Tác động của đẩy mạnh phân công lao động trong công nghiệp, trung tâm công nghiệp ở Hà Tây đến xây dựng khu vực phát triển tỉnh - Pdf 44

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển CN,TTCN nói chung, đẩy mạnh phân công lao động ở lĩnh vực
này nói riêng là đòi hỏi thờng xuyên trong xây dựng và phát triển kinh tế đất n-
ớc. Quá trình đó tác động to lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội,
trong đó có xây dựng KVPT tỉnh (thành phố) vững chắc.
Hà Tây là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, có nhiều tiềm năng
trong phát triển CN,TTCN và có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh. Xây
dựng, phát triển Hà Tây về kinh tế xã hội, nhất là củng cố quốc phòng an
ninh, có tầm quan trọng đặc biệt. Trong những năm qua, thực hiện chủ trơng
xây dựng tỉnh (thành phố) thành KVPT vững chắc, ở Hà Tây đã thu đợc nhiều
kết quả quan trọng. Để Hà Tây tiếp tục khẳng định vị trí chiến lợc không chỉ về
kinh tế mà còn về quốc phòng, an ninh cần xây dựng và phát triển tỉnh toàn
diện, trong đó có nâng cao hiệu quả xây dựng KVPT tỉnh vững chắc. Nghiên
cứu làm rõ cơ sở khoa học tác động của việc phát triển CN,TTCN ở Hà Tây đến
xây dựng KVPT tỉnh vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có
tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Song trong phạm vi một luận văn tác giả
chỉ chọn vấn đề Tác động của đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN
ở Hà Tây đến xây dựng KVPT tỉnh làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phân công lao động nói chung, phân công lao động trong CN,TTCN nói
riêng là vấn đề không mới, từ lâu đã thu hút đợc sự quan tâm của các nhà khoa
học, nên đã có khá nhiều công trình đợc công bố đề cập đến các khía cạnh khác
nhau của vấn đề nh :
- Phân công lao động xã hội trong cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa và ảnh hởng của nó tới cung cấp nguồn nhân lực cho quốc phòng ở nớc
ta của Nguyễn Xuân Thờng, luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị Quân sự,
1996.
1
- Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cờng sức mạnh KVPT

* Đối tợng nghiên cứu
Tác động của đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN đến xây
dựng KVPT tỉnh là đối tợng nghiên cứu của đề tài.
* Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn không nghiên cứu phân công lao động nói chung mà chỉ
nghiên cứu đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây tác động
đến xây dựng KVPT tỉnh hiện nay.
- Thời gian khảo sát từ khi tái thành lập tỉnh 1991 đến nay
5. Cơ sở lý luận, phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
- Luận văn vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác Lê nin, t tởng Hồ Chí
Minh, đờng lối quan điểm của Đảng về phân công lao động nói chung và phân
công lao động trong CN,TTCN nói riêng.
- Luận văn dựa vào lý luận KVPT của Đảng, Quân đội, các văn bản chỉ
thị, nghị quyết của địa phơng về phát triển sản xuất trong CN,TTCN và về xây
dựng KVPT tỉnh.
* Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phơng pháp luận Mác xít nh chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phơng pháp nghiên cứu
của kinh tế chính trị Mác Lê nin nh phơng pháp phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh, lô gíc kết hợp với lịch sử
6. ý nghĩa của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm sự tác động của
đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây đến xây dựng KVPT
tỉnh.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy kinh
3
tế chính trị, kinh tế quân sự ở các nhà trờng quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

là đòn bẩy mạnh mẽ của sản xuất trớc ngày xuất hiện của sản xuất lớn. V.I. Lê
nin viết : trong nền sản xuất dựa trên cơ sở lao động thủ công, kỹ thuật chỉ có
thể tiến bộ đợc dới hình thức của sự phân công thôi [2.tr.535].
Sự phân công lao động trong xã hội thể hiện sự phân công chung theo
loại sản xuất nh công nghiệp, nông nghiệp và sự phân công riêng phân chia
các loại sản xuất thành những ngành và những phân ngành : công nghiệp nặng,
công nghiệp nhẹ, trồng trọt và ngành chăn nuôi . Ngoài ra còn có sự phân
công theo lãnh thổ, theo các vùng kinh tế. Nh vậy, phân công lao động chính là
sự chuyên môn hoá sản xuất trong phạm vi toàn xã hội, phân công lao động xã
hội trong lịch sử diễn ra theo hai kiểu phân công tự phát và phân công tự giác.
