1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
NGUYỄN THỊ THANH NGỌC Đề tài KẾT TỪ TIẾNG VIỆT TRONG MỘT SỐ SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY KẾT TỪ
TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Ngọc Cân
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
4. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
8
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
4.2. Tƣ liệu
9
5. Bố cục của luận văn
10
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT TỪ TIẾNG VIỆT
11
1.1. Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về kết từ tiếng Việt
11
1.2. Tình hình nghiên cứu về kết từ tiếng Việt
15
1.2.1. Những nghiên cứu về mặt hình thức
15
1.2.2. Những nghiên cứu về mặt nội dung
20
1.2.3. Những nghiên cứu về mặt ngữ dụng
21
1.3. Kết từ tiếng Việt: đặc điểm và kiểu loại
23
1.3.1. Khái niệm về kết từ
23
1.3.2. Phân biệt kết từ với các loại hƣ từ khác
24
1.3.3. Đặc điểm của kết từ tiếng Việt
2.3.2. Các nhận xét và mô tả
58
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ PHƢƠNG PHÁP BIÊN SOẠN
VÀ GIẢNG DẠY KẾT TỪ TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC
NGOÀI
92
3.1. Một số vấn đề về lý thuyết dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
92
3.1.1. Dạy tiếng Việt phù hợp với mục đích của ngƣời học
92
3.1.2. Dạy phù hợp với đối tƣợng học
93
3.1.3. Dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài phải căn cứ vào trình
độ của ngƣời học
95
3.2. Vấn đề biên soạn phần kết từ trong sách tiếng Việt cho người
nước ngoài
99
3.2.1. Số lƣợng các kết từ trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời
nƣớc ngoài
99
3.2.2. Đề xuất về số lƣợng và sự phân chia kết từ trong sách dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài
104
4
3.3. Phương pháp dạy kết từ tiếng Việt
105
3.3.1. Nội dung và các phƣơng pháp giảng dạy
105 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Tôi may mắn đƣợc tiếp xúc với những ngƣời nƣớc ngoài học tiếng
Việt, có nhiều ngƣời nêu lên thắc mắc liên quan đến những hiện tƣợng ngữ
pháp của tiếng Việt. Những câu hỏi của họ không phải lúc nào cũng trả lời
đƣợc dễ dàng. Với tƣ cách là ngƣời bản ngữ, đồng thời đƣợc học tập và
nghiên cứu về tiếng Việt, tôi ngày một mong muốn có điều kiện giải đáp
đƣợc những câu hỏi đó. Đấy là một trong những động lực cũng nhƣ nguồn
an ủi lớn cho tôi khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Những câu hỏi đó luôn
hiện lên trong tâm trí tôi, ám ảnh tôi trong suốt thời gian qua. Nó thôi thúc
tôi tìm kiếm câu trả lời để ít nhiều giải đáp đƣợc phần nào. Ban đầu từ
những thắc mắc của những ngƣời không chuyên về nghiên cứu ngôn ngữ:
Tại sao gọi là kết từ hay quan hệ từ? Tại sao gọi là liên từ? Tại sao gọi là
giới từ? Đến những câu hỏi của những ngƣời nghiên cứu về tiếng Việt: Có
bao nhiêu kết từ trong một văn bản bình thƣờng? Có những kết từ nào đƣợc
sử dụng nhiều, kết từ nào đƣợc sử dụng ít hơn? Các kết từ này có thể thay
thế đƣợc cho nhau không? Những câu hỏi kiểu này sẽ đƣợc giải đáp dƣới
lí thuyết của một phân ngành ngữ pháp học, ngữ pháp học thực hành nhằm
đáp ứng những nhu cầu Giáo dục ngôn ngữ của xã hội. Ngày nay, giáo dục
ngôn ngữ đƣợc thể hiện qua qua trình dạy và học tập trung vào 3 đối tƣợng:
1. Học và dạy ngoại ngữ, 2. Học và dạy bản ngữ, 3. Dạy và học trong điều
kiện song ngữ.
Bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và việc dạy tiếng có nhiều ý
kiến khác nhau. Nhiều tác giả cho rằng ngôn ngữ học không có mối quan hệ
gì đối với việc dạy và học ngoại ngữ. Đây là hai mảng vấn đề tƣơng đối tách
Nam thì tình hình thế nào?
