KHU VỰC PHÒNG THỦ TỈNH HÀ TÂY DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐẨY MẠNH PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG CÔNG NGHIỆPTIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở ĐỊA PHƯƠNG - Pdf 63

KHU VỰC PHÒNG THỦ TỈNH HÀ TÂY DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA ĐẨY
MẠNH PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG CÔNG NGHIỆPTIỂU THỦ
CÔNG NGHIỆP Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.1 phân công lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khu
vực phòng thủ tỉnh Hà Tây - một số vấn đề lý luận cơ bản
1.1.1. Mấy vấn đề lý luận về phân công lao động trong công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp ở Hà Tây
* Phân công lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Hà Tây
CN,TTCN là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế.
Phát triển sản xuất và đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN sẽ góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để có quan niêm đúng về phân công lao động trong
CN,TTCN ở Hà Tây cần làm rõ một số quan niệm có liên quan.
Phân công lao động xã hội là quá trình phân bố lực lượng lao động xã hội
vào các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội …Trong đó các ngành kinh tế là trọng tâm.
Phân công lao động xã hội chính là sự chuyên môn hoá sản xuất thành những
ngành nghề khác nhau, là sự tách biệt các loại lao động khác nhau trong xã hội,
trong đó người sản xuất tiến hành những hoạt động sản xuất khác loại. Nền kinh tế
quốc dân chia ra thành các ngành, cũng như các ngành đó lại chia ra thành các loại
và thứ khác nhau. Theo C.Mác “trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một
dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát triển của sự phân công lao động xã hội”
[ 1.tr 30].
Phân công lao động là tất yếu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu cuộc sống xã
hội. Quá trình phân công lao động diễn ra từng bước theo trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Ngược lại phân công lao động lại có tác dụng thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Đặc biệt, phân công lao động có ý nghĩa to lớn là đòn
bẩy mạnh mẽ của sản xuất trước ngày xuất hiện của sản xuất lớn. V.I. Lê nin viết :
“ trong nền sản xuất dựa trên cơ sở lao động thủ công, kỹ thuật chỉ có thể tiến bộ
được dưới hình thức của sự phân công thôi” [2.tr.535].
Sự phân công lao động trong xã hội thể hiện sự phân công chung theo loại
sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp… và sự phân công riêng phân chia các loại

Trong nền kinh tế XHCN sự phân công lao động giữa hai ngành công nghiệp
và nông nghiệp cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân được diễn ra một
cách tự giác, có tổ chức, có kế hoạch, con người thực sự làm chủ quá trình sản
xuất. Dưới CNXH sự phân công lao động xã hội được kết hợp chặt chẽ vàthống
nhất giữa các cơ sở sản xuất, các địa phương, các ngành và toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Chính vì vậy, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, để phát
triển kinh tế xây dựng CNXH bắt buộc phải tiến hành phân công lại lao động xã
hội.
Thực tiễn đã chứng minh, điều kiện của sự phân công lao động xã hội là sự
phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội phản ánh trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Đến lượt nó, sự phân công lao động lại là
nhân tố phát triển của lực lượng sản xuất. Bởi lẽ, phân công lao động dẫn đến sự
tách biệt các loại lao động khác nhau, tạo điều kiện cho người lao động tích luỹ
kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn và kiến thức của họ, từ đó tiếp tục
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Phân công lao động xã hội phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội đồng thời mỗi bước tiến của sự phân công lao động xã hội lại có tác
dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Phân công lao động xã hội vừa là kết
quả, vừa là tiền đề của sự phát triển lực lượng sản xuất mà trước hết là sự phát triển
của công cụ lao động. Phân công lao động xã hội thường bắt đầu từ trong nông
nghiệp rồi sau đó mới lan sang các ngành khác. Quá trình mở rộng phân công lao
động xã hội đồng thời là quá trình phát triển của sản xuất hàng hoá, phá vỡ dần
tính chất tự cấp, tự túc, khép kín của nền sản xuất nhỏ, mở rộng quan hệ trao đổi,
hợp tác ra phạm vi quốc tế. Có hai loại phân công lao động chủ yếu là trong xã hội
và trong xí nghiệp. Phân công lao động xã hội và phân công lao động trong nội bộ
xí nghiệp có liên hệ chặt chẽ với việc chuyên môn hoá nghề nghiệp của từng
người.
Từ sự khái quát lý luận về phân công lao động xã hội nói chung ta thấy sự
phân công lao động trong nội bộ xí nghiệp được gọi là phân công lao động cá biệt.
C. Mác viết : “nếu người ta chỉ xét riêng bản thân lao động thôi thì người ta có thể

