ĐẠI HỌC QUỒC GIA HA NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XĂ HỘI VÀ NHÂN VẦN
KỈỀU PHƯƠNG NGA
MỘT SỐ NHÓM TỪ NGỮ VĂN HÓA TRONG TIÉNG ANH
VA
CÁC THỦ PHÁP CHUYẺN DỊCH SANG TIÉNG VIỆT
(Trên cứ liệu các từ ngữ tên gọi động vật và thực vật)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC sĩ NGÔN NGỬ HỌC
• • •
GIÁO V IÊ N HƯỞNG DẢN
PGS. TS. NGUYỄN HÔNG CỎN
Hà Nội, 2007
LỜI CẢM Ơ N 5
PHẢN MỞ Đ Ầ U 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu của luận v ăn
6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1. Mục đích nghiên cứu 7
3.2. Nhiệm vụ nghién cưu 7
4. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
4.1. Tư liệu nghiên cứ u 8
4.2. Phương pháp nghiên c ứ u 8
5. Kết cấu của luận vãn 8
CHƯƠNG I. C ơ SỞ LÝ THUYẾT 10
1. Mối quan hệ giữa ngôn ngừ và văn hóa 10
1.1. Ngôn ngừ là g ì? 10
1.2. Văn hóa là g ì? 13
1.3. Quan hệ giữa ngôn ngừ và văn hóa 16
2.4. Định danh theo quan hệ lớp - hạng 45
2.5. Định danh dựa đặc điềm giống đồ vật. loài vật khác
45
3. Tư duy ngôn ngừ qua cách định nghĩa trong từ điên giải thích
47
4. Đặc điêm quá trình chuyên nghĩa của từ ngừ chỉ động v ật
48
5. Tên gọi động vật trong các thành ngừ, tục ngừ A n h
50
6. Tiểu kết 53
CHƯƠNG III. TRƯỜNG TỪ VựNG TÊN GỌI THỰC VẬT TRONG
TIẾNG A N H 55
1. Đặc điểm về nguồn gốc và cấu tạo
55
1.1. Nguồn g ố c 55
1.2. Cấu tạ o 57
2. Đặc điểm định danh 59
2.1. Theo thời gian sinh trưởng hoặc thu hoạch
60
2.2. Theo chức năng 61
2.3. V ị 62
2.4. Màu s ắ c 62
2.5. Môi trường sống 63
2.6. Xuất xứ 65
2.7. Dựa trên các loài động vật khác 66
2.8. Dựa trên các đồ vật 67
Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Kiều Phương Nga
4
LỜI CẢM ƠN
Những dòng đầu tiên của cuốn luận văn này, tôi muốn dành để
bày tỏ sự cảm ơn đến tập thể các giáo sư, các nhà khoa học, các thầy cô
giáo cùng toàn the cán bộ Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tinh giảng dạy
và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa học.
Lời cam ơn đặc biệt tỏi xin gửi đén PGS. TS. Nguvền Hồng cốn -
người đã rất kiên nhẫn, tỉ mỉ hướng dần và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn trong suốt thời gian dài vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết om vô hạn đối với gia đình đã
tạo mọi điều kiện để giúp đỡ, ủng hộ và động viên tôi hoàn thành luận
văn này.
Kiều Phương Nga
5
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới ước tính có khoảng gần 6000 ngôn ngừ, và để có một
:iếng nói chung cho ngôi nhà thế giới, người ta không ngừng tìm kiếm
:nột thứ ngôn ngừ phổ quát nhất. Nhưng tiếc thay, điều đó chẳng bao giờ
có thể trở thành hiện thực bởi tiềm ấn trong mồi cộng đồng - ngôn ngừ là
những ban sắc văn hóa riêng và trên tất cả là tinh thần dân tộc. Không
một dân tộc nào lại sẵn sàng nhường bước cho một một dân tộc khác chi
phối cái “tôi” của mình trước hết bàng ngôn ngữ và rồi bằng những giá
ìrị văn hóa của mình. Nhung mối liên hệ giao lưu giữa con người, giữa
các dân tộc lại là cần thiết để phát triển thế giới, và sự tiếp xúc, trao đổi
này chỉ có thể xảy ra khi có sự hiểu biết chung như nhau giữa những
người tham gia đổi thoại. Kiến thức chung ấy không gì khác ngoài
chuyển dịch hai trường từ vựng này từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đẻ đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn phải giải
quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thổng hoá một cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hai trường từ
vựng mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc này.