Ở nƣớc ta, cùng với chính sách mở cửa, dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc
ngoài đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Từ năm 1956,
cùng với sự phát triển của trƣờng Đại học Tổng hợp, một bộ môn dạy tiếng
Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ra đời và phát triển. Cho đến những năm 80 của
1
“Ngôn ngữ học” (Khuynh hƣớng-Lĩnh vực-Khái niệm. Tập II) Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam,
NXBKHXH HN 1986.
7
thế kỉ 20, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm giúp việc dạy và học
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài có hiệu quả hơn đƣợc quan tâm chú ý. Đặc
biệt là vào những năm 90 có sự phát triển vƣợt bậc về cả số lƣợng và chất l-
ƣợng những công trình nghiên cứu tiếng Việt có tính chất nhƣ một ngoại
ngữ. (Hàng trăm bài nghiên cứu về tiếng Việt và dạy tiếng Việt đƣợc tập
hợp trong các kỷ yếu các năm 1995, 1997,…). Qua đó, các nhà ngôn ngữ
học đã quan tâm đề cập và giải quyết nhiều vấn đề khác nhau của tiếng Việt,
góp phần tích cực vào việc giới thiệu và phổ biến tiếng Việt với các nƣớc
trên thế giới.
Trƣớc hết để thực hiện đƣợc chức năng to lớn mà lịch sử đề ra cho
mình, các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu từ rất sớm về
các bình diện, các yếu tố của ngôn ngữ. Các tác giả đã chú ý đề cập đến các
bộ phận của ngôn ngữ trong các công trình dạy tiếng Việt. Điều đó chứng tỏ
việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã đƣợc coi là một bộ phận trong
nghiên cứu tiếng Việt và đã áp dụng những kết quả nghiên cứu tiếng Việt
vào việc dạy tiếng. Các công trình dạy tiếng không chỉ đề cập đến thực từ,
cấu trúc câu mà còn chú ý đến hƣ từ trong đó có kết từ. Tuy nhiên những
công trình nghiên cứu theo quan niệm cũ cho chúng ta một bức tranh đơn
giản về kết từ. Kết từ không đƣợc đánh giá cao. Khi nghiên cứu về kết từ
giữa hai đối tƣợng này qui định việc dạy tiếng Việt cho họ là khác nhau.
Theo chúng tôi việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài là việc dạy cho họ
một ngôn ngữ khác trong khi họ đã có một tiếng mẹ đẻ nên chúng ta phải
chú ý đến sự khác biệt về ngôn ngữ. Hay là sự khác biệt giữa tiếng Việt với
các ngôn ngữ khác (ngôn ngữ mẹ đẻ của ngƣời học). Trong những đặc trƣng
này phải kể đến vai trò của kết từ trong tiếng Việt so với các kết từ của các
ngôn ngữ khác. Đặc biệt hơn trong so sánh với các ngôn ngữ tổng hợp tính
và các ngôn ngữ biến hình. Trong tƣơng quan với các ngôn ngữ thuộc loại
hình khác, ngôn ngữ đơn lập đã sử dụng hƣ từ trong đó có kết từ nhƣ là ph-
ƣơng tiện chủ yếu, quan trọng, để biểu hiện mối quan hệ giữa các từ và tạo
nên các chức năng ngữ pháp khác nhau. Nói cách khác, vị trí, chức năng, vai
9
trò của kết từ là rất quan trọng trong ngữ pháp tiếng Việt cũng nhƣ trong
việc dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
Tuy nhiên, để có những thành công trong việc nghiên cứu hoàn chỉnh
về kết từ trong việc dạy tiếng chúng ta cần phải có những công trình khoa
học lớn của tập thể các nhà khoa học. Trong điều kiện hạn chế của luận văn
chúng tôi xin tập trung giải quyết một phần nhỏ trong vấn đề rất rộng đó. Đó
là chúng tôi mong muốn nhìn nhóm hƣ từ này dƣới một góc độ, góc độ dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Vậy kì vọng của chúng tôi là có thể giải
quyết vấn đề này trong phạm vi tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ để có thể nhìn
