Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong một số sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay - Pdf 26



HÀ NỘI 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC

ĐỖ THỊ THUÝ HOÀN KHẢO SÁT HỆ THỐNG BÀI LUYỆN VÀ BÀI TẬP TRONG MỘT SỐ
SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1980 ĐẾN NAY

KHẢO SÁT HỆ THỐNG BÀI LUYỆN VÀ BÀI TẬP TRONG MỘT SỐ
SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1980 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 602201 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thiện Nam
MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài.
1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2
3. Mục đích và ý nghĩa của đề tài.
3
4. Phương pháp nghiên cứu.
4
5. Tư liệu.
5
6. Bố cục của luận văn.
7
CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC LOẠI HÌNH
BÀI TẬP
8
1. 1. Đặc điểm của các loại hình bài luyện, bài tập. TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI
NƢỚC NGOÀI
2.1. Thống kê các loại hình bài tập trong những sách đã chọn.
21
2.1.1.Lựa chọn tư liệu thống kê.
21
2.1.1.1. Tiêu chí về ngôn ngữ mẹ đẻ của người học.
21
2.1.1.2. Tiêu chí về trình độ của sách:
23
2.1.2. Kết quả thống kê các loại hình bài tập trong những sách
đã chọn.
25
2.1.2.1. Số lượng bài luyện, bài tập trong sách tiếng Việt cơ sở.
26
2.1.2.2. Số lượng bài luyện, bài tập trong sách tiếng Việt nâng
cao.
27
2.1.3. Cách gọi tên và phân chia bài luyện, bài tập trong sách
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
30
2.1.4. Cách giải thích yêu cầu của bài luyện, bài tập trong sách
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
31
2.1.5. Tình hình sử dụng các loại hình bài tập trong các sách
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

64
3.1.1. Việc phân chia trình độ sách dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài.
64
3.1.2. Biên soạn bài tập phù hợp trình độ.
66
3.1.2.1. Biên soạn bài tập cho trình độ A1.
66
3.1.2.2. Biên soạn bài tập cho trình độ A2.
67
3.1.2.3. Biên soạn bài tập cho trình độ B1.
68
3.1.2.4. Biên soạn bài tập cho trình độ B2.
69
3.1.2.5. Biên soạn bài tập cho trình độ C1.
70
3.1.2.6. Biên soạn bài tập cho trình độ C2.
71
3.1.3. Những điểm lưu ý chung khi biên soạn bài tập trong sách
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
72
3.1.3.1. Về mặt hình thức.
72
3.1.3.2. Về mặt nội dung.
73
3.2. Việc lựa chọn loại hình bài tập.
73
3.2.1. Các loại hình bài tập rèn luyện kỹ năng.
73
3.2.1.1. Các dạng bài tập đối với kỹ năng nghe.

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ ở Việt Nam cũng nhƣ ở nhiều
nƣớc trên thế giới ngày càng đƣợc mở rộng. Đã có khá nhiều giáo trình tiếng
Việt đƣợc biên soạn, xuất bản ở trong và ngoài nƣớc. Các giáo trình đƣợc biên
soạn ở thời kì đầu (những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỉ XX) nói chung
nặng về cung cấp những kiến thức ngữ pháp lí thuyết, nhấn mạnh khả năng đọc
hiểu. Dần dần cũng đã có những cuốn giáo trình theo hƣớng nhấn mạnh giao
tiếp hơn: chẳng hạn phần hội thoại đƣợc đƣa lên đầu mỗi bài và gắn liền với
những tình huống thực tế hơn; các bài đọc cũng dần “trung tính” hơn, phù hợp
hơn; hệ thống bài luyện, bài tập cũng đa dạng và dần cập nhật với những xu