Dới chế độ nguyên thuỷ với đặc điểm là có hình thức phân công lao động giản
đơn nhất, tức là sự phân công tự nhiên, tự phát theo nam và nữ, theo tuổi tác.
Đàn ông thì săn bắt, đàn bà thì hái lợm hoa quả, trong nom việc nhà, ngời già
thì chế tạo công cụ lao động. ăng Ghen viết: lúc đầu chỉ là sự phân công lao
động trong hành vi theo giới tình và về sau là phân công lao động tự hình thành
hoặc (hình thành một cách tự nhiên), do những thiên tính bẩm sinh (nh thể lực
chẳng hạn), do những nhu cầu, do những sự ngẫu nhiên [3.tr.30]. Trong chế độ
chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, lực lợng sản xuất có sự phát triển nhất
định, phân công lao động cũng từng bớc phát triển. Giai đoạn này có sự phân
chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần, sự phân công lao động thể
hiện đúng tính chất của nó. ăng ghen đã chỉ ra : phân công lao động chỉ trở
thành sự phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia lao động vật
chất và lao động tinh thần [4.tr.45]. Tuy nhiên thời kỳ này phân công lao động
chủ yếu vẫn diễn ra hoàn toàn tự phát.
Đến giai đoạn phát triển của CNTB do kết quả của nền sản xuất cơ khí
hoá, nên sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, công nghiệp thực
sự đã tách khỏi nông nghiệp. Giai đoạn tự do cạnh tranh của CNTB, sự phân
công lao động xã hội đã có một bớc phát triển rất lớn, nhng sự phân công đó
6
diễn ra cơ bản vẫn là tự phát. Giai đoạn CNTB độc quyền và độc quyền nhà nớc,

công lao động xã hội đồng thời là quá trình phát triển của sản xuất hàng hoá,
phá vỡ dần tính chất tự cấp, tự túc, khép kín của nền sản xuất nhỏ, mở rộng
quan hệ trao đổi, hợp tác ra phạm vi quốc tế. Có hai loại phân công lao động
chủ yếu là trong xã hội và trong xí nghiệp. Phân công lao động xã hội và phân
công lao động trong nội bộ xí nghiệp có liên hệ chặt chẽ với việc chuyên môn
hoá nghề nghiệp của từng ngời.
Từ sự khái quát lý luận về phân công lao động xã hội nói chung ta thấy
sự phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp đợc gọi là phân công lao động cá
biệt. C. Mác viết : nếu ngời ta chỉ xét riêng bản thân lao động thôi thì ngời ta
có thể gọi sự phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn công nghiệp,
nông nghiệp là sự phân công chung, gọi sự phân chia những ngành sản xuất
ấy thành loại và thứ là phân công đặc thù và cuối cùng gọi sự phân công trong
xởng thợ là phân công cá biệt [ . tr510]. Vì vậy, phân công lao động trong
CN,TTCN chính là sự chuyên môn hoá sản xuất trong phạm vi ngành CN,TTCN
nằm trong phạm vi của phân công lao động xã hội nói chung. Trong lịch sử, từ
khi CNTB ra đời đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công lao động xã hội nói chung
và phân công lao động trong CN,TTCN nói riêng. Quá trình đó, sản xuất cơ khí
phát triển làm cho công nghiệp hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và quyết định
sự phân công hơn nữa trong nội bộ những ngành ấy.
Cùng với sự phát triển chung của lực lợng sản xuất xã hội, công nghiệp
đợc chia ra thành nhiều ngành khác nhau, số lợng các ngành cũng tăng lên.
V.I.Lênin đã khái quát : sự chuyên môn hoá lao động xã hội do bản chất của
nó là vô cùng tận, cũng giống nh sự phát triển của kỹ thuật vậy. Muốn nâng cao
đợc năng suất lao động của cong ngời, ví dụ nhằm làm ra một bộ phận nào đó
đợc chuyên môn hoá, trở thành một ngành sản xuất riêng biệt, sản xuất đợc
hàng loạt sản phẩm và vì lẽ đó có thể và cần phải sử dụng máy móc. [ .tr.115].
