Khảo sát loại từ tiếng việt và các phương thức chuyển dịch sang tiếng inđônêxia - Pdf 96

Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức
chuyển dịch sang tiếng Inđônêxia

Phạm Thị Thúy Hồng

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ; Mã số: 62 22 01 01
Tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn
2. PG.TS Lê Quang Thiêm
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới và loại từ tiếng Việt.
Xác lập bộ tiêu chí để nhận diện loại từ tiếng Việt. Mô tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa
của loại từ tiếng Việt và các đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia. Khảo sát các
phương thức chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia.

Keywords. Lý luận ngôn ngữ; Tiếng Việt; Tiếng Inđônêxia; Từ tiếng Việt

Content.
MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài
Với sự phát triển của lý luận ngôn ngữ học những năm gần đây, với việc phát
hiện những tư liệu mới của các ngôn ngữ còn ít được biết đến ở châu Á, châu Phi, châu
Mĩ vấn đề "loại từ" càng ngày càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, trước hết và
chủ yếu là các nhà ngôn ngữ học, và cả các nhà tâm lý học, triết học. Bởi vì trong ngữ
nghĩa của loại từ, ở bề sâu của nó, ẩn chứa một cách nhìn, cách nghĩ về sự vật, hiện
tượng về thế giới khách quan của cộng đồng bản ngữ, của dân tộc nói thứ tiếng đó.
Nhưng không chỉ ở bình diện ngữ nghĩa mà ở những bình diện khác như ngữ
pháp, ngữ dụng, loại từ cũng là một mảnh đất chưa được nghiên cứu đủ sâu, đủ kĩ, và do
đó còn rất nhiều công việc cho các nhà ngôn ngữ học tiếp tục nghiên cứu. Bởi lẽ loại từ

d. Ngoài ra, cần phải có cái nhìn ra bên ngoài, tới các ngôn ngữ trên thế giới để
có cái nhìn toàn cục về các ngôn ngữ có loại từ trên thế giới, có cái nhìn so sánh với các
ngôn ngữ khác loại hình.
e. Tiến tới xem xét loại từ như một cơ sở để phân chia loại hình ngôn ngữ trên thế
giới.
0.2. Đối tƣợng và mục đích của luận án
Luận án chọn đối tượng khảo sát là loại từ (classifiers), tiến tới xem xét một cái
nhìn ổn định về loại từ trong tiếng Việt, khảo sát các đơn vị tương ứng trong tiếng
Inđônêxia, đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia, góp phần vào việc biên soạn
từ điển Việt – Inđônêxia. Giải quyết các vấn đề ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng của
loại từ cũng chính là để soi sáng những vấn đề về tư duy văn hoá của người Việt cũng
như người Inđônêxia. Đây là vấn đề có giá trị không nhỏ đối với việc nghiên cứu lý luận
cũng như thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá.
Cho đến nay, số lượng loại từ có mặt trong hệ thống chưa được các nhà Việt ngữ
thống nhất, nhưng dựa trên các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của loại từ nói riêng và
của danh ngữ nói chung, luận án sẽ sơ bộ nhận diện bằng các tiêu chí hình thức và nội
dung, sau đó, tiến hành phân loại hệ thống loại từ tiếng Việt.
Việc mô tả, phân tích đặc điểm của loại từ tiếng Việt và các biểu hiện từ vựng,
ngữ pháp tương đương trong tiếng Inđônêxia được thực hiện trên ngữ liệu là các tác
phẩm văn học, giáo trình thực hành tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, từ điển Inđônêxia –
Việt, Inđônêxia – Anh và Anh – Inđônêxia.
Với đề tài "Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức chuyển dịch sang
tiếng Inđônêxia” luận án đặt ra những mục đích sau:
- Tìm hiểu đặc trưng ngữ pháp của loại từ
- Phân tích ngữ nghĩa của loại từ
- So sánh, đối chiếu loại từ tiếng Việt với đơn vị tương đương trong tiếng
Inđônêxia.
- Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia.
Luận án coi đối chiếu tương đồng và khác biệt là cơ sở để tiến hành đối dịch loại
từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia. Bởi lẽ, đối tượng của luận án là một kiểu từ loại nên

Ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, việc nghiên cứu tổ hợp có chứa loại từ và các
phương thức dịch sang tiếng Inđônêxia còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Đối với người
Việt, tiếng Việt là bản ngữ, do đó ít ai dùng sai tổ hợp loại từ + danh từ, về mặt cấu trúc
và nghĩa. Nhưng hiểu cho thấu đáo và dùng cho hay loại từ trong tổ hợp với danh từ thì
không phải là chuyện đơn giản. Đối với việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
thì ý nghĩa thực tiễn của nó càng lớn lao.
Thứ nhất, cùng với công trình của các tác giả đi trước, một phần trong luận án
(chương II), sẽ giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt, những người mà bản ngữ của
họ không có loại từ như người Nga, người Anh, người Pháp … học tiếng Việt tốt hơn.
Đối với người nước ngoài thì cái khó không chỉ ở chỗ biết trường hợp nào dùng được
hay không dùng được loại từ mà khó hơn nữa là dùng đúng loại từ, loại từ nào được
dùng với danh từ nào cần phải có sự hiểu biết về nghĩa của loại từ mới có thể dùng
được.
Thứ hai, đối với việc giảng dạy cho người nước ngoài hoặc người thuộc dân tộc
thiểu số ở Việt Nam mà bản ngữ của họ có loại từ thì đề tài của luận án cũng có những ý
nghĩa thiết thực. Bởi loại từ tiếng Việt có những đặc điểm riêng cần phải nắm vững thì
mới sử dụng chính xác được.
Thứ ba, đối với người Inđônêxia học tiếng Việt cũng như người Việt học tiếng
Inđônêxia thì luận án có ý nghĩa quan trọng. Đó là sự tương ứng hay không tương ứng giữa
loại từ của hai ngôn ngữ, và cách chuyển dịch chúng như thế nào. Bởi đây là hai ngôn ngữ
khác loại hình. Phần chương IV sẽ như là một tài liệu có tính chất công cụ hữu ích cho người
học.
0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Việc tranh luận có hay không có loại từ đã được nhiều công trình trong nước cũng
như trên thế giới nói đến và lý giải. Cho nên, trong luận án này, chúng tôi không đi vào
tranh luận mà chỉ thừa nhận có một đơn vị hiển nhiên trong tiếng Việt luôn đứng trước
danh từ và đứng sau số từ trong danh ngữ, chúng tôi tạm gọi nó là loại từ (classifiers).
Với lý do như vậy, luận án chỉ đi sâu tìm hiểu các vấn đề sau:
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới và loại từ tiếng Việt.
(2) Xác lập bộ tiêu chí để nhận diện loại từ tiếng Việt.

b) Cung cấp một bộ tiêu chí để xác định loại từ, lập danh sách tương đối đầy đủ
loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia.
c) Cung cấp một cái nhìn toàn diện về nghĩa của loại từ trong cả hai ngôn
ngữ.
d) Phát hiện những đặc điểm giống và khác nhau của loại từ trong hai ngôn ngữ
Việt – Inđônêxia. Dịch loại từ tiếng Việt ra loại từ hoặc các biểu thức tương đương
trong tiếng Inđônêxia phục vụ cho công tác biên soạn từ điển loại từ + danh từ Việt –
Inđônêxia trong tương lai.
0.7. Bố cục của luận án
Ngoài mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 phần chính: mở
đầu, nội dung, kết luận.
Trong đó, phần Nội dung gồm có 4 chương:
Chương I. Cơ sở lý thuyết về loại từ
Chương II. Khảo sát loại từ tiếng Việt.
Chương III. Các đơn vị tương ứng với loại từ tiếng Việt trong tiếng Inđônêxia
Chương IV. Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Chƣơng 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LOẠI TỪ