biên soạn và xuất bản tại Việt Nam từ những năm 1980 cho đến gần đây.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Cấu trúc của một giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, trên đại thể có
thể chia ra làm ba phần chính là: hội thoại (hoặc bài đọc, bài nghe), giải thích
ngữ pháp, bài luyện và bài tập.
Mặc dù phần hội thoại (hoặc bài đọc, bài nghe) là phần quan trọng nhằm
cung cấp ngữ liệu cho ngƣời học, tuy nhiên, bên cạnh đó, phần bài luyện và bài
tập cũng có vai trò rất quan trọng. Bài luyện, bài tập giúp ngƣời học củng cố
phần ngữ liệu đã đƣợc cung cấp trong phần bài học (hội thoại, bài đọc, bài
nghe).
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu phần bài luyện
và bài tập trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
Trong hoạt động ngôn ngữ nói chung, bên cạnh dạng nói, còn tồn tại dạng
ngôn ngữ viết. Về nguồn gốc, dạng ngôn ngữ nói xuất hiện trƣớc và đƣợc sử
dụng phổ biến hơn dạng ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, dạng viết chiếm ƣu thế hơn
trong việc lƣu trữ thông tin. Bài luyện và bài tập trong các sách dạy tiếng Việt
cho ngƣời nƣớc ngoài đƣợc các tác giả trong và ngoài nƣớc thiết kế bằng nhiều
hình thức khác nhau.
Chúng tôi lựa chọn các quyển sách dạy tiếng Việt đã đƣợc biên soạn và xuất
bản ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX cho đến gần đây làm đối tƣợng
nghiên cứu chủ yếu. Trên cơ sở đó, chúng tôi đƣa ra một cái nhìn tổng quan về
3
hệ thống bài luyện và bài tập đã đƣợc biên soạn trong các sách này. Chúng tôi
hy vọng tìm ra đƣợc phƣơng pháp tốt hơn cho việc biên soạn hệ thống bài luyện
và bài tập trong sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Với những dẫn chứng chi
tiết, có tính xác thực và trực tiếp nhất, luận văn hy vọng sẽ góp phần giải quyết
những vấn đề phức tạp trong việc biên soạn phần bài luyện, bài tập trong sách

biên soạn phần bài tập trong sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Qua đó,
chúng tôi cố gắng đƣa ra những loại hình bài tập, theo ý kiến của chúng tôi, có
ƣu điểm hơn trong việc biên soạn phần bài tập trong sách dạy tiếng Việt cho
ngƣời nƣớc ngoài.
Luận văn sẽ tiến hành phân loại các dạng bài tập trong các sách dạy tiếng
Việt cho ngƣời nƣớc ngoài. Các dạng bài tập sẽ đƣợc cụ thể hóa, xây dựng theo
hệ thống, có mối quan hệ theo trật tự hệ thống.
Không chỉ khảo sát tình hình biên soạn các dạng bài tập trong các sách
dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài xuất bản tại Việt Nam trong khoảng 30
năm trở lại đây, trong luận văn, chúng tôi cũng sơ bộ khảo sát các dạng bài tập
trong một số sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đƣợc viết và xuất bản ở
nƣớc ngoài do ngƣời Việt Nam hoặc ngƣời nƣớc ngoài thực hiện. Kết quả khảo
sát đó đƣợc dùng để so sánh với thực tế biên soạn bài tập trong sách dạy tiếng
Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã xuất bản ở Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong luận văn là: thống kê, tổng hợp,
miêu tả, so sánh.
Sau khi đã thống nhất lựa chọn sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ở các
trình độ khác nhau, dành cho các đối tƣợng khác nhau, chúng tôi tiến hành khảo
sát và miêu tả các loại hình bài tập (trong các sách gọi là bài luyện và bài tập).
Thống kê là thủ pháp đầu tiên, đƣợc tiến hành đối với các bài luyện, bài tập
trong sách. Các bài luyện, bài tập xuất hiện trong sách đều đƣợc thống kê bằng
các phiếu tƣ liệu.
Sau khi chúng tôi đã thống kê đƣợc các dạng bài tập (bài luyện và bài tập)
khác nhau. Các loại hình bài tập có liên quan đến nhau đƣợc tập hợp vào cùng
5
nhóm. Chúng sẽ đƣợc tổng hợp để đƣa ra một bức tranh chung về loại hình bài