thấy đƣợc mặt giống, mặt khác (qua so sánh sơ bộ với ngôn ngữ khác), mặt
thuận lợi, mặt khó khăn của liên từ và giới từ - gọi chung là kết từ - tiếng
Việt trong quá trình dạy tiếng.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống từ loại tiếng Việt, trên đại thể có thể chia thành hai mảng lớn
đó là: hƣ từ và thực từ. Mặc dù hƣ từ chiếm số lƣợng không lớn bằng thực
từ nhƣng các hƣ từ có vai trò rất lớn trong việc diễn đạt mối quan hệ giữa
Luận văn không khảo sát kết từ trong những phần giải thích, hƣớng dẫn
của tác giả để hƣớng ngƣời học đến hội thoại hoặc bài đọc. Ngoài ra luận
văn cũng không đề cập đến kết từ trong những phần yêu cầu của tác giả
trong phần bài tập, bài luyện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích:
Khảo sát hiện trạng sử dụng kết từ trong các sách tiếng Việt cho ngƣời
nƣớc ngoài hiện hành. Qua việc khảo sát này chúng ta có điều kiện chỉ ra
đƣợc những mặt đƣợc, những mặt hạn chế trong điều kiện hiện nay. Thực tế
của chƣơng trình dạy tiếng Việt sẽ giúp cho chúng ta đƣa ra những kiến giải
cụ thể để giải quyết vấn đề.
So sánh kết từ trong các loại văn bản khác nhau của tiếng Việt hiện đại
và trong sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Qua việc so sánh này, chúng
11
ta có thể chỉ ra đƣợc thực tế sử dụng với việc dạy tiếng Việt. Điều đó có thể
nhận thấy sự cập nhật cũng nhƣ hiệu quả từ thực tế của chƣơng trình dạy
tiếng. Thông qua so sánh, chúng ta cũng có thể nhìn nhận lại những công
trình nghiên cứu về tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài một cách khách quan
hơn, trên những cứ liệu thuyết phục.
Sau khi trình bày những số liệu thuyết phục, luận văn đƣa ra những đề
nghị, kiến giải cần thiết cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy kết từ
cho ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt. Đây là mục đích cuối cùng và cũng là
mục đích lớn nhất của luận văn. Để hoàn thiện hơn nữa chƣơng trình, giáo
trình, còn đòi hỏi phải có nhiều đóng góp hơn nữa. Tuy nhiên với hạn chế về
chuyên môn cũng nhƣ sự hạn hẹp của luận văn, chúng tôi chỉ hy vọng đƣa ra
đƣợc những ý kiến nhỏ nhằm đóng góp cho sự hoàn thiện của chƣơng trình,
giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn thực hiện xác định khái niệm, tiêu chí nhận diện kết từ trong
chung về kết từ với một trật tự nhất định.
- Phân tích: Trái với thủ pháp tổng hợp, thủ pháp phân tích chủ yếu
đƣợc tiến hành trong các nhóm kết từ. Tìm những điểm khác biệt của từng
tiểu loại kết từ để phân biệt nó với những tiểu loại gần gũi với nó hoặc khác
xa nó.
- So sánh: Thủ pháp so sánh chủ yếu đƣợc thực hiện trong nội bộ các
kết từ, và giữa sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài với các văn bản khác
nhau.
- Quan sát sƣ phạm: Đƣợc thực hiện qua thực tế công việc của chúng
tôi. Thủ pháp này chủ yếu đƣợc sử dụng để giải quyết những vấn đề còn tồn
tại mà trong quá trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài chúng tôi thấy
chƣa đƣợc giải quyết.
Có thể sử dụng phối hợp các thủ pháp trên, tuỳ theo từng trƣờng hợp cụ
thể, cũng tuỳ đối tƣợng khảo sát cụ thể mà áp dụng thủ pháp nào là chính.
4.2. Tư liệu:
13
Chúng tôi thống kê và mô tả kết từ trong các sách tiếng Việt cho ngƣời
nƣớc ngoài hiện hành. Cụ thể là:
+ Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (I), Trƣờng Đại học Tổng hợp,
Hà Nội 1980.
+ Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (II), Trƣờng Đại học Tổng hợp,
Hà Nội 1980.
+ Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Bùi Phụng, NXB ĐH&GDCN,
1992.
+ Thực hành tiếng Việt dùng cho ngƣời nƣớc ngoài. Nguyễn Việt H-
ƣơng, NXB GD, 1995.
+ Tiếng Việt, Phan Văn Giƣỡng - Nguyễn Anh Quế, NXB GD, 1996.
+ Tiếng Việt cơ sở (I), Đại học Bắc Kinh, 1996.
+ Tiếng Việt cơ sở (II), Đại học Bắc Kinh, 1996.
Chương 3: Một số ý kiến về phương pháp biên soạn và giảng dạy kết
từ tiếng Việt cho người nước ngoài.
Từ những kết quả nghiên cứu ở chƣơng 2, luận văn hƣớng tới một số
ứng dụng đối với việc dạy kết từ cho ngƣời nƣớc ngoài. Nhằm đƣa ra
những phƣơng pháp, giải pháp cho việc biên soạn chƣơng trình, giáo
trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT TỪ TIẾNG VIỆT
1.1. Quan niệm của các nhà Việt ngữ học về kết từ tiếng Việt.
Để giải quyết đƣợc những thắc mắc của ngƣời nƣớc ngoài khi học tiếng
Việt, luận văn phải quay trở lại những nghiên cứu trƣớc đây nhằm tìm hiểu rõ
hơn lịch sử của vấn đề. Thời kì đầu của con ngƣời, con vật, dù không biết
“nói”, “viết” nhƣng cũng biết sử dụng kí hiệu thay cho ngôn ngữ trong quá
15
trình giao tiếp. Bằng chứng là để báo hiệu nơi có thức ăn cũng nhƣ có thú dữ,
con vật có thể hú gọi nhau. Chúng ta cũng không thể phủ nhận những nghiên
cứu của Mác - Angghen về ngôn ngữ và tƣ duy. “Ngôn ngữ cũng cổ xƣa nhƣ
ý thức vậy, ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn và cũng nhƣ ý thức, ngôn
ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với ngƣời khác”
2
. Và
cùng với sự phát triển của tƣ duy, ngôn ngữ ngày càng phát triển và hoàn
thiện sao cho có thể thực hiện đƣợc vai trò to lớn của mình là công cụ của tƣ
duy. Con ngƣời có cuộc sống khi con ngƣời có thể nhận biết đƣợc mình trong
môi trƣờng của cuộc sống. “Tôi tƣ duy nghĩa là tôi tồn tại” giúp cho chúng ta
lý giải mối quan hệ của tƣ duy với thực tế khách quan.
này, chúng tôi điểm lại những quan điểm của các học giả về kết từ tiếng Việt.
Cuốn “Việt Nam văn phạm” (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy
Khiêm, Bùi Kỷ đã nghiên cứu và phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành
13 từ loại. Qua đó chúng ta thấy đƣợc một hệ thống với những từ vựng đƣợc
phân chia theo nhóm từ loại có đặc điểm chung về ngữ pháp. Trong cuốn sách
này mặc dù chƣa có khái niệm về hƣ từ cũng nhƣ kết từ nhƣng các từ vựng có
vai trò là thực từ và các từ vựng đảm nhiệm là hƣ từ đã đƣợc phân biệt và tách
riêng thành những nhóm nhỏ khác nhau. “Giới tự” và “liên tự” mà bây giờ
chúng ta gọi chung là kết từ đã đƣợc gọi tên và là 2 nhóm tƣơng đƣơng với
các từ loại khác nhƣ danh tự, tính tự, mạo tự, đại danh tự
Phan Khôi, là ngƣời đầu tiên đã chú ý đến việc sử dụng thuật ngữ hƣ từ.
Ông chia từ vựng tiếng Việt thành 2 loại: thực từ và hƣ từ. Và nhận thấy vai
trò to lớn của hƣ từ trong tiếng Việt khác nhiều so với tiếng Pháp. Ông đã dẫn
ra một số trƣờng hợp chứng tỏ rằng “Văn pháp làm hệt theo lối tiếng Pháp,
nhiều khi đến bất đồng”
3
Giai đoạn sau (từ những năm 60 đến năm 80 của thế kỉ 20), cùng với sự
phát triển của ngôn ngữ học, từ pháp học cũng có bƣớc phát triển đáng kể.