1.1. Loại từ và các phổ quát về loại từ
1.1.1. Khái niệm về loại từ
Có nhiều quan điểm khác nhau về loại từ:
Theo “Từ điển các vấn đề ngôn ngữ học trên thế giới”: “Loại từ số là kiểu loại từ
phổ biến nhất. Chúng được gọi là "số" bởi chúng luôn xuất hiện trong ngữ cảnh chỉ
lượng, luôn là đơn vị kế tiếp ràng buộc với một số từ hoặc từ định lượng. Trường hợp
thứ hai là chúng xuất trong ngữ cảnh có đại từ chỉ định và đôi khi xuất hiện với tính
từ”.
1.1.1.1.Quan điểm của Allan

Về mặt hình thái học, loại từ thuộc vào một trong 3 dạng sau:
1. Loại từ có thể là các đơn vị từ vựng độc lập. Đây là đặc điểm điển hình trong
các ngôn ngữ đơn lập. Chúng thường có cấu trúc là số từ + loại từ + danh từ hoặc danh
từ + số từ + loại từ.
Danh từ có chứa loại từ thường có 4 kiểu cấu trúc thường gặp như sau:
a) ST + LT + DT: thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ Amerindian, Bengali,
Trung quốc, các ngôn ngữ Malayu, các ngôn ngữ Semitic, tiếng Việt.
b) DT + ST + LT: : thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ Miến điện, Nhật, Thái
c) LT + ST + DT: tiếng Kiriwina (ngôn ngữ đại dương)
d) DT + LT + ST: tiếng Louisiade Archipelago (ngôn ngữ đại dương)
Không bao giờ có trường hợp danh từ nằm xen giữa loại từ và từ số từ.
2. Loại từ có thể là phụ tố, hoặc là các yếu tố gắn với số từ (clitic), hoặc hoà tan
với số từ.
3. Chúng có thể được gắn với, hoặc hoà tan với danh từ chính. Trường hợp này rất
hiếm, xin xem thêm ở Cross River, Benue- Congo, Ikoro 1994.
1.1.2.2. Phổ quát về đặc điểm và ngữ nghĩa của loại từ
Phổ quát về đặc điểm của loại từ
1- Loại từ có thể là một lớp từ loại mở trong các ngôn ngữ.
2- Trong một số ngôn ngữ có loại từ thì không phải mỗi danh từ đều có thể kết hợp
với loại từ. Một số danh từ không thể đi kèm với một loại từ nào, điều này tuỳ thuộc vào
đặc điểm của danh từ là gì.
3- Phạm vi đối lập về ngữ nghĩa được sử dụng trong các biến thể của loại từ, hầu hết
chúng thường liên quan đến động vật hay bất động vật, liên quan đến giới tính, tuổi tác,
hình dáng, kích cỡ và cấu trúc của danh từ mà nó kết hợp.
4- Loại từ thường là các đơn vị từ vựng độc lập, nhưng trong một số ngôn ngữ loại
từ cũng có thể là các phụ tố cho số từ hoặc đại từ chỉ định.
Phổ quát về nghĩa và các phạm trù ngữ nghĩa:
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về loại từ đều khẳng định: phần lớn
loại từ đều có nghĩa.
Sau khi tham khảo các tài liệu nói về loại từ trong các ngôn ngữ chúng tôi có thể