- Khảo sát đặc điêm của quá trình định danh động - thực vật như là
kết quả của quá trình tri nhận.
- Khảo sát đặc điểm ngừ nghĩa tên gọi động - thực vật tiếng Anh.
- Tìm hiếu những phấm chất liên tướng, so sánh của động - thực
vật.
7
- Nhận xét vê đặc diêm tư duy ngôn ngừ ở người Anh so với người
Việt.
- Khảo sát các kiêu dịch thuật và một số cách xứ lí trong chuyến
dịch hai trường từ vựng này.
4. Tư liệu và phuong pháp nghiên cứu
4.1. Tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu của luận văn bao gồm 895 tên gọi động vật và
620 từ tên gọi thực vật được tìm thấy trong các cuốn từ điển sau đây:
(Ị) Từ điển Việt - Anh, Nhà xuất bản Tp. HCM, 2000
(2) Từ điển Anh - Việt, Nhà xuất bän TP.HCM, 2000
(3) Từ điên Etymophology tại trang web
http://www.etym online.com/index.php
(4) Skeat, Walter w. , The Concise Dictionary o f English
Etymology, ISB N 0-7881-9161-6, 2000
(5) Skeat, Walter w., An Etymological Dictionary o f the English
Language, ISBN 0-J9-863104-9, 1963
(6) Từ điển Lạc Việt, 1997.
4.2. Phuong pháp nghiên cứu
học các giả thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ dựa trên cơ sở các cứ liệu của
các ngành khoa học khác nhau, đã chỉ ra quá trình hình thành con người,
xã hội và ý thức xã hội. Từ khía cạnh ngữ văn học các giả thuyết về
nguồn gổc ngôn ngừ được xây dựng trên giả thuyết về sự hình thành các
hiện tượng ngôn ngữ, từ đó nhàm giải thích cấu tạo của hệ thống ngôn
ngừ. Thực chất của vấn đề, để trả lời câu hỏi “Ngôn ngữ là gì?”, người ta
chỉ xoay quanh các vấn đề:
Ngôn ngừ là hiện tượng tự nhiên hay là hiện trong xã hội?
Ngôn ngừ sinh ra từ đâu? Nó có tính di truyền không?
Ngôn ngừ có giống với công cụ lao động không?
Ngôn ngữ thuộc cơ sở hạ tầng hay thuộc kiến trúc thượng tầng?
10
Coi ngôn ngừ là một hiện tượng xã hội, là phương tiện giao tiêp
quan trọng nhât của con người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, Mác
và Ảnghen đã chứng minh rằng, ngôn ngữ là sản phâm được tạo thành từ
một lọai vật chât đặc biệt là bộ óc cua con người và xuất hiện đồng thời
cùng với tư duy dưới tác dụng của lao động: “Ngay từ đầu đã có một sự
rui ro dề nặng lên “tinh thần”, đó là sự rủi ro bị một vật chất làm “hoen
ố””[21,29]. Quan điếm này đã bác bỏ ý kiến cho rằng ngôn ngừ là hiện
tượng sinh vật mang tính di truyền. Và thực tế đã chứng minh điều đó,
người ta có được ngôn ngừ là nhờ quá trình học tập, tiếp thu từ những
người cùng sống ở xung quanh. Hơn nữa so với tiếng kêu của loài động
vật, ngôn ngừ loài người cũng khác hăn về chất. Tiếng kêu của loài vật
cỏ thế là những tín hiệu gọi bầy, báo tin khi gặp nguy hiểm nhưng đó là
những tiếng kêu bấm sinh là kết quả của quá trình di truyền chứ không
giống như quá trình trẻ em học nói. Nhiều người cùng dẫn chứng là một
số loài vật nói được tiếng người, nhưng quả thật đó là quá trình rèn luyện
phản xạ có điều kiện. Để chứng minh rõ hơn cho điều đó, Ch. Hocket đã
xác định các “đặc tính phổ quát của ngôn ngữ khi so sánh với các hệ
thống tín hiệu của động vật và đưa ra những đặc tính chung của ngôn
trung tâm của ngôn ngừ là chức năng giao tiếp.