6
8. Thực hành tiếng Việt B (Sách dùng cho ngƣời nƣớc ngoài). Đoàn Thiện
Thuật (chủ biên), NXB Thế giới, 2001.
9. Thực hành tiếng Việt C (Sách dùng cho ngƣời nƣớc ngoài). Đoàn Thiện
Thuật (chủ biên), NXB Thế giới, 2001.
10. Thực hành tiếng Việt (Dành cho ngƣời nƣớc ngoài). Nguyễn Việt Hƣơng,
NXB ĐHQG HN 2004.
11. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài (I). Nguyễn Văn Huệ
(chủ biên), NXB Giáo dục, 2004.
12. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài (II). Nguyễn Văn Huệ
(chủ biên), NXB Giáo dục, 2004.
13. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài (III). Nguyễn Văn Huệ
(chủ biên), NXB Giáo dục, 2004.
14. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài (IV). Nguyễn Văn Huệ
(chủ biên), NXB Giáo dục, 2004.
15. Tiếng Việt nâng cao (Dành cho ngƣời nƣớc ngoài). Tập thể tác giả Viện
Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, NXB KHXH,
2004.
16. Tiếng Việt trình độ A (tập 1). Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế
giới, 2004.
17. Tiếng Việt trình độ A (tập 2). Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế
giới, 2004.
18. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài (trình độ nâng cao). Nguyễn Văn Phúc
(chủ biên), NXB ĐHQG HN, 2004.
19. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài (chƣơng trình cơ sở). Trịnh Đức Hiển
(chủ biên), NXB ĐHQG HN, 2005
20. Bài đọc tiếng Việt nâng cao. Hwang Gwi Yeon-Trịnh Cẩm Lan-Nguyễn
Khánh Hà, NXB ĐHQG HN, 2006.
Một số sách dạy tiếng Việt do các tác giả Việt Nam viết hoặc tác giả nƣớc


8
CHƢƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC LOẠI HÌNH BÀI TẬP
1. 1. Đặc điểm của các loại hình bài luyện, bài tập
1.1.1. Khái niệm về bài luyện, bài tập
Từ điển “Ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” (Dictionary of Language
Teaching and Applied Linguistics) của Jack C. Richards, John Platt và Heidi
Platt [46, tr.117] cho rằng: bài luyện (drill) là một kỹ thuật đƣợc sử dụng thông
thƣờng trong dạy tiếng để thực hành luyện tập các âm (sound) hoặc các mẫu câu
(sentence patterns) trong một ngôn ngữ bằng cách dựa vào những sự lặp lại hay
thực hành có hƣớng dẫn. Một bài luyện để luyện các dạng ngữ pháp hoặc tạo
câu thƣờng đƣơc biết đến nhƣ là bài luyện mẫu câu.
Thƣờng có hai phần trong một bài luyện:
a. Giáo viên cung cấp một từ hoặc một câu nhƣ yếu tố kích thích.
b. Sinh viên đƣa ra các dạng trả lời dựa vào các phƣơng thức nhƣ lặp lại,
thay thế hoặc cải biến [46, tr.117].
Từ điển này không giới thiệu mục từ “exercise” thƣờng đƣợc hiểu là bài
tập.
Tuy nhiên, trong bộ giáo trình “Passages” cũng của Jack C. Richard và
Chuck Sandy do Cambridge University Press xuất bản năm 2001 [47] lại chỉ sử
dụng thuật ngữ “exercise” trong phần luyện tập (activity) nhƣ: “reading
exercises”, “grammar exercises”, “oral exercises”, “listening exercises”,
“writting exercises” mà không sử dụng thuật ngữ “drill” mặc dù các hoạt động