1.2.3. Loại từ trong các ngôn ngữ châu Á và Đông Nam Á
1.2.3.1. Sự tồn tại loại từ trong hầu hết các ngôn ngữ Châu Á
1.2.3.2. Đặc điểm hình thái của loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á
1.2.3.3. Cấu trúc có chứa loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á
1.2.3.4. Số lượng và nguồn gốc loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á
1.3. Khái quát về loại từ tiếng Việt
1.3.1. Các quan niệm về loại từ trong tiếng Việt
Từ những sự phức tạp trên về khái niệm, về ý nghĩa cũng như là chức năng, đồng
thời cũng có những ảnh hưởng nhất định từ phía Hán học, trên đại thể có thể nhận thấy
hai khuynh hướng nghiên cứu loại từ tiếng Việt như sau:
1.3.1.1. Khuynh hướng tách loại từ ra khỏi phạm trù danh từ, xem loại từ như một
từ loại riêng.
1.3.1.2. Khuynh hướng xem loại từ thuộc phạm trù từ loại danh từ, coi chúng là
một nhóm từ khá đặc biệt trong từ loại danh từ.
1.3.2. Quan niệm của luận án về loại từ trong tiếng Việt
Từ những nghiên cứu về loại từ trên thế giới, những phổ quát về đặc điểm của loại
từ, chiếu theo các đặc điểm trong tiếng Việt, chúng tôi khẳng định trong tiếng Việt có
loại từ.
Loại từ trong tiếng Việt là các hình vị độc lập, có vị trí cố định trong danh ngữ, có
nội dung nghĩa phong phú.
Tiểu kết:
- Từ ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước và những ngữ liệu mà luận án thu
thập được, có thể kết luận rằng hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có loại từ nhưng
trong một số ngôn ngữ sự thể hiện của loại từ điển hình hơn một số ngôn ngữ khác. Do
vậy, các ngôn ngữ có loại từ điển hình hơn, phong phú hơn có thể gọi là các ngôn ngữ
có loại từ (classifier languages) đối lập với các ngôn ngữ không có loại từ (non-
classifier languages).
- Loại từ trong các ngôn ngữ từ Châu Á đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ đều đã
được phát hiện và nghiên cứu tương đối đầy đủ từ chức năng của loại từ cho đến các
tham tố nghĩa. Các nhà ngôn ngữ không chỉ nghiên cứu loại từ trong các ngôn ngữ riêng

số nghĩa của danh từ.
5) Có khả năng đứng làm thành phần của mệnh đề, của câu nếu được chuẩn bị
trước ngữ cảnh.
2.1.2 Danh sách loại từ tiếng Việt
Danh sách loại từ mà chúng tôi đưa ra ở đây là danh sách mở, chúng chưa phải là
toàn bộ loại từ tiếng Việt, bởi lẽ trong quá trình khảo sát chúng tôi có thể bỏ sót một số
đơn vị. Danh sách này được lập trên cơ sở 5 tiêu chí mà chúng tôi đưa ra ở trên và được
xét trên tinh thần lý thuyết điển mẫu. Thực tế, để có được danh sách này chúng tôi đã
tiến hành theo 2 bước:
Bước 1- Đưa tất cả các từ, hình vị thu thập được trong quá trình làm tư liệu có vị
trí đứng trước danh từ và đứng sau số từ mà chúng tôi nghi ngờ đó là loại từ hoặc gần
giống loại từ vào danh sách và lần lượt xét theo 5 tiêu chí.
Bước 2: Các từ/ hình vị đáp ứng được từ 3 tiêu chí trở lên được chúng tôi giữ lại
và gọi chúng là loại từ, còn những đơn vị đáp ứng được 1, 2 tiêu chí chúng tôi đưa ra
khỏi danh sách và không gọi chúng là loại từ.
Qua các bước làm việc như vậy chúng tôi đã thu thập được một danh sách loại từ
với 219 đơn vị.
2.2. Đặc điểm loại từ tiếng Việt
2.2.1. Đặc điểm ngữ pháp
1. Loại từ không nhận được chức vụ thành phần câu một cách độc lập.
2. Loại từ một mình không làm được thành phần câu. Song, nếu được ngữ cảnh chuẩn
bị nó có thể thực hiện được cả 4 chức năng chính của danh từ.
Về chức vụ cú pháp, chúng cũng có đầy đủ khả năng làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,
trạng ngữ …
Theo các nhà Việt ngữ học thì loại từ trong tiếng Việt được biểu hiện bằng các
hình thức ngữ pháp sau:
1. Thường không độc lập làm danh ngữ
2. Có khả năng kết hợp với số từ
3. Có khả năng kết hợp với từ ngữ chỉ xuất
4. Có khả năng mang mọi loại định ngữ