8
Nh vậy, về mặt lý luận đã chỉ ra khá rõ vấn đề phân công lao động trong
CN,TTCN gắn liền với quá trình phát triển của lực lợng sản xuất, tăng thêm tính
chất xã hội hoá của sản xuất. Ngày nay, quá trình phát triển của lực lợng sản

trí địa lý khác nhau việc đẩy mạnh phân công lao động nói chung và phân công
lao động trong CN,TTCN theo hớng CNH,HĐH cũng có sự khác nhau. Khi đẩy
mạnh phân công lao động trong CN,TTCN phải chú ý đến tất cả các nhân tố về
nguồn lực bao gồm : đất đai, tài nguyên, lao động, trình độ t liệu lao động ,
trong đó nhân tố con ngời có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó, các yếu tố phong
tục, tập quán, tâm lý, truyền thống của một dân tộc, một địa phơng cũng gây
ảnh hởng không ít đến quá trình phân công lao động xã hội và trong lĩnh vực
CN,TTCN.
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi đổi mới kinh tế đất nớc, nhờ có đ-
ờng lối, chính sách, pháp luật đúng đắn và có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của
Đảng và Nhà nớc, nhân dân ta đã phát huy cao độ các nhân tố chủ quan, tận
dụng mọi điều kiện khách quan thuận lợi, đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát
triển kinh tế xã hội và đã thu đợc những thành tựu rất to lớn và toàn diện. Cùng
với việc đẩy mạnh phân công lao động xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành kinh tế nhất là sự phát triển vợt bậc của sản xuất CN,TTCN, cơ cấu lao
động công nghiệp và lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp nớc ta cũng có những biến
đổi lớn. Việc phát triển các ngành công nghiệp dệt may, da, giày, các khu công
nghiệp, khu chế xuất, các công trình xây dựng công nghiệp và giao thông, thuỷ
lợi đã thu hút một l ợng lớn lao động, cả lao động mới và lao động đang làm
việc trong nông nghiệp, nông thôn vào làm việc trong những cơ sở CN,TTCN,
đặc biệt và phổ biến là ở các làng nghề thủ công truyền thống, các cụm, điểm,
khu công nghiệp xây dựng mới. Bên cạnh đó, những năm qua đã diễn ra một
hoạt động có tác động rất lớn đến cơ cấu tổ chức ngành công nghiệp và lao
động ngành công nghiệp đó là việc tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà n-
10
ớc. Qua đó, làm cho lực lợng, cơ cấu và trình độ lao động trong công nghiệp
cũng có sự biến đổi và Hà Tây không nằm ngoài xu hớng đó. Một nhân tố có
tác động lớn đến cơ cấu và chất lợng lao động CN,TTCN là công tác đào tạo
cán bộ và công nhân kỹ thuật. Những năm qua quy mô đào tạo lao động của
nhà nớc ta ngày càng tăng, cung cấp ngày càng nhiều những cán bộ, công nhân

nớc ta.
Cùng với những khó khăn, thử thách trên. đẩy mạnh phân công lao động
trong CN,TTCN ở nớc ta đang diễn ra trong điều kiện nền kinh tế có nhiều mâu
thuẫn gay gắt : mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp bách phải cải thiện đời sống nhân
dân với yêu cầu tăng tích luỹ để đẩy mạnh CNH,HĐH đất nớc; giữa yêu cầu mở
rộng sản xuất, tạo việc làm, thu hút lao động mới tăng lên với khả năng tích luỹ
đầu t trong nớc còn hạn chế; giữa yêu cầu đẩy mạnh cơ giới hoá, tự động hoá
sản xuất, hiện đại hoá ngành công nghiệp với yêu cầu giải quyết việc làm,
chống thất nghiệp cho đội ngũ lao động đông đảo mà phần lớn cha qua đào tạo
chuyên môn kỹ thuật; giữa trình độ, năng lực có hạn của đội ngũ cán bộ làm
công tác lao động xã hội với tính chất, yêu cầu công tác quản lý lao động trong
điều kiện kinh tế thị trờng, mở cửa và hội nhập với thế giới đó là đòi hỏi có
tính cấp thiết và là một tất yếu kinh tế của quá trình đẩy mạnh phân công lao
động trong CN,TTCN nói riêng và đẩy mạnh phân công lao động xã hội nói
chung.
Phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây không nằm ngoài xu hớng
phân công lao động trong CN,TTCN của cả nớc nh đề cập ở trên đó là quá trình
phân bố lại lực lợng lao động xã hội trên địa bàn tỉnh vào các ngành sản xuất
CN,TTCN, về cơ bản lâu dài lấy phân công lao động trong lĩnh vực công nghiệp
làm trọng tâm. Việc đẩy mạnh phân công lao động xã hội trên địa bàn tỉnh nói
chung và đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN nói riêng theo hớng
CNH,HĐH để khai thác tối đa nguồn lực lao động cho sự phát triển kinh tế.
12
Thực hiện đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN trên cơ sở đẩy mạnh
phân công lao động xã hội trên địa bàn tỉnh và phát triển mạnh mẽ ngành công
nghiệp, các khu, cụm, điểm tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề thủ công
truyền thống phù hợp với điều kiện tự nhiên, vùng lãnh thổ trên địa bàn tỉnh Hà
Tây sẽ góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, tỉnh mạnh, xã hội công bằng dân
chủ văn minh. Để đạt đợc mục tiêu đó Hà Tây cùng với cả nớc phải thực hiện
từng bớc việc đổi mới nâng cao kỹ thuật, công nghệ cho nền kinh tế, đồng thời

vàng gốc và sa khoáng, đồng than bùn, nớc khoáng . với chất l ợng và trữ lợng
cho phép khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp vừa [ Phụ lục 1]. Tuy
nhiên, nguồn tài nguyên khoáng sản có trữ lợng lớn của Hà Tây không nhiều,
chủ yếu là loại khóng sản phục vụ cho công nghiệp khai thác và sản xuất vật
liệu xây dựng. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển CN,TTCN, trong đó có
đẩy mạnh phân công lao động trong hai ngành này.
Về dân số và lao động :
Dân số của Hà Tây tại thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2004 là 2,5 triệu
ngời, với tốc độ tăng bình quân 1,8%/ năm, mật độ dân số trung bình khoảng
1141 ngời/km
2
. Hà Tây là tỉnh đông dân thứ 5 trong 64 tỉnh, thành phố của cả
nớc. Nhng chỉ có gần 10% dân số sống ở thành thị và có hơn 90% dân số sống ở
nông thôn. Có 9 xã đồng bào dân tốc ít ngời trong đó có 7 xã ở vùng núi Ba Vì
với số dân trên 29000 ngời chủ yếu là dân tộc Mờng.
Số dân trong độ tuổi lao động của Hà Tây trên 1,2 triệu ngời (1268000),
trong đó lao động ở khu vực nông thông chiếm gần 90% , riêng lao động nông
nghiệp gần 70 %. Hàng năm có thêm 3,3 vạn đến 3,7 vạn ngời vào độ tuổi lao
động, trừ số ngời vào độ tuổi lao động tiếp tục đi học phổ thông trung học thì
còn khoảng trên 2 vạn ngời cần đợc giải quyết việc làm mới hoặc cần có thêm
việc làm [ tr 38]. Có thể thấy ràng nguồn nhân lực của Hà Tây tơng đối dồi
dào, lại chụi ảnh hởng lan toả của văn minh đô thị và tốc độ phát triển các khu,
cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống, do đó có khả
năng nhanh nhạy tiếp thu phát triển sản xuất hàng hoá đây là một thế mạnh.
14
Tuy nhiên, Hà Tây là tỉnh đất hẹp, ngời đông, tốc độ tăng dân số và theo đó là
tốc độ tăng lao động nhanh đang là sức ép lớn về việc làm, thu nhập và các vấn
đề xã hội. Lao động ở nông thôn hiện nay đang thiếu việc làm và phổ biến là
thuần nông. Lao động ở thành thị cha có việc làm chiếm tới trên 5% số ngời
hoạt động kinh tế. Nhìn chung, tiềm năng về lao động của Hà Tây là rất lớn,

tỷ lệ giữa các bộ phận lao động trong quá trình phân công lao động nhằm tạo ra
sự cân đối mới, chất lợng mới gọi là quá trình phân công lại lao động trong
CN,TTCN ở địa bàn Hà Tây. Phân công lại lao động trong CN,TTCN trớc hết
phải do quá trình phân công lao động lao động trên địa bàn tỉnh quyết định.