Ngôn ngừ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Sở dĩ nó quan trọng nhất là vì trên góc độ lịch sử và toàn diện mà xét,
không một phượng tiện giao tiếp nào có thể sánh được với nó.
Ngoài ra, ngôn ngừ còn có một chức năng vô cùng quan trọng là
chức năng phản ánh. Tư duy của con người - sự phản ánh thế giới khách
quan xung quanh - chủ yếu được tiến hành, được biểu hiện dưới hình
thức ngôn ngừ. Đúng như nhà ngôn ngữ học X.Kondilax E.B nhận định:
12
'‘Việc thế hiện tư duy bằng ngôn ngừ có thể thấy rõ trong từng hoạt động
lời n ỏ n 18,78].
Như vậy, chung quy lại cái nảy sinh ra ngôn ngừ không gì khác là
sự tác động một cách có ý thức của con người vào thế giới tự nhiên, hay
nói ngan gọn hơn là nhờ lao động của con người. Bới vì như Mác đã lí
giải: “Đầu tiên con người sáng chế ra công cụ sản xuất. Việc sáng chế ra
công cụ sản xuất dần đến sự cần thiết để chỉnh đốn hoạt động cùng
chúng mang những mầm mống của sự phân công lao động, tức phải thỏa
thuận kế hoạch công việc, cùng chung hoạt động đanh giá việc đã làm.
Từ đó xuất hiện nhu cầu thiết yếu về phương tiện giao tiếp” [22,737],
Lao động-tư duy-ngôn ngừ là mổi quan hệ qua lại, tác động tương hồ lẫn
nhau, giúp nhau cùng phát triển. Bởi vì lao động làm nảy sinh và thúc
đấy sự phát triển của tư duy và ngôn ngừ. Khi tư duy, ngôn ngừ phát
triển nó lại có tác động ngược lại làm cho lao động ngày càng được cải
tiến, tinh xảo hơn, tạo ra những hiêu quả cao trong lao động. Nhiều phát
minh ra đời, cùng với nó là hệ thống từ ngữ ngày càng được làm giàu và
phong phú. Con người ngày càng thoát xa khỏi trạng thái hoang sơ. Giờ
đây không chỉ còn là vấn đề sinh tồn mà con người ngày một vươn tới
những nhu cầu mới về ăn ở, nghệ thuật.
Như vậy, ngôn ngừ không chỉ có chức năng giao tiếp mà còn hoạt
động với tư cách là công cụ của tư duy, công cụ phản ánh tư tưởng. Cái
nhiều thế hệ”[Dẫn theo 10]. Nhà nghiên cứu nhân văn của Trung Quốc
là giáo sư KC Chan lại định nghĩa văn hoá như là một sinh hoạt tinh thần
lần vật chất, ở mức độ cao cấp của một nhóm người có chung ngôn ngừ,
chung bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế và xã hội [Dần theo 10].
14
Trong các ngành học vê nhân văn ở châu Mỹ, khi nói đên văn hóa,
người ta thường nhăc nhở đến ba tên tuôi là Matthew Arnold, Raymond
Williams, và Cliffort Geertz.