Đặc điểm chung của hai loại bài luyện này là ngƣời học phải có những
quyết định phản ánh đƣợc tri thức ngữ pháp của họ.”
Loại bài tập thứ nhất yêu cầu ngƣời học phải đƣa ra một sự lựa chọn cú
pháp (syntactic choice) giữa hai hoặc nhiều hình thức đã cho xem cái gì chấp
nhận đƣợc và cái gì không chấp nhận đƣợc. J. Dakin gọi loại bài tập này là loại
bài tập mang nghĩa (meaningfull excercises) [25, tr.185].
Loại bài tập thứ hai yêu cầu ngƣời học tạo ra đồng thời những câu có thể
chấp nhận đƣợc. Trong khi loại bài tập nhận diện không yêu cầu quá nhiều tri
thức toàn vẹn về những hiện tƣợng ngữ pháp thì loại bài tập thứ hai đòi hỏi sự
suy luận và tri thức ngữ pháp chặt chẽ hơn.
10
Dạng thức cơ bản của bài tập nhận diện là “lựa chọn” (multiple choice).
Tức là chọn 1 phƣơng án đúng duy nhất trong 2 / 3 / 4 phƣơng án. Loại bài tập
này thƣờng đƣợc sử dụng trong các giáo trình dạy tiếng nói chung.
Có thể minh họa về loại bài tập này đối với tiếng Việt nhƣ sau:
1) Bài tập 2, trang 139, sách Tiếng Việt A (Đoàn Thiện Thuật chủ biên),
NXB Thế Giới 2004. Có 6 bức tranh gợi ý đi kèm 6 câu.
a. Ngôi nhà đó thế nào?
rộng chật đẹp xấu
b. Sinh nhật cô ấy thế nào?
đông vắng vui buồn
c. Anh ấy thế nào?
cao thấp béo gầy
d. Căn phòng của ông ấy thế nào?
sạch bẩn gọn gàng bừa bộn
e. Cái mũ đó thế nào?
to nhỏ xấu đẹp

sắp………., sinh viên lười đến ông và nói:
- Thưa thầy, em rất thầy vì thầy đã dạy em………….ba năm. Em rất
muốn một việc gì đó để trả ơn thầy. Xin thầy .…… từ chối.
Thầy giáo nói:
- Chỉ có một việc mà tôi muốn anh tôi là anh đừng bao giờ nói
ai tôi …. thầy giáo dạy ngoại ngữ…… anh.
Loại bài tập này có nhiều dạng. Quan trọng là ngƣời học không chỉ chọn
một động từ hay một danh từ mà phải tạo đƣợc một câu hoàn chỉnh, chấp nhận
đƣợc cả về mặt ngữ nghĩa và ngữ cảnh.
1.2. Phân biệt các loại hình bài luyện
12
1.2.1. Bài luyện ngữ âm
Luyện phát âm, theo cách hiểu cổ điển là luyện cho ngƣời học bắt chƣớc
cách phát âm đúng theo cách phát âm chuẩn của ngƣời bản ngữ. Cách hiểu này
cho đến nay vẫn đúng. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học thì việc luyện
phát âm ngày càng có nhiều hỗ trợ từ các phƣơng tiện máy móc.
1.2.2. Bài luyện từ vựng
Luyện từ vựng là luyện cho ngƣời học nhớ, hiểu và dùng đúng từ.
Theo Harold S. Madsen “Bài kiểm tra từ vựng nhằm mục đích xác định
toàn diện và tạo lập từ trong nói và viết” [44, tr.12].
Bài luyện từ vựng không nằm ngoài mục đích xác định toàn diện từ cũng
nhƣ khả năng tạo lập từ.
Cũng theo Harold S. Madsen, có 4 loại hình bài tập từ vựng. Đó là hồi
đáp có giới hạn của ngƣời học ở trình độ cơ sở. Bài tập dạng này đòi hỏi hành
động vật lý đơn giản nhƣ chỉ vào vật gì đó hoặc câu trả lời đơn giản dạng “có”
“không”. Thứ hai là hoàn thành câu dạng chọn trƣờng hợp đúng (multiple
choice completion). Bài tập dạng câu bị thiếu từ, học viên phải chọn một từ