tập hợp, tôn trọng/ coi thường, quan hệ than/ sơ, già/ trẻ, nam/ nữ, lịch sự/ không lịch sự.
2.3.2. Loại từ chỉ động vật
Không tính đến loại từ chỉ người trong các câu chuyện cổ tích, dân gian được
nhân cách hóa để chỉ các loài động vật như bác gấu, chị ong thì loại từ chỉ động vật
trong tiếng Việt bao gồm các từ như : con, bầy, đàn…và có các tham tố ngữ nghĩa sau:
cá thể/ tập hợp, khái quát/ cụ thể, động/ tĩnh.
2.3.3. Loại từ chỉ thực vật
Nhóm loại từ này cho chúng ta một ý niệm về cây cối, thực vật. Nói đến bông là
chúng ta nghĩ ngay đến hoa; nói tới bụi là chúng ta nghĩ ngay tới những cây nhỏ
mọc gần nhau; hay nói tới khóm, lượm là chúng ta lại nghĩ tới hoa, lúa…v.v. Có thể
nói rằng nhóm loại từ chỉ thực vật thường có các tham tố nghĩa sau: cá thể/ tập hợp,
hình dáng, đơn vị đo lường ước lượng.
2.3.4. Loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên
Nhóm loại từ này rất phong phú, đa dạng về nghĩa biểu hiện. Cách sử dụng loại từ
ở đây chủ yếu dựa vào các cơ sở phân chia ngữ nghĩa của loại từ. Các tham tố nghĩa
thường thấy trong nhóm loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên đó là hình dáng, kích
thước, số lượng, chiều hay một vài đặc điểm nào đó của sự vật mà giác quan có thể thu
nhận được.
Từ việc quan niệm loại từ có nghĩa và loại từ quy định việc lựa chọn danh từ
đứng sau nó, chúng tôi đã dựa vào các tham tố nghĩa của loại từ để chia loại từ chỉ
đồ vật, hiện tượng tự nhiên ra thành 18 nhóm nhỏ như: nhóm loại từ chỉ các hiện
tượng của thiên nhiên như: cơn, trận, luồng…, nhóm loại từ có nghĩa, cứng, rắn, khó
vỡ như: viên, cục, hòn, tảng…, nhóm loại từ biểu thị hình thức tồn tại của các thực thể
rắn có hình dáng tròn hoặc lép với độ dài nhất định: thanh, thỏi, nén, súc…
Tiểu kết:
Loại từ tiếng Việt có đặc điểm rất điển hình, đó là sự xuất hiện đồng thời của nó
với danh từ trong bất cứ một danh ngữ điển hình nào.
Loại từ tiếng Việt là các đơn vị được biểu đạt bằng hình thức độc lập, tức là các
đơn vị từ vựng/ các từ, là đơn vị độc lập với các thành tố khác trong danh ngữ, ví dụ
như số từ, định ngữ danh từ, đại từ chỉ định và cũng độc lập với các thành tố khác bên