Nguyễn Kim Thản trong cuốn: “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt. Tập I”
(1963) đã chia từ loại tiếng Việt thành 3 loại: Thực từ, hƣ từ và bán thực từ,
bán hƣ từ. Theo ông “hƣ từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, cho nên ta
3
Trang 172, “Việt ngữ nghiên cứu”, Phan Khôi, 1955.
17
có thể chia chúng theo tác dụng ngữ pháp”. Và căn cứ vào “tác dụng phụ vào
những từ khác” và “quan hệ ngữ pháp giữa từ này với từ khác” mà ta có thể
chia hƣ từ thành 2 nhóm: Phụ trợ từ và quan hệ từ. Trong đó, quan hệ từ bao
nhƣ chất “xúc tác”, nối kết các sự vật, đặt chúng vào một hay nhiều quan hệ
nhất định.
Về mặt làm chức năng trong câu: Thực từ có thể đóng vai trò làm thành
phần câu nhƣng hƣ từ (trong đó có kết từ) về cơ bản không thể làm thành
phần câu. Thực từ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trong câu. Trong khi
đó kết từ chỉ có thể diễn tả đƣợc mối quan hệ giữa các thành phần câu, mối
quan hệ giữa các vế trong câu.
Về mặt ngữ dụng: Hai đặc điểm trên qui định khả năng biểu đạt nghĩa
ngữ dụng của thực từ là khá cụ thể và không phức tạp. Ví dụ: từ “cái bàn”
trong tiếng Việt hoặc “table” trong tiếng Anh chỉ cho ngƣời đọc, ngƣời nghe
thấy hình ảnh của vật thƣờng bằng gỗ có 4 chân, hình vuông hoặc tròn và đ-
ƣợc dùng để học tập, làm việc trong sinh hoạt hàng ngày theo qui ƣớc của
xã hội. Còn nghĩa ngữ dụng của hƣ từ thì vô cùng phong phú. Đặc biệt với
tiếng Việt, khi phƣơng tiện biểu thị ngữ pháp là từ thì vai trò của hƣ từ đặc
biệt quan trọng trong việc biểu đạt dụng ý của những ngƣời tham gia giao
tiếp. Chúng ta thử phân tích vai trò của thực từ và hƣ từ trong câu sau: “Đừng
tƣởng đất này đã hết ma. Ma còn đang đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy!”(1).
Nếu bỏ những hƣ từ in nghiêng ở câu (1) đi ta có câu: “Đừng tƣởng đất này
hết ma. Ma đẻ sinh đôi sinh ba” (2). Ở trƣờng hợp câu (2), về mặt ngữ pháp
không sai. Tuy nhiên, xét về, mặt ý nghĩa ngƣời đọc không nhận thấy đƣợc:
- Trạng thái tồn tại của ma: đã
- Tiến trình của hoạt động đẻ sinh đôi sinh ba của ma: còn, đang, nữa
- Sự thách thức trong lời cảnh báo: cơ, đấy
1.2. Tình hình nghiên cứu về kết từ tiếng Việt.
1.2.1. Những nghiên cứu về mặt hình thức.
19
Lịch sử nghiên cứu Việt ngữ học ở giai đoạn đầu, kết từ chủ yếu đƣợc
nghiên cứu về mặt hình thức. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung
vào vị trí của kết từ trong câu. Có nghĩa là những kết từ đƣợc xem xét với vai
- Tiếng tập hợp liên tự:
+ Sự cộng lại, góp thêm: và, với, cùng, cùng với.