xã hội vào các ngành sản xuất CN,TTCN, trong đó lấy công nghiệp làm trọng tâm.
Trên thực tế các ngành kinh tế nói chung, ngành CN,TTCN nói riêng luôn phát
triển và biến đổi, cơ cấu ngành CN,TTCN cũng biến đổi không ngừng. Do đó quá
trình phân công lao động trong CN,TTCN cũng không kết thúc mà là quá trình liên
tục. Trong điều kiện nước ta hiện nay, cùng với quá trình đẩy mạnh phân công lao
động xã hội, và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH, việc
đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN là một tất yếu khách quan. Điều đó
không chỉ xuất phát từ yêu cầu phát triển các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội mà còn
để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc
tế, chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nhằm xây dựng thành
công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Là một nước nông nghiệp với gần 80 % dân số và hơn 70% lực lượng lao
động sống ở nông thôn và làm nông nghiệp, vấn đề đặt ra cho nước ta là phải đẩy
nhanh quá trình phân công lao động xã hội trước hết là trong nông nghiệp, nông
thôn theo hướng CNH,HĐH, đồng thời đẩy mạnh việc phân công lao động trong
CN,TTCN. Song, việc đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN cũng như
phân công lao động trong nông nghiệp, nông thôn đều chịu sự tác động của môi
trường tự nhiên, xã hội và vị trí địa lý của mỗi vùng, miền trong nước. Ở những vị
trí địa lý khác nhau việc đẩy mạnh phân công lao động nói chung và phân công lao
động trong CN,TTCN theo hướng CNH,HĐH cũng có sự khác nhau. Khi đẩy
mạnh phân công lao động trong CN,TTCN phải chú ý đến tất cả các nhân tố về
nguồn lực bao gồm : đất đai, tài nguyên, lao động, trình độ tư liệu lao động …,
trong đó nhân tố con người có ý nghĩa quyết định. Bên cạnh đó, các yếu tố phong
tục, tập quán, tâm lý, truyền thống của một dân tộc, một địa phương cũng gây ảnh
hưởng không ít đến quá trình phân công lao động xã hội và trong lĩnh vực
CN,TTCN.
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi đổi mới kinh tế đất nước, nhờ có
đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn và có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của
Đảng và Nhà nước, nhân dân ta đã phát huy cao độ các nhân tố chủ quan, tận dụng
mọi điều kiện khách quan thuận lợi, đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển kinh

dân số, lao động phân bố không đều giữa các vùng, lãnh thổ, tỷ lệ tăng dân số cao
nhất là ở các vùng nông thôn đã và đang ảnh hưởng lớn, lâu dài đến đẩy mạnh
phân công lao động trong CN,TTCN. Trình độ dân trí của nước ta nhìn chung còn
thấp, đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trình độ văn hoá
và chuyên môn kỹ thuật của người lao động cũng còn hạn chế, lao động phổ thông
chưa qua đào tạo chuyên môn còn chiếm tỷ lệ rất cao, chưa đáp ứng được yêu cầu
đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN. Trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nước, tình trạng di dân tự do, chuyển dịch lao động tự phát từ nông
thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác trong những năm gần đây đã gây ảnh
hưởng lớn đến việc phân công lao động xã hội cũng như phân công lao động trong
lĩnh vực CN,TTCN và làm đảo lộn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
của địa phương và vùng kinh tế. Hơn nữa, quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới, yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
những năm tới đang đặt ra đòi hỏi lớn đối với việc phân công lao động xã hội và
đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở nước ta.
Cùng với những khó khăn, thử thách trên. đẩy mạnh phân công lao động
trong CN,TTCN ở nước ta đang diễn ra trong điều kiện nền kinh tế có nhiều mâu
thuẫn gay gắt : mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp bách phải cải thiện đời sống nhân dân
với yêu cầu tăng tích luỹ để đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước; giữa yêu cầu mở rộng
sản xuất, tạo việc làm, thu hút lao động mới tăng lên với khả năng tích luỹ đầu tư
trong nước còn hạn chế; giữa yêu cầu đẩy mạnh cơ giới hoá, tự động hoá sản xuất,
hiện đại hoá ngành công nghiệp với yêu cầu giải quyết việc làm, chống thất nghiệp
cho đội ngũ lao động đông đảo mà phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ
thuật; giữa trình độ, năng lực có hạn của đội ngũ cán bộ làm công tác lao động xã
hội với tính chất, yêu cầu công tác quản lý lao động trong điều kiện kinh tế thị
trường, mở cửa và hội nhập với thế giới…đó là đòi hỏi có tính cấp thiết và là một
tất yếu kinh tế của quá trình đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN nói
riêng và đẩy mạnh phân công lao động xã hội nói chung.
Phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây không nằm ngoài xu hướng
phân công lao động trong CN,TTCN của cả nước như đề cập ở trên đó là quá trình