Quan điểm văn hóa của Arnorld thiên về lý tưởng. Ông cho ràng
văn hóa là những gì liên quan quan đến cái đẹp, sự thông minh và toàn
hao: “Văn hóa là sự hiẻu biết và thướng thức tinh tế các nghệ thuật, tư
tưởng ở mức độ cao”[2]. Ngược lại, Williams tranh biện lại ràng, “văn
hóa không chỉ là những gì cao siêu mà văn hóa còn là những gì rất bình
thường trong cuộc sống"[34]. Geertz thì lại đứng trên quan điếm của dán
tộc học để nhìn văn hóa như là sản phấm tinh thần lẫn vật chất riêng biệt,
độc đáo liên quan đến từng dân tộc bao gồm “Những gì con người nghĩ,
những gì họ làm, và những gì họ sản xuất”[12].
Ớ Việt Nam rất nhiều học giả, chẳng hạn như Đồ Hữu Châu chấp nhận
quan điếm của Ward Goodenough về văn hóa: “Văn hóa của một xã hội
theo tôi quan niệm bao gồm tất cả những cái gì mà một người phải biết
và phải tin để có thể hành xử theo cách sao cho được các thành viên khác
trong cộng đồng chấp nhận Văn hóa vốn là những cái mà con người
phải học mới có được khác với vốn tài sản thừa kế sinh vật của mình,
quy cho đến cùng là những hiểu biết sản phẩm của sự học tập, theo cách
hiểu chung nhất của thuật ngữ này”[4]. Bên cạnh đó, cũng có một số nhà
nghiên cứu khác như Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng thì đồng tình
với định nghĩa mà tổ chức Văn hóa - Giáo dục Unesco đưa ra: “Văn hóa
là một hệ thổng hừu cơ các giá trị tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
với môi trường thiên nhiên và xã hội”[30,10].
B.T.Koctomapob coi “ngôn ngừ là tấm gương thực sự của nền văn hóa
dân tộc” [Dần theo 16,13].
16
1.3.1. Nị»ôn ngfrcó vai trò lưu trữ và báo tồn văn hóa
Như chúng ta dã biết, ngôn ngừ tồn tại dưới hai dạng nói và viết,
được biêu hiện qua các ký hiệu mang tính vật chât là âm thanh và chừ
viết.
Hệ thống chữ viết chỉ chung hệ thống kí hiệu dùng để ghi lại ngôn
ngừ. Neu ngôn ngừ là hệ thống kí hiệu thì chữ viết là hệ thống kí hiệu
của kí hiệu. Chừ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngừ nhưng không thế
đồng nhất ngôn ngừ và chừ viết. Ngươi ta có thế không biết chừ nhưng
vần có ngôn ngừ như thường, về mặt lịch sử, ngôn ngừ xuất hiện cùng
với xã hội loài người trong khi đó cho tới nay nhiều ngôn ngừ vẫn chưa
có chừ viết. Con người có mặt trên trái đất hàng chục vạn năm, nhưng
mãi tới giai đoạn cao của xã hội loài người mới có chừ viết. Ảnghen đà
viết: "Giai đoạn này bắt đầu với việc nấu quặng sắt và chuyển qua thời
đại văn minh với việc sáng tạo ra chữ viết có vần và việc sử dụng chừ đề
ghi lời văn" [1,36]
Đổi với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chừ viết có một
vai trò rất to lớn. Ngôn ngừ, cái công cụ giao tiếp chủ yếu của con người,
dầu sao vẫn có những hạn chế nhất định. Vì vỏ vật chất của ngôn ngừ là
âm thanh cho nên nếu ở xa nhau không thể nghe nhau nói được bởi vì
khả năng của tai người là hữu hạn. Nếu muốn trao đổi tâm tư tình cảm
với nhau cũng phải gặp nhau để trực tiếp giãi bày, hoặc khi muốn truyền
đạt lại những kinh nghiệm cũng thật khó khăn. Lúc đó, chỉ nhờ đến hình
thức truyền miệng. Cùng chính vì cách thức truyền tin rất đồi “thô sơ”
như vậy mà rất nhiều kinh nghiệm hay đã bị lãng quên. Nhưng cũng có
thể đây là cơ hội tổt để cho những câu thành ngữ, tục ngừ, ca dao ra đời
chăng? Kho tàng văn học dân gian của chúng ta mới trở nên phong phú
và đẩy ẳp kinh nghiệm chăng? Tuy vậy, chúng ta cũng nhận thấy được
trực tiêp của tư tưởng. Không the có tư duy nuoài ngôn ngừ, và bât cứ
một sáng chế nào, phát minh nào cũng được khởi phát từ tư duy. Như
vậy, ngoài vai trò là chất liệu trực tiếp cho sáng tạo các sản phâm văn
hóa tinh thẩn ngôn ngừ còn là phương tiện bên trong của quá trình sáng
tạo ra các giá trị văn hóa vật chất.