+ Sự luân lƣu: hoặc, hay, hay là
+ Sự kết liễu: thế vậy, nên, cho nên, nên chi, vậy nên, thành thử, bởi rứa,
bởi thế, bởi vậy, vì thế, vì vậy
+ Sự tỏ ý nói thêm lẽ khác và chỉ sự tăng tiến trong câu biện luận: vả, vả
lại, vả chăng, huống, huống chi, huống hồ, phƣơng chi
+ Sự trái lại hay sự hạn chế: nhƣng, nhƣng mà, song, song le, tuy nhiên,
thế mà, chứ
+ Sự chuyển tiếp: còn nhƣ, đến nhƣ, chí nhƣ
+ Mục đích:
* Mục đích để đạt tới: hoạ, hoạ chăng
* Mục đích để tránh khỏi: kẻo, kẻo lại, kẻo mà
+ Báo trƣớc một mệnh đề khác mà ngƣời ta mới hiểu ra đƣợc: hèn nào,
hèn chi, thảo nào
- Tiếng phụ thuộc liên tự dùng để liên hợp mệnh đề phụ với những mệnh
đề chính. Bao gồm:
+ Duyên cớ: vì, bởi, bởi vì, vì chƣng
+ Mục đích: để, để cho
+ Sự kết liễu: cho, cho đến, đến khi, đến nỗi, đến nƣớc
+ Thời gian: khi, lúc, đang khi, đang lúc, trong khi, trong lúc, bao giờ
+ Sự nhƣợng bộ: dù, dẫu, dầu, tuy, tuy rằng.
+ Sự so sánh: ví nhƣ, cầm nhƣ, cầm bằng, cũng nhƣ, dƣờng nhƣ, thế
nào thế ấy
+ Sự giả thiết: giá phỏng, giả sử, giá nhƣ, giá thể, phỏng nhƣ
+ Điều kiện: hễ, nếu, ví, ví bằng, ví chăng, ví dù, ví thử
21
Nhƣ vậy, tác giả chú trọng đến vai trò của kết từ với các thành phần
khác trong câu và đặc biệt đã chỉ rõ có sự chuyển loại từ các “tiếng” của các
4
Trang 164, “Việt ngữ nghiên cứu”, Phan Khôi, NXB Văn Nghệ 1955.
5
Trang 34, “Nhận xét về văn phạm Việt Nam”, Bùi Đức Tịnh, NXB Đại Chúng, 1948.
22
những từ cùng có đặc trƣng ngữ pháp nhƣ nhau, và khi đặt câu có thể theo hệ
thống đó mà suy phỏng ra và không bị nhầm lẫn”
6
. Và rồi ông nhắc đi nhắc
lại sự tiện ích cũng nhƣ mục đích của việc phân định từ loại là “Nếu không
quy những từ cùng có những đặc tính ngữ pháp vào với nhau mà cứ giải thích
lẻ tẻ từng từ cụ thể một thì không ai nắm đƣợc hết, và cũng không thành hệ
thống gì cả”
7
. Ông phản đối cách phân định từ loại căn cứ vào ý nghĩa của từ
và đƣa ra ba lập luận để chứng minh rằng căn cứ vào ý nghĩa của từ là sai
lầm. Ngoài ra ông còn chỉ ra “Hậu quả của những khuyết điểm này là: làm
cho khoa ngữ pháp học mất đi tính chất khách quan, không tìm ra đƣợc những
cái đặc thù của từng ngôn ngữ, và ở một mức độ nhất định sẽ biến việc nghiên
cứu ngữ pháp thành việc phiên dịch cứng đờ”. Vì thế ông cho rằng: “ý nghĩa
khái quát và quan hệ cú pháp (khả năng kết hợp của từ) là căn cứ chắc chắn
để phân định từ loại. Ngoài ra công dụng chung ở trong câu và hình thức tạo
từ cũng có thể là điều kiện tham khảo”
8
. Tuy nhiên, Nguyễn Kim Thản chỉ
nêu ra tiêu chí ý nghĩa khái quát để phân chia từ loại còn khi xét đến hƣ từ thì
ông cho rằng “Hƣ từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực cho nên ta có thể
chia chúng theo tác dụng ngữ pháp”
9
giữa hai thành phần do liên từ nối lại”, liên từ bao gồm 2 tiểu loại:
- Liên từ biểu thị quan hệ liên hợp biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp sau:
+ Tập hợp: và, với, cùng, cùng với, cũng nhƣ.
+ Chọn lựa: hay, hay là, hoặc, hoặc là, hoặc giả, hoặc giả là.