trong những đặc điểm chính của loại từ là luôn luôn xuất hiện bên cạnh số từ (hoặc
lượng từ) (Goddard, 2005).
3.1.1.2. Quan điểm của tác giả luận án
Loại từ tiếng Inđônêxia là một đơn vị từ độc lập.
3.1.2. Nhận diện loại từ tiếng Inđônêxia
3.1.2.1. Tiêu chí nhận diện loại từ
Xác định đặc điểm từ loại tiếng Inđônêxia, chúng tôi cũng dựa vào những phương
diện: ý nghĩa khái quát của từ, khả năng tổ hợp của từ, khả năng tham gia cấu tạo ngữ,
khả năng của từ trong việc đứng làm thành phần của mệnh đề, của câu.
Về mặt ý nghĩa, loại từ là tất cả những từ khi kết kết hợp với danh từ sau nó thì bổ
sung ý nghĩa cho danh từ, đó là một trong các nghĩa sau: động vật/ bất động vật, chỉ
người, giới tính, tuổi tác, địa vị, cấp bậc xã hội, chất liệu, hình dáng, độ đặc loãng, thể
chất, kích cỡ, công dụng, cá thể, số lượng, ước lượng, biểu thị sắc thái tình cảm của
người nói.
Về mặt kết hợp (khả năng tổ hợp từ, khả năng tham gia cấu tạo ngữ), loại từ là tất
cả các đơn vị, các từ đứng ở vị trí trước danh từ trung tâm và sau số từ (hoặc lượng từ)
trong cấu trúc danh ngữ điển hình ST + LT + DT hoặc đứng sau danh từ trung tâm và
trước số từ trong cấu trúc DT + ST + LT. Nó có thể có các biến thể sau:
1- Vị trí 3 + loại từ: Semua ekor
2- Vị trí 2 + loại từ: dua ekor (hai con)
3- Vị trí 2 + Loại từ + trung tâm: dua ekor kudi (hai con ngựa)
4- Loại từ + vị trí 1’: ekor hitam (con đen)
5- Loại từ + vị trí 2’: ekor itu (con ấy)
6- Vị trí 3+ 2+ loại từ + trung tâm + 1’ + 2’: semua ekor kudi (yang)hitam itu (Tất
cả những con ngựa màu đen ấy.).
Về khả năng của từ trong việc đứng làm thành phần câu, mệnh đề, loại từ là những
đơn vị khi đã được chuẩn bị về ngữ cảnh thì đều có đủ các chức năng như một danh từ:
làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…
3.1.2.2. Các kiểu loại từ trong tiếng Inđônêxia
Theo những thống kê và phân loại tư liệu mà chúng tôi có được, chúng tôi chia

tương đối giống với danh ngữ trong tiếng Việt, cũng bao gồm 3 thành phần: thành tố phụ
trước, trung tâm, và thành tố phụ sau. Loại từ tiếng Inđônêxia là các đơn vị có vị trí xác
định trong danh ngữ, nó có thể là đơn vị bắt buộc hay không bắt buộc trong khi nói,
nhưng rõ ràng, nếu muốn sử dụng chúng, thì loại từ tiếng Inđônêxia luôn có vị trí đứng
sau số từ và đứng trước danh từ (ST + LT + DT), hoặc vị trí sau danh từ và sau số từ
(DT + ST + LT).
3.2.3. Chức vụ cú pháp trong câu
Về mặt chức năng, loại từ tiếng Inđônêxia có thể có nhiều chức năng cú pháp
trong câu. Khi kết hợp với danh từ, loại từ cùng với danh từ có thể có chức năng quan
trọng nhất của danh từ là làm chủ ngữ, bổ ngữ và làm vị ngữ.
3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ tiếng Inđônêxia:
Loại từ trong tiếng Inđônêxia là các đơn vị có nghĩa. Phạm vi ngữ nghĩa của loại từ
thường biểu thị ý nghĩa về động vật/ bất động vật, về hình dáng, kích thước, số lượng, đo
lường, tính toán danh từ đi sau nó hoặc có sự phân biệt về giống, sự phân chia địa vị xã
hội đối với người đang được nói đến.
Các tham số ngữ nghĩa trong tiếng Inđônêxia: Giới tính, hình dáng, chiều và phương
hướng, tính nội vật, kích cỡ, độ bền vững, thể chất hoặc trạng thái, chất liệu, định
lượng.
3.4. Tiểu kết:
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi khẳng định: tiếng Inđônêxia có tồn tại loại từ,
chúng được gọi là Klasifikator hoặc penolong bilanga.
- Loại từ chỉ đơn vị đo lường khác với loại từ chỉ đơn vị tự nhiên về nghĩa. Bởi lẽ
việc lựa chọn loại từ đo lường là thường được xác định bởi trạng thái tạm thời của vật
thể (số lượng hoặc sự sắp xếp), còn loại từ chỉ đơn vị tự nhiên thì dựa vào các đặc điểm
hữu cố của bản thân sự vật. Chúng tôi coi các từ chỉ đơn vị đo lường quy ước không
thuộc vào nhóm loại từ, bởi lẽ về mặt nghĩa, chúng chỉ thuần túy là các đơn vị tính đếm
của sự vật, trong khi đó chúng tôi lại xếp các đơn vị đo lường ước lượng như bakul: rổ,
thúng; botol: chai; genggam: nắm; timbun: chồng, đống…. vào một tiểu loại nhỏ của
loại từ. Sở dĩ mà chúng tôi có quan điểm như vậy vì hai lý do: 1- Về đặc điểm kết hợp
và chức vụ cú pháp loại từ và từ chỉ đơn vị này giống như nhau. 2- Các đơn vị này là