Diều này khăng định vai trò to lớn của ngôn ngữ, người ta cần
ngôn ngừ để đúc kết kinh nghiệm, kế thừa các thành tựu của quá khứ để
tiếp tục sáng tạo và phát minh ra cái mới về khoa học và kĩ thuật. Xét về
góc độ mà nói, ngôn ngừ được xem như là một công cụ cho con người
tiếp tuc cái mới, nâng cao năng lực nhận thức và kích thích sự sáng tạo.
Những thay đổi của ngôn ngừ sê tạo ra những bước phát triển rất đáng kể
về văn hóa.
Quả thật, ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc phát triển văn
hóa. Điều này phản ánh rất rõ trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Chúng
ta cần có ngôn ngừ để trao đổi, truyền đạt cho nhau những sản phẩm
mang tính văn hóa giữa những dân tộc xa xôi với nhau. Chúng ta cần có
ngôn ngừ để kết nổi giữa những con người trên khẳp hành tinh này với
nhau Mổi quan hệ giữa ngôn ngừ và lịch sử văn hóa đã được loài
người nhận ra từ lâu, và chính N.I. Konrad (1891-1970) cũng đã chứng
minh điều này một cách tỉ mỉ. Ông chia văn hóa thành ba dạng: văn hóa
thế chất, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Và khẳng định ngôn ngữ
liên quan đến cả ba dạng văn hóa. Các ngôn ngữ khác nhau đòi hỏi
những loại văn hóa thể chất khác nhau, đòi hỏi các dạng và trường phái
văn hóa thể chất khác nhau. Văn hóa vật chất trong lĩnh vực ngôn ngừ thể
hiện ở sự tồn tại của các phát minh và phổ biến các phương tiện trong tạo
lập và ghi lại lời nói, như các chất liệu, phưong tiện dùng để viết chữ,
các dạng ấn phẩm khác nhau, điện tín, điện thoại, phát thanh, truyền
19
hình và nhiều các công cụ khác phục vụ cho việc biến đổi lời nói từ
dạng này sang dạng khác [19],
Điều đó được thê hiện rõ ràng trong trường hợp tiếp xúc giao thiệp văn
hóa mà hai bên (khác dân tộc, khác quốc gia) có bổi cảnh văn hóa khác
nhau.
2. Từ ngũ- và các nhóm từ văn hóa
2.1. Từ ngữ trong ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết, trong ngôn ngừ từ được xem là những đơn
vị có tính hai mặt, có hình thức âm thanh, có ý nghĩa và có khả năng trực
tiếp kết hợp với nhau để tạo thành các câu cụ thể, gặp trong khi nói và
tông thê thông nhât vê phát âm (và kí tự), thê hiện một khái niệm và hình
ảnh nhất định gắn với sự phát âm đó” [28,175].
Trong mồi một ngôn ngữ, sổ lượng các từ là vô cùng lớn mỗi từ
lại có một bộ phận mặt âm thanh riêng và một nội dung ý nghĩa có phần
riêng biệt, cụ thể. Mỗi câu lại chứa đựng một số lượng từ ngừ cụ thể và
một ý nghĩa cụ thể có phần riêng biệt.