Tài nguyên đất của Hà Tây tương đối đa dạng với nhiều loại đất có độ phì
cao, khí hậu ở đây mang sắc thái nhiệt đới gió mùa; có mùa hè nóng, mưa nhiều và
mùa đông lạnh mưa ít. Với điều kiện đất đai và khí hậu nêu trên Hà Tây có điều
kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp đa dạng, với nhiều loại cây trồng ngắn
ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa
tác dụng với hệ thống canh tác cây công nghiệp và cây nông nghiệp. Đây là điều
kiện thuận lợi để phát triển CN,TTCN phục vụ cho nông nghiệp.
Về tài nguyên khoáng sản :
Hà Tây có một số khoáng sản chính như đá vôi, đá Granit, sét cao lanh, vàng
gốc và sa khoáng, đồng than bùn, nước khoáng…. với chất lượng và trữ lượng cho
phép khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp vừa [ Phụ lục 1]. Tuy nhiên,
nguồn tài nguyên khoáng sản có trữ lượng lớn của Hà Tây không nhiều, chủ yếu là
loại khóng sản phục vụ cho công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển CN,TTCN, trong đó có đẩy mạnh phân
công lao động trong hai ngành này.
Về dân số và lao động :
Dân số của Hà Tây tại thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2004 là 2,5 triệu người,
với tốc độ tăng bình quân 1,8%/ năm, mật độ dân số trung bình khoảng 1141
người/km
2
. Hà Tây là tỉnh đông dân thứ 5 trong 64 tỉnh, thành phố của cả nước.
Nhưng chỉ có gần 10% dân số sống ở thành thị và có hơn 90% dân số sống ở nông
thôn. Có 9 xã đồng bào dân tốc ít người trong đó có 7 xã ở vùng núi Ba Vì với số
dân trên 29000 người chủ yếu là dân tộc Mường.
Số dân trong độ tuổi lao động của Hà Tây trên 1,2 triệu người (1268000),
trong đó lao động ở khu vực nông thông chiếm gần 90% , riêng lao động nông
nghiệp gần 70 %. Hàng năm có thêm 3,3 vạn đến 3,7 vạn người vào độ tuổi lao
động, trừ số người vào độ tuổi lao động tiếp tục đi học phổ thông trung học thì còn
khoảng trên 2 vạn người cần được giải quyết việc làm mới hoặc cần có thêm việc
làm [ tr 38]. Có thể thấy ràng nguồn nhân lực của Hà Tây tương đối dồi dào, lại