- Liên từ biểu thị quan hệ qua lại biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp sau:
+ Tăng tiến và nhƣợng bộ: tuy (rằng) nhƣng, mặc dầu nhƣng,
dù nhƣng, song, mà, nhƣng mà, huống hồ, huống chi, nữa là.
+ Điều kiện và kết quả: nếu, giá, mà, nếu mà, giá mà, miễn là, giả thử
(giả sử), có, hễ, động, cứ thì, là
+ Nguyên nhân và kết quả: vì (cho) nên, sở dĩ vì
+ Mục đích và hành động: cho, để cho (khác giới từ ở chỗ dùng để nối 2
đoạn câu)
+ So sánh: thà , thà chứ, chứ
Trên đây là những công trình nghiên cứu kết từ tập trung xét về mặt hình
thức. Sau này cùng với “Ngữ pháp tiếng Việt” của Uỷ ban Khoa học Xã hội,
“Ngữ pháp tiếng Việt” của Đinh Văn Đức, “Ngữ pháp tiếng Việt” của Diệp
Quang Ban, “Hƣ từ trong tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Anh Quế đã tập
trung xét hƣ từ không những về mặt hình thức mà còn cả mặt nội dung.
1.2.2. Những nghiên cứu về mặt nội dung.
Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” Uỷ ban Khoa học xã hội, các tác giả
đã chỉ ra “nghĩa hƣ” của hƣ từ cùng với “nghĩa thực” của thực từ. “Cần nhận
rõ đặc điểm của hƣ từ về mặt ngữ pháp và mặt ngữ nghĩa”, từ đó hƣ từ đƣợc
phân chia thành các loại nhỏ với những nét “nghĩa hƣ” mà nó biểu thị khác
nhau. Các tác giả căn cứ vào chức năng biểu đạt ý nghĩa của các kết từ trong
câu mà có thể phân loại thành 2 loại kết từ.
11
Trang 395, “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” , Nguyễn Kim Thản, NXBKH, Hà Nội 1963.
24
12
Trang 39, “Hƣ từ trong tiếng Việt hiện đại”, Nguyễn Anh Quế, NXB KHXH, Hà Nội, 1988.
25
+ Tƣơng ứng giữa điều kiện - kết quả: hễ thì, nếu thì, giá thử thì, giả
dụ thì,
+ Tƣơng ứng giữa nguyên nhân và kết quả: sở dĩ là vì
+ Tƣơng ứng giữa nhƣợng bộ và tăng tiến: tuy (tuy rằng) nhƣng , dù
(mặc, dù, dầu ) nhƣng (vẫn)
+ Tƣơng ứng giữa hoàn cảnh và lựa chọn: thà chứ (còn hơn)
1.2.3. Những nghiên cứu về mặt ngữ dụng.
Đây là bình diện chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều và sâu. Xét về mặt lịch sử,
ngữ dụng là một phân ngành mới trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học.
Vì thế những nghiên cứu hƣ từ đặc biệt kết từ về mặt ngữ dụng vẫn còn ít.
Tuy nhiên hiện nay, khuynh hƣớng này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Các tác giả cũng đã quan tâm đến ngữ nghĩa trong việc dạy tiếng. Ngƣời
giáo viên nói chung và ngƣời thiết kế chƣơng trình cần phải chú ý đến “ba lớp
tƣơng ứng với 3 bình diện:
Lớp thứ nhất: Quan hệ kết hợp
Lớp thứ hai: Quan hệ tình thái
Lớp thứ ba: Quan hệ dụng học”
13
Nhƣ vậy, mỗi phát ngôn có thể chia thành 2 phần: “nghĩa hiển ngôn hay
là „thuần tuý‟ ngữ nghĩa”, khi xét trong quan hệ kết hợp và “nghĩa ngữ dụng”
khi xét trong quan hệ tình thái và quan hệ dụng học. Các tác giả Nguyễn Đức
Dân - Trần Thị Chung Toàn cho rằng “có một loạt liên từ, phó từ trong tiếng
Việt mang chức năng luận cứ”. Chỉ dẫn luận cứ là một trong những chỉ dẫn
qui ƣớc đƣợc tạo ra bởi nghĩa ngữ dụng. Qua những ý nghĩa luận cứ này bên