Chƣơng IV
ĐỐI DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA

4.1. Tổng quan về dịch thuật
4.1.1. Khái niệm dịch, đối dịch, mối quan hệ giữa dịch thuật và ngôn ngữ đối
chiếu
Khái niệm đối dịch được hiểu là đối chiếu và dịch thuật.
Đối chiếu để tìm ra các nét tương đồng, khác biệt, trên cơ sở đó tiến hành dịch
thuật. Dịch trong luận án là dịch trên cơ sở đối chiếu nghiêm ngặt, sử dụng một cách
triệt để kết quả nghiên cứu đối chiếu vào dịch loại từ trong hai ngôn ngữ.
4.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc dịch
- Nhân tố từ vựng
- Nhân tố ngữ pháp
4.1.3. Các bình diện tương đương trong dịch thuật
Tương đương dịch thuật thường căn cứ trên bốn bình diện:
- Tương đương ngữ âm - Tương đương ngữ nghĩa
- Tương đương ngữ pháp - Tương đương ngữ dụng
4.1.4. Các phương thức dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
Theo lý thuyết dịch thì việc dịch từ ngữ nguồn sang ngữ đích ở góc độ từ thường
xảy ra ba khả năng:
a) Tương đương hoàn toàn: A = B
b) Tương đương bộ phận: A x B, A < B, A > B
c) Không tương đương: A ≠ B
Với việc xác định đối tượng dịch của chúng tôi trong luận án là các đơn vị từ của
một loại từ loại, chúng tôi sử dụng các thủ pháp: trực dịch, phân tích nghĩa tố, dùng từ
đồng nghĩa, mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa của từ, hay thế tương đương văn hóa.
Việc xác định đơn vị tương đương giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia được
tiến hành theo hai bước: 1- Phân tích nghĩa của loại từ trong hai ngôn ngữ, tìm thấy

tiếng Inđônêxia, đó là giữa loại từ và danh từ không thể xen bất cứ một từ nào khác.
4.2.1.3. Tương đồng về ngữ nghĩa
Một số nghĩa trong cả hai ngôn ngữ, đó là:
- Ý nghĩa chỉ loại của sự vật: phân loại sự vật hiện tượng theo tham tố nghĩa nào:
phương hướng, kích cỡ hay hình dáng…
- Ý nghĩa chỉ đơn vị tự nhiên: đơn vị ở đây là có tính chất ước lượng.
- Ý nghĩa chỉ sự đánh giá của người nói: liên quan đến phong cách và dụng ý của
người nói; thể hiện thái độ (tôn trọng, coi thường, quý mến…).
4.2.2. Những khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia
4.2.2.1. Khác biệt về mặt hình thái
- Loại từ trong tiếng Việt không có kiểu loại từ có hơn 1 âm tiết
- Tiếng Inđônêxia, một ngôn ngữ đa tiết chắp dính, có số lượng loại từ có hơn 1
âm tiết rất nhiều, nhiều nhất là kiểu loại từ có hai âm tiết, thậm chí còn có loại từ có 3
âm tiết.
4.2.2.2. Khác biệt về khả năng kết hợp
- Danh từ có thể đứng trước đại từ chỉ định ini (này), itu (kia, ấy, đó), trong khi đó,
danh từ trong tiếng Việt không thể kết hợp với đại từ chỉ định mà không có sự xuất hiện
của loại từ. Hoặc nếu có kết hợp danh từ + đại từ chỉ định như dao này rất sắc thì lúc đó
ý của người nói không phải là chỉ một con dao cụ thể mà đang nói đến chủng loại dao.
- Danh từ có thể trực tiếp đi sau số từ như satu (một), dua (hai), tiga (ba)… hoặc là
một lượng từ semua (tất cả), banyak (nhiều). Điều này không có trong tiếng Việt.
- Có thể có đại từ quan hệ yang đứng sau cụm số từ + loại từ (có thể coi như cái
với chức năng nhấn mạnh trong tiếng Việt), tuy nhiên vị trí của yang đứng sau loại từ và
trước danh từ chính, còn vị trí của cái trong tiếng Việt lại đứng trước loại từ.
4.1.2.3. Khác biệt về chức vụ cú pháp trong câu
Loại từ tiếng Inđônêxia có thể bị lược bỏ trong câu nói mà không ảnh hưởng đến
cú pháp của câu, còn nghĩa của cả danh ngữ, nếu không có loại từ đi kèm các nghĩa nổi
trội của danh từ sẽ mất đi, hay nói cách khác là nét nghĩa về hình dáng, kích thước…
không còn tồn tại bổ sung cho danh từ mà người nói tri nhận thực thể khách quan với
toàn bộ nghĩa mà danh từ biểu thị, không có nghĩa nào nổi trội hơn nghĩa nào.