Hiệu quả của phân công lại lao động trong CN,TTCN, cách thức tiến hành nh
thế nào phụ thuộc rất nhiều ở hoạt động nỗ lực chủ quan. đẩy mạnh phân công
lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây chính là hoạt động có chủ đích của con ng-
ời, nhằm tạo ra cơ cấu lao động mới chất lợng mới của quá trình phân công lại
lao động của hai ngành này, nhằm tạo ra năng suất lao động cao hơn trong sản
xuất và thúc đẩy CN,TTCN phát triển nhanh, bền vững.Đẩy mạnh phân công
lao động trong CN,TTCN phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nó vừa là
nguyên nhân và vừa là kết quả của tốc độ phát triển của chính CN,TTCN. Để
đẩy nhanh tốc độ phát triển CN,TTCN, giải quyết việc làm cần phải kết hợp đợc
những yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan nhằm hình thành, phân bô lực l-
ợng lao động trong ngành CN,TTCN và các ngành kinh tế khác trên địa bàn
tỉnh. Mọi sự tách rời, tuyệt đối hoá nhân tố khách quan hoặc nhân tố chủ quan
đều đa đến sự trì trệ cho quá trình phát triển CN,TTCN ở địa phơng.
Thực tiễn nghiên cứu quá trình phân công lại lao động trong CN,TTCN ở
Hà Tây với những góc độ tiếp cận khác nhau đã đa đến những quan niệm khác
nhau. Có quan niệm cho rằng phân công lại lao động trong CN,TTCN là quá
trình phân bố lực lợng lao động xã hội trong lĩnh vực CN,TTCN, làm thay đổi
cấu trúc của kết cấu lực lợng lao động CN,TTCN theo yêu cầu của phân công
16
lao động xã hội và phân bố lực lợng lao động ở các ngành kinh tế trên địa bàn
tỉnh [ tr 9]. Đó là một quan niệm đúng, vì nó chỉ ra đặc trng cốt lõi của quá
trình phân công lại lao động trong CN,TTCN, là quá trình tác động mạnh mẽ
vào sự phân bố lực lợng lao động trên địa bàn tỉnh trong lĩnh vực CN,TTCN,
làm thay đổi cấu trúc và mối liên hệ của kết cấu lao động trong CN,TTCN ở Hà
Tây. Đồng thời thấy đợc mối quan hệ giứa phân công lại lao động trong
CN,TTCN với phân công lao động xã hội. Song quan niệm trên còn cha đầy đủ

động trong nội bộ ngành CN,TTCN. Cho nên, nó vừa thay đổi cấu trúc, sắp xếp
lại lao động trong nội bộ ngành CN,TTCN, vừa thu hút thêm lao động xã hội
vào phát triển CN,TTCN. Quá trình đó nhằm chuyển dịch, bố trí lao động từ
trạng thái lạc hậu, mất cân đối, chủ yếu dựa vào lao động thủ công giản đơn, ít
sáng tạo, năng suật hiệu quả thấp, sang lao động có tay nghề cao, đợc đào tạo,
có năng lực trí tuệ, sức sáng tạo ngày càng tăng. Nhờ đó đem lại năng suất, hiệu
quả lao động ngày càng cao trong lĩnh vực CN,TTCN. Từ đó có thể thấy rằng:
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây là quá trình hoạt
động nỗ lực, tự giác, có tổ chức, có kế hoạch của bộ máy chính quyền địa ph-
ơng, của ngành CN,TTCN và nhân dân lao động nhằm toàn dụng các điều
kiện thuận lợi về phát triển CN,TTCN và vị trí địa lý của tỉnh để phân bố lại
lực lợng lao động trong lĩnh vực CN,TTCN làm thay đổi cấu trúc kết cấu lực
lợng lao động và mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phần cấu thành cơ cấu lao
động CN,TTCN theo hớng tăng tỷ trong lao động CN,TTCN, trên cơ sở ứng
dụng công nghệ, phơng tiện, phơng pháp tiên tiến hiện đại, tạo năng suất lao
động cao, bảo đảm cho ngành CN,TTCN trong tỉnh phát triển nhanh, bền
vững.
