a. Cấu trúc
Một cuộc thoại mua bán đầy đủ bao giờ cũng gồm ba phần (cấu trúc
giống nhƣ một cuộc thoại bất kỳ):
Phần mở đầu
Phần thƣơng lƣợng
Phần kết thúc
Tuy nhiên, không phải cuộc thoại nào cũng đầy đủ ba phần trên, hoặc
chỉ có phần mở đầu - thƣơng lƣợng, hoặc thƣơng lƣợng - kết thúc, hoặc chỉ có
phần mở đầu, hoặc nhiều khi mua bán bắt đầu từ thƣơng lƣợng hay thƣơng
lƣợng và kết thúc không tách bạch rõ ràng.
21
Phần mở đầu đƣợc giới hạn từ chỗ bắt đầu cuộc mua bán cho đến khi
ngƣời mua đồng ý với mặt hàng mình cần và bƣớc sang hỏi giá.
Phần thƣơng lƣợng bắt đầu từ phần hỏi giá cho đến khi giá cả mặt hàng
đƣợc cả hai bên chấp nhận.
Phần kết thúc là phần ngƣời mua trả tiền, ngƣời bán trao hàng và kèm
một số câu kết thúc (mời ghé lại lần sau, cảm ơn….)
b. Phân loại
Sự phân chia cấu trúc trên chắc chắn cũng chỉ mang tính tƣơng đối.
Trên cơ sở tƣ liệu thu thập đƣợc, chúng tôi nhận thấy có các kiểu cấu trúc hội
thoại mua bán sau:
Cuộc thoại đầy đủ ba phần
Ví dụ:
(1)
Sp2: Vâng. Lần sau lại qua shop em nhé.
(Shop thời trang Cầu Giấy)
Một cuộc thoại đầy đủ sẽ gồm có ba phần. Trong đó mở thoại có chào
hàng, giới thiệu về sản phẩm của ngƣời mua hoặc hỏi về đặc điểm, tính chất
của sản phẩm ngƣời bán cần. Trong các ví dụ trên, ở (1), mở đầu cuộc mua
bán bắt đầu từ tham thoại: Xem vải gì đi em? - [Sp2] cho đến Em cứ yên tâm -
[Sp2]; ở (2) từ tham thoại: Mua gì nào? Vào đây đi! Em chọn cho! – [Sp2]
đến Anh tinh mắt quá. Hàng đấy em vừa lấy về hôm qua đấy. Có hai chiếc
thôi. Anh hợp với kiểu áo đó đấy. Cái đó size L. Vừa với anh đấy. - [Sp2].
Phần thân thoại hay chính là phần thƣơng lƣợng đƣợc tính từ khi ngƣời
mua hỏi giá cả cho đến khi giá đƣợc chấp nhận từ hai phía. Trong cuộc thoại
(2), phần này bắt đầu từ Bao nhiêu tiền vậy - [Sp1] đến Gói lại đi nhé [Sp1].
23
Phần kết thúc mua bán là trao - nhận hàng, có thể kèm cảm ơn, mời lần sau
ghé thăm của ngƣời bán. Ở cuộc mua bán (1) là trao hàng và cám ơn: Ừ, quần
em đây - [Sp2] và Vâng, em xin - [Sp1] còn trong cuộc mua bán (2) là lời cảm
ơn và mong muốn khách hàng nhớ tới cửa hàng: Vâng, lần sau lại qua shop
em nhé - [Sp2 - cuộc thoại (2)]. Nhƣ vậy, một cuộc thoại đầy đủ sẽ có phần
mở đầu cho việc mua bán sau đó đến phần chính của việc mua bán (thƣơng
lƣợng giá cả, đánh giá tính chất mặt hàng, chấp thuận giá cả) và cuối cùng là
trao - nhận hàng, cảm ơn, hứa hẹn.
Cuộc thoại chỉ có hai phần: mở thoại và thƣơng lƣợng
Ví dụ:
(3):
Sp1: Cô ơi, cho cháu xem giùm cái áo khoác kia đƣợc không ạ?
Sp2: Áo đỏ hả cháu?
Sp1: Dạ, vâng ạ.
Sp2: Đây cháu xem đi rồi mua cho giúp cô.