dù với phƣơng pháp nào, nếu muốn đạt kết quả tốt, nếu muốn tạo đƣợc chiều sâu
ngôn ngữ ở nơi ngƣời học, chắc chắn phải coi trọng việc dạy và rèn luyện ngữ
pháp. Bài tập ngữ pháp có thể đƣợc thiết kế cho cả ngƣời học ở trình độ cơ sở và
trình độ nâng cao. Có thể có những loại bài tập ngữ pháp nhƣ:
Bài tập hoàn thành câu bằng cách chọn trƣờng hợp đúng trong các trƣờng
hợp cho trƣớc, điền vào chố trống bị thiếu trong câu, biến đổi các kiểu câu hoặc
bài tập luyện theo kỹ năng: bài luyện nghe, bài luyện nói, bài luyện đọc, bài
luyện viết.
1.3. Các loại hình bài luyện tiếng Việt
1.3.1. Bài luyện ngữ âm
Có thể nói một cách cụ thể hơn, đây là bài luyện phát âm.
Tiếng Việt có 6 thanh điệu nên bài luyện phát âm những thanh điệu dễ
gây nhầm lẫn là dạng bài tập không thể thiếu. Ngoài ra, cần có các dạng bài
luyện phát âm những phụ âm đầu, nguyên âm, vần và những từ dễ gây nhầm lẫn.
14
Bài luyện phát âm nhằm giúp học viên tự đánh giá khả năng tạo lập và nhận
diện âm thanh, thanh điệu, ngữ điệu trong tiếng Việt. Bài luyện thƣờng đƣợc sử
dụng trong các sách tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài mà chúng tôi đã khảo sát
là bài tập nghe và chọn một trƣờng hợp đúng trong số các trƣờng hợp cho trƣớc
(multiple choice).
1.3.2. Bài luyện từ vựng
Từ vựng là đối tƣợng nghiên cứu của từ vựng học, ngữ nghĩa học, danh
xƣng học. Theo Hữu Quỳnh – Vƣơng Lộc “Từ vựng là vật liệu xây dựng của
ngôn ngữ Không có từ vựng thì không thể tạo thành câu và diễn đạt đƣợc ý
tƣởng. Từ vựng là bộ phận cơ bản nhất của ngôn ngữ.” [9, tr.28].
Theo Đỗ Hữu Châu “Tập hợp các từ và ngữ cố định đƣợc gọi là từ vựng
của ngôn ngữ. Vì có nhiều tiêu chí tập hợp khác nhau cho nên có những dạng từ

sắp xếp từ thành câu đúng, chuyển từ câu chủ động sang câu bị động, chuyển từ
câu trực tiếp sang câu gián tiếp,tạo câu với các cấu trúc câu mới đƣợc học,…
1.4. Phân loại bài tập
Trong luận văn này, chúng tôi phân loại bài tập theo hình thức tổ chức bài
luyện, bài tập (gọi chung là bài tập).
Các dạng bài tập cụ thể:
Loại hình bài tập
I
II
Bài luyện thay thế

Bài luyện nhận diện
1
2
Bài tập trắc
nghiệm giả thuyết

Bài tập tạo lập
Một số tiểu loại bài luyện cụ thể:
(1) Bài luyện trắc nghiệm giả thuyết.
STT
Dạng bài tập
Ví dụ
1
Bài luyện chọn một phƣơng
án đúng trong hai phƣơng
án.
Bài luyện 7, bài 13, trang 171, Tiếng Việt
thực hành C, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên).
2

1980.
3
Chuyển từ câu khẳng định
sang câu phủ định theo cấu
trúc ngữ pháp mẫu.
Bài luyện 7, bài 7, trang 72, Tiếng Việt
thực hành B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên).
4
Chuyển từ câu tƣờng thuật
sang câu nghi vấn.
Bài 4, trang 136, Thực hành tiếng Việt,
Nguyễn Việt Hương.
5
Chuyển từ câu chủ động
sang câu bị động.
Bài luyện 6, bài 32, trang 194, Tiếng Việt
cho người nước ngoài, Bùi Phụng.
6
Chuyển từ câu trực tiếp sang
câu gián tiếp.
Bài luyện 1, bài 15, trang 186, Bài đọc
tiếng Việt nâng cao, Viện Ngôn ngữ học.
7
Chuyển từ câu gián tiếp
sang câu trực tiếp.
Bài luyện 12, bài 15, trang 187, Bài đọc
tiếng Việt nâng cao, Viện Ngôn ngữ học.
8
Chuyển đổi câu sang câu có
cấu trúc ngữ pháp mới.