Với quan niệm trên thì việc đẩy mạnh phân công lao động trong
CN,TTCN ở địa bàn Hà Tây không phải là quá trình tự phát, vô tổ chức, mà là
quá trình tự giác, có tổ chức, có kế hoạch của các cấp uỷ đảng, chính quyền,
18
ngành công nghiệp và nhân dân lao động. Điều này khác với quá trình phân
công lao động theo kiểu tự phát, tự do di chuyển lao động từ nông thôn ra thành
thị, hoặc từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp. Đó cũng là quá
trình kết hợp giữa nhân tố khách quan với nhân tố chủ quan, trong đó nhân tố
khách quan quyết định nội dung, nhân tốt chủ quan quyết định kết quả thực
hiện.
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở địa bàn Hà Tây thực
chất là tạo sự cân đối mới về số lợng, chất lợng lao động, giữa các bộ phận cấu
thành cơ cấu lao động trong lĩnh vực CN,TTCN. Do đó, nội dung, đặc điểm của

ra bên ngoài. Giá trị sản xuất CN,TTCN đạt khá nhng không đều ở các địa ph-
ơng, số lợng doanh nghiệp tăng nhanh nhng quy mô chủ yếu là nhỏ (chiếm
84%). Gần 50 % số doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản và
sản xuất thử. Việc tiếp thu thông tin, áp dụng công nghệ mới, phát triển thị tr-
ờng, chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế còn hạn chế. Tiến hành cổ
phần hoá, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc còn chậm, các lĩnh vực có tiềm
năng cha thu hút đợc các doanh nghiệp có vốn lớn và công nghệ cao. Việc triển
khai cụ thể hoá chơng trình hợp tác công nghiệp với Hà Nội chòn chậm, nhất là
công tác thu hút khuyến khích đầu t vào các vùng xa, các khu, cụm điểm công
nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là khâu giải phóng mặt bằng. Kết cấu hạ tầng ở
các làng nghề còn yếu, lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao trong
nội bộ ngành CN,TTCN còn thiếu. Lực lợng lao động xã hội mới có gần 20 %
đợc đào tạo nghề. Tỷ lệ cha có việc làm ở khu vực thành thị trên 5% và tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động ở nông thôn dới 80%. Nhận thức của các cấp các ngành
về đầu t còn hạn chế nên việc đền bù, giải phóng mặt bằng nhìn chung còn khó
khăn, thời gian kéo dài. Vì vậy, trong thời gian gần đây tỉnh luôn xếp cuối trong
số 64 tỉnh thành cả nớc về khả năng cạnh tranh và môi trờng thu hút đầu t. Điều
đó có ảnh hởng xấu đến việc đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN của
20
Hà Tây.
Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy quá trình đẩy mạnh phân công lao
động trong CN,TTCN phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế của tỉnh
nhằm thúc đẩy cơ cấu lao động trong lĩnh vực CN,TTCN, tăng tỷ trong lao động
công nghiệp, dịch vụ. Từ đó thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao
năng suất lao động, làm cho lĩnh vực kinh tế CN,TTCN phát triển bền vững và
năng động hơn.
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây phải tạo ra sự
cân đối lao động giữa các ngành, các thành phần kinh tế nâng cao mức sống ng-
ời lao động. Đồng thời một mặt phát triển các ngành nghề CN,TTCN làm cơ
cấu ngành nghề thêm đa dạng, mặt khác lại thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi tiến

phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây còn có vai trò quan trọng, tạo
việc làm, giảm thất nghiệp, tham gia thực hiện xoá đói giảm nghèo, đẩy lùi tệ
nạn xã hội, tăng cờng tiềm lực quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phơng trên địa bàn Hà Tây.