Các từ của mỗi một ngôn ngữ luôn biến động (các từ cũ có thể mất
đi, hoặc có thêm nghĩa mới, các từ mới nảy sinh) và chúng còn có thể
được sử dụng theo các màu sắc cá nhân hay xã hội, đúng như
V.F.Humboldt phát biểu: “Từ là sự biểu hiện quan điểm riêng của chúng
ta về sự vật. Đây là nguồn gổc chính của sự đa dạng về những cách biểu
hiện cho cùng một sự vât”[Dan theo 32,101]. Từ ngừ có thể phản ánh
chân thực cuộc sống của xã hôi đương thời. Chính vì thế Rodexvenski
cũng đã nhấn mạnh “ngôn ngữ luôn được nghiên cứu như một hiện
tượng có tính chất khấc họa xã hội Nó thế hiện các đặc điểm của xã
21
hội, như dân tộc, phân công lao động, văn hỏa và lịch sử văn hóa, cấu
trúc xã hội” [28,66], Như thế có thể hiểu nôm na rằng ở vào một thời
điếm nào đó, từ này được thịnh hành nhưng khi lịch sứ thay đôi người ta
lại có thể lại không còn sử dụng từ dỏ nữa. Tuy nhiên, dường như từ ngừ
trong tất cả các ngôn ngừ có xu thế ngày một phong phú hơn bởi sự giao
thoa văn hóa manh mẽ và các từ vay mượn giữa các ngôn ngừ nảy sinh
A .n . í lea đã chứng minh và đi đán kết luận rằng “ý nghĩa lập thành nội
dung của ý thức xã hội”[Dần theo 16,14], Nhiều nhà ngôn ngừ học còn
chỉ ra rằng trong ý nghĩa của từ không phải chỉ có sự hiểu biết kinh
nghiệm về lịch sử - xã hội đã được kết tinh qua nhiều thế hệ của một
cộng đồng người mà còn có cả thành tố văn hoá- lịch sử. Đó là cơ sở để
Rodextvenski khẳng định: “Ngôn ngừ, ngoài các yếu tố dân tộc và chức
năng, còn thề hiện lịch sử hạ tầng cơ sở của xã hội, lịch sử kĩ thuật và
văn học”[28,59].
Như vậy, ngôn ngừ là hình thức tồn tại kinh nghiệm lịch sử- xã
hội của nhân loại. Chúng ta có thể chỉ ra được những điểm, những xu
hướng biển đổi ngừ nghĩa giống nhau tồn tại trong các ngôn ngừ khác
nhau. Ví dụ: Các ngôn ngữ Tây Kavkaz, Kartven và Dagestan thuộc các
dân tộc có nguồn gốc gần nhau, các dân tộc này có những điểm chung
thể hiện rõ trong lịch sử văn hóa, lãnh thổ cư trú, và lịch sử dân tộc. Bên
cạnh đó, trong ý nghĩa ngôn ngừ còn có cả những yếu tổ chỉ đặc thù cho
một nền văn hoá nhất định. Có thế kể ra được, đó là những khái niệm,
những đặc tồn do kinh nghiệm lịch sử của một dân tộc tạo ra phù hợp vơi
điều kiện sống, nền văn hoá, xã hội của nó. Bởi vậy, ý kiến sau đây của
Rodextvenski là hoàn toàn đúng đắn: “Ngôn ngừ ủng hộ lịch sử dân tộc
nói chung. Điều đó có thể được, vì sự thay đổi trong ngôn ngừ xảy ra
23
trong một dân tộc thì giống nhau và trong các dân tộc khác nhau thì khác
nhaiT[28,57].
Có thẻ dễ dàng nhận ra ngay răng trong lĩnh vực ý nghĩa của từ,
đặc trung văn hóa dân tộc được biêu hiện rõ rệt nhất ở ý nghĩa biểu
trưng, tức cách dùng có tính chất biểu trưng biểu vật của từ. Chẳng hạn:
Đổi với các nước Trung Quốc hay Việt Nam, Hạc là biếu tượng của sự
trường thọ. Vì vậy, tuổi hạc là tuổi thọ, tuổi cao, ví như sống lâu như
chim hạc. Tung, bách được dùng để biểu írưrig cho lỏng kiên trinh bất
khuât. Song, đối vơi người Nga thì lại khác: cây sồi - được dùng để biểu