Điền từ cho trƣớc vào chỗ
trống trong hội
thoại/đoạn/bài.
Bài tập 5, bài 23, trang 87, Tiếng Việt trình
độ A (tập 2), Đoàn Thiện Thuật (chủ biên).
14
Tìm từ thích hợp điền vào
chỗ trống trong câu.
Bài tập A B C, bài 11, trang 80, Thực hành
tiếng Việt, Nguyễn Việt Hương.
15
Tìm từ thích hợp điền vào
chỗ trống trong hội
thoại/đoạn/bài.
Bài tập 3, bài 20, trang 233, Tiếng Việt cho
người nước ngoài, Nguyễn Văn Phúc (chủ
biên).
16
Viết tiếp câu
Bài luyện 2, bài 18, trang 225, Tiếng Việt
cho người nước ngoài, Nguyễn Anh Quế.
17
Dựng câu bằng những từ
cho trƣớc.
Bài tập 2, bài 5, trang 50, Tiếng Việt thực
hành B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên).
18
Dựng câu bằng những từ gợi
ý.
Bài tập 3, bài 11, trang 190, Thực hành

Tìm từ gần nghĩa.
Giáo trình tiếng Việt cho người nước
ngoài, bài tập 2.3, bài 5, trang 63, Nguyễn
Văn Huệ (chủ biên).
4
Phân biệt từ đồng âm khác
nghĩa.
Bài luyện 7, bài 15, trang 161, Tiếng Việt
thực hành B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên).
5
Tìm từ cùng loại
Bài 21, trang 70, Tiếng Việt trình độ A, tập
2.
6
Tìm từ (cụm từ) không cùng
loại
Bài tập 6, bài 19, trang 203, Bài đọc tiếng
Việt nâng cao, Hwang Gwi Yoen, Trịnh
Cẩm Lan, Nguyễn Khánh Hà.
1.5. Tầm quan trọng của việc biên soạn các loại hình bài tập phù hợp phục
vụ cho việc dạy và học tiếng Việt
Bài luyện, bài tập là phần quan trọng trong các sách dạy ngoại ngữ nói
chung và trong các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài nói riêng. Bài
luyện, bài tập góp phần củng cố kiến thức mà học viên đã đƣợc học. Đồng thời
thông qua hệ thống bài luyện và bài tập, ngƣời dạy còn có thể đánh giá đƣợc
mức độ hiểu bài của học viên. Từ đó có thể đánh giá hiệu quả của buổi học.
Thông qua các bài luyện và bài tập phù hợp, học viên sẽ bộc lộ rõ khả năng nắm
bắt kiến thức ngôn ngữ của mình. Nhờ đó, ngƣời dạy có thể đánh giá đƣợc chính
xác hơn việc tiếp thu kiến thức của học viên để từ đó đƣa ra những giải pháp
phù hợp.

Các loại hình bài luyện, bài tập cho trình độ cơ sở không phong phú nhƣ ở
trình độ nâng cao. Tuy nhiên, ngay từ trình độ cơ sở, cần rèn luyện cho ngƣời
học thành thạo cấu trúc câu cơ bản nhƣng rất thiết yếu.

Trích đoạn Tƣơng quan về các dạng bài tập trongnhững sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài xuất bản ở Việt Nam và một số sách xuất bản ở nƣớc Việc phân chia sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài theo trình độ của ngƣời học Biên soạn bài tập cho trình độ A Biên soạn bài tập cho trình độ B Biên soạn bài tập cho trình độ C
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status