Phát triển CN,TTCN nói chung, đẩy mạnh phân công lao động trong
CN,TTCN ở Hà Tây nói riêng bị ràng buộc bởi một số điều kiện nhất định
* Một số nhân tố chi phối đến đẩy mạnh phân công lao động trong
CN,TTCN ở Hà Tây
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây bị chi phối bởi
nhiều nhân tố, nổi lên một số nhân tố cơ bản sau:
Định hớng phát triển kinh tế xã hội của Hà Tây đến năm 2010
Từ điểm xuất phát thấp, từ lợi thế so sánh về phát triển kinh tế, xã hội của
tỉnh. Trong giai đoạn tới đảng bộ và nhân dân Hà Tây xác định là:
Phát huy tinh thần tự chủ, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế, xã hội so với
các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Từ cơ sở kinh tế hiện có chuyển hớng
nhanh theo những lợi thế và khai thác tài nguyên của từng vùng đi liền với đổi
22
mới công nghệ, thiết bị theo hớng CNH,HĐH, tranh thủ thu hút đầu t từ bên
ngoài (gồm trong nớc và ngoài nớc) để tạo ra tốc độ tăng trởng kinh tế nhanh,
hiệu quả kinh tế xã hội cao, sớm có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh nhằm
biến đổi một bớc rõ rệt về cơ cấu kinh tế và căn bản hình thành cơ cấu kinh tế
mới vào năm 2010 theo hớng du lịch công nghiệp dịch vụ.
Lựa chọn quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu để phù hợp với điều kiện về tài
nguyên, điều kiện vốn, phù hợp với chính sách khuyến khích nhiều thành phần
kinh tế và nhu cầu sớm cần bằng đợc ngân sách, có tích luỹ. Song thiết bị, công
nghệ phải hiện đại.
Nền kinh tế phát triển hớng về xuất khẩu, trớc hết là xuất khẩu tại chỗ và
xuất khẩu ra nớc ngoài, kết hợp thay thế nhập khẩu đối với những sản phẩm có
nhu cầu nhập khẩu lớn và thị trờng trong nớc có nhu cầu tiêu dùng lâu dài, đồng
thời gắn với sự phát triển của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, tam giác

công nghiệp du lịch; dọc quốc lộ 1A thuộc địa phận Thờng Tín, Phú Xuyên
phát triển công nghiệp chế biến và đồ uống.
Khả năng và điều kiện phát triển kinh tế của CN,TTCN ở Hà Tây
Xuất phát từ định hớng phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2010 của tỉnh
với lợi thế về địa lý, tài nguyên và lao động, khả năng và điều kiện phát triển
kinh tế của CN,TTCN trên địa bàn tỉnh Hà Tây là rất to lớn. Là một tỉnh có
nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng (nh đã đề cập ở trên) là điều kiện thuận
lợi cho phép Hà Tây khai thác chế biến ở quy mô công nghiệp lớn và vừa. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu t vào sản xuất
CN,TTCN tăng nhanh và đợc sắp xếp chuyển đổi theo chiều hớng tích cực, hiệu
quả. Tính đến nay, theo báo cáo tổng kết của ngành công nghiệp (tháng 4 năm
2005) toàn ngành công nghiệp có trên 1000 đơn vị sản xuất kinh doanh với hơn
200.000 lao động. Khối doanh nghiệp trong nớc đã đầu t vào Hà Tây 360 tỷ
đồng, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã đầu t 240 tỷ đồng. Đây là
24
nguồn vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Một số dự án lớn nh giai đoạn
1 nhà máy xi măng Mỹ Đức 1,4 triệu tấn/ năm có số vốn đầu t trên 2000 tỷ
đồng, nhà máy thuốc lá Thăng Long đợc bố trí 14 ha đất trong cụm công nghiệp
thị trấn Quốc Oai có số vốn trên 700 tỷ. Nhà máy xà phòng Hà Nội di chuyển
bố trí tại Yên Nghĩa (Chơng Mỹ) vốn đầu t gần 1000 tỷ đồng. Đây là những khả
năng và điều kiện lớn để nâng tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng nhanh.
Về khả năng lao động và nguồn nhân lực, lực lợng lao động thờng xuyên
toàn ngành hiện đang có trên 200 ngàn ngời, trong đó khối doanh nghiệp trung -
ơng 7000 ngời, công nghiệp quốc doanh địa phơng khoảng hơn 5000 ngời, khối
doanh nghiệp có vốn dầu t nớc ngoài gần 7000 ngời và khối đơn vị ngoài quốc
doanh trên 180 ngàn ngời. Ngoài ra còn một lực lợng lớn lao động CN,TTCN có
tay nghề làm việc trong các làng nghề thủ công truyền thống ở khu vực nông
nghiệp nông thôn.
Từ những vấn đề trên cho thấy Hà Tây là tỉnh có khả năng rất lớn và điều
kiện thuận lợi để phát triển mạnh kinh tế CN,TTCN điều đó cho phép địa phơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status