Phân công lại lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây hiểu theo nghĩa chung
nhất được hình thành bở mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành lực lượng
lao động trong lĩnh vực CN,TTCN nằm trong tổng thể lực lượng lao động xã hội
của địa bàn tỉnh. Nó phản ánh mối quan hệ, tỷ lệ số lượng và chất lượng giữa các
bộ phận cấu thành bên trong của lực lượng lao động CN,TTCN, các làng nghề thủ
công truyền thống và có quan hệ chặt chẽ với lực lượng lao động xã hội trên địa
bàn cũng như cơ cấu lao động trong tỉnh. Sự thay đổi cấu trúc và mối quan hệ tỷ lệ
giữa các bộ phận lao động trong quá trình phân công lao động nhằm tạo ra sự cân
đối mới, chất lượng mới gọi là quá trình phân công lại lao động trong CN,TTCN ở
địa bàn Hà Tây. Phân công lại lao động trong CN,TTCN trước hết phải do quá
trình phân công lao động lao động trên địa bàn tỉnh quyết định. Hiệu quả của phân
công lại lao động trong CN,TTCN, cách thức tiến hành như thế nào phụ thuộc rất
nhiều ở hoạt động nỗ lực chủ quan. đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN
ở Hà Tây chính là hoạt động có chủ đích của con người, nhằm tạo ra cơ cấu lao
động mới chất lượng mới của quá trình phân công lại lao động của hai ngành này,
nhằm tạo ra năng suất lao động cao hơn trong sản xuất và thúc đẩy CN,TTCN phát
triển nhanh, bền vững.Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó nó vừa là nguyên nhân và vừa là kết quả của tốc độ phát
triển của chính CN,TTCN. Để đẩy nhanh tốc độ phát triển CN,TTCN, giải quyết
việc làm cần phải kết hợp được những yếu tố khách quan và nhân tố chủ quan
nhằm hình thành, phân bô lực lượng lao động trong ngành CN,TTCN và các ngành
kinh tế khác trên địa bàn tỉnh. Mọi sự tách rời, tuyệt đối hoá nhân tố khách quan
hoặc nhân tố chủ quan đều đưa đến sự trì trệ cho quá trình phát triển CN,TTCN ở
địa phương.
Thực tiễn nghiên cứu quá trình phân công lại lao động trong CN,TTCN ở Hà
Tây với những góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa đến những quan niệm khác nhau.
Có quan niệm cho rằng phân công lại lao động trong CN,TTCN là quá trình phân
bố lực lượng lao động xã hội trong lĩnh vực CN,TTCN, làm thay đổi cấu trúc của
kết cấu lực lượng lao động CN,TTCN theo yêu cầu của phân công lao động xã hội
và phân bố lực lượng lao động ở các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh [ tr 9]. Đó là

người trên cơ sở nhận thức được quy luật khách quan.
Với cách tiếp cận đó, nội hàm của quá trình đẩy mạnh phân công lao động
trong CN,TTCN ở Hà Tây phải là quá trình thúc đẩy sự phân công lại, phân bố lại
lao động trong lĩnh vực CN,TTCN, đó là quá trình phân công lại lao động trong nội
bộ ngành CN,TTCN. Cho nên, nó vừa thay đổi cấu trúc, sắp xếp lại lao động trong
nội bộ ngành CN,TTCN, vừa thu hút thêm lao động xã hội vào phát triển
CN,TTCN. Quá trình đó nhằm chuyển dịch, bố trí lao động từ trạng thái lạc hậu,
mất cân đối, chủ yếu dựa vào lao động thủ công giản đơn, ít sáng tạo, năng suật
hiệu quả thấp, sang lao động có tay nghề cao, được đào tạo, có năng lực trí tuệ, sức
sáng tạo ngày càng tăng. Nhờ đó đem lại năng suất, hiệu quả lao động ngày càng
cao trong lĩnh vực CN,TTCN. Từ đó có thể thấy rằng: Đẩy mạnh phân công lao
động trong CN,TTCN ở Hà Tây là quá trình hoạt động nỗ lực, tự giác, có tổ chức,
có kế hoạch của bộ máy chính quyền địa phương, của ngành CN,TTCN và nhân dân
lao động nhằm toàn dụng các điều kiện thuận lợi về phát triển CN,TTCN và vị trí
địa lý của tỉnh để phân bố lại lực lượng lao động trong lĩnh vực CN,TTCN làm thay
đổi cấu trúc kết cấu lực lượng lao động và mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phần cấu
thành cơ cấu lao động CN,TTCN theo hướng tăng tỷ trong lao động CN,TTCN, trên
cơ sở ứng dụng công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, tạo năng
suất lao động cao, bảo đảm cho ngành CN,TTCN trong tỉnh phát triển nhanh, bền
vững.
Với quan niệm trên thì việc đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN
ở địa bàn Hà Tây không phải là quá trình tự phát, vô tổ chức, mà là quá trình tự
giác, có tổ chức, có kế hoạch của các cấp uỷ đảng, chính quyền, ngành công nghiệp
và nhân dân lao động. Điều này khác với quá trình phân công lao động theo kiểu tự
phát, tự do di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị, hoặc từ lao động nông
nghiệp sang lao động công nghiệp. Đó cũng là quá trình kết hợp giữa nhân tố
khách quan với nhân tố chủ quan, trong đó nhân tố khách quan quyết định nội
dung, nhân tốt chủ quan quyết định kết quả thực hiện.
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở địa bàn Hà Tây thực chất
là tạo sự cân đối mới về số lượng, chất lượng lao động, giữa các bộ phận cấu thành

lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ (chiếm 84%). Gần
50 % số doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản và sản xuất thử.
Việc tiếp thu thông tin, áp dụng công nghệ mới, phát triển thị trường, chuẩn bị hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế còn hạn chế. Tiến hành cổ phần hoá, sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước còn chậm, các lĩnh vực có tiềm năng chưa thu hút được các
doanh nghiệp có vốn lớn và công nghệ cao. Việc triển khai cụ thể hoá chương trình
hợp tác công nghiệp với Hà Nội chòn chậm, nhất là công tác thu hút khuyến khích
đầu tư vào các vùng xa, các khu, cụm điểm công nghiệp còn hạn chế, đặc biệt là
khâu giải phóng mặt bằng. Kết cấu hạ tầng ở các làng nghề còn yếu, lao động có
trình độ chuyên môn và tay nghề cao trong nội bộ ngành CN,TTCN còn thiếu. Lực
lượng lao động xã hội mới có gần 20 % được đào tạo nghề. Tỷ lệ chưa có việc làm
ở khu vực thành thị trên 5% và tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn dưới
80%. Nhận thức của các cấp các ngành về đầu tư còn hạn chế nên việc đền bù, giải
phóng mặt bằng nhìn chung còn khó khăn, thời gian kéo dài. Vì vậy, trong thời
gian gần đây tỉnh luôn xếp cuối trong số 64 tỉnh thành cả nước về khả năng cạnh
tranh và môi trường thu hút đầu tư. Điều đó có ảnh hưởng xấu đến việc đẩy mạnh
phân công lao động trong CN,TTCN của Hà Tây.
Từ những đặc điểm nêu trên cho thấy quá trình đẩy mạnh phân công lao
động trong CN,TTCN phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế của tỉnh nhằm
thúc đẩy cơ cấu lao động trong lĩnh vực CN,TTCN, tăng tỷ trong lao động công
nghiệp, dịch vụ. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất
lao động, làm cho lĩnh vực kinh tế CN,TTCN phát triển bền vững và năng động
hơn.
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây phải tạo ra sự cân
đối lao động giữa các ngành, các thành phần kinh tế nâng cao mức sống người lao
động. Đồng thời một mặt phát triển các ngành nghề CN,TTCN làm cơ cấu ngành
nghề thêm đa dạng, mặt khác lại thúc đẩy việc áp dụng rộng rãi tiến bộ khoa học
công nghệ mới vào sản xuất. Theo đó người lao động có điều kiện tiếp thu khoa
học kỹ thuật, công nghệ, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để nâng cao năng
suất, cải thiện đời sống nhân dân, trên cơ sở đó thúc đẩy CN,TTCN phát triển vững

Phát triển CN,TTCN nói chung, đẩy mạnh phân công lao động trong
CN,TTCN ở Hà Tây nói riêng bị ràng buộc bởi một số điều kiện nhất định
* Một số nhân tố chi phối đến đẩy mạnh phân công lao động trong
CN,TTCN ở Hà Tây
Đẩy mạnh phân công lao động trong CN,TTCN ở Hà Tây bị chi phối bởi
nhiều nhân tố, nổi lên một số nhân tố cơ bản sau:
Định hướng phát triển kinh tế xã hội của Hà Tây đến năm 2010
Từ điểm xuất phát thấp, từ lợi thế so sánh về phát triển kinh tế, xã hội của
tỉnh. Trong giai đoạn tới đảng bộ và nhân dân Hà Tây xác định là:

Trích đoạn Tác động không tích cực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status