chia ra thành hai loại: loại từ chỉ người (manusia – human) và loại từ chỉ động vật
(binatang).
Loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có sự đối lập về nghĩa với các yếu tố ngữ
nghĩa động vật, con người (phạm trù hữu sinh), mô hình và hình dáng của danh từ
(phạm trù vô sinh).
Số lượng loại từ trong tiếng Việt nhiều hơn so với loại từ trong tiếng Inđônêxia.
Về mặt nguồn gốc, loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia thường có nguồn gốc từ
danh từ.
Trong khi người Việt chia loại từ ra thành loại từ chuyên dụng và loại từ lâm thời thì
tiếng Inđônêxia chia ra làm hai kiểu loại từ: loại từ chung (orang – người, ekor - động vật,
buah - vật), và loại từ riêng biệt cho mỗi lớp danh từ.
Việc nhìn nhận đặc điểm nổi trội nào của sự vật hiện tượng là khác nhau trong mỗi
ngôn ngữ cũng như trong mỗi nền văn hóa. Điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn, sử
dụng với nghĩa như thế nào đối với cùng một danh từ. Nói cách khác, điều này do ngữ
nghĩa chi phối.
Những đặc điểm ngữ nghĩa thường liên quan đến tri nhận của con người, đó là
chiều hướng, hình dáng, độ bền vững, đặc loãng của danh từ mà loại từ có thể kết hợp.
Tiếng Inđônêxia cũng giống như tiếng Việt, cần có một đơn vị nào đó đứng giữa số từ
và danh từ, hoặc đứng trước danh từ để cá thể hoá danh từ đó.
Tiếng Việt cũng như tiếng Inđônêxia có hệ thống loại từ tương đối lớn dùng
để phân biệt đối tượng (danh từ) đi sau nó theo các đặc điểm về hình dáng, kích
thước, hay phạm trù vô sinh, hữu sinh, hay một số đặc điểm khác.
Loại từ nào được dùng để tính, đếm (tức là đứng trước danh từ nào) là tuỳ thuộc
vào hình dáng, kích cỡ, tính chất… của danh từ đi sau nó.
Tiểu kết:
- Khái niệm đối dịch được hiểu là đối chiếu và dịch thuật. Ở đây có thể hiểu đối
chiếu là một phần của dịch thuật. Đối chiếu để tìm ra các nét tương đồng, khác biệt, trên
cơ sở đó tiến hành dịch thuật. Dịch trong luận án là dịch trên cơ sở đối chiếu nghiêm
ngặt, sử dụng một cách triệt để kết quả nghiên cứu đối chiếu vào dịch loại từ trong hai
ngôn ngữ. Kết quả của công tác đối dịch của chúng tôi nhằm phục vụ cho công tác biên

về chúng. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học không chỉ dừng lại ở việc xem xét, luận
giải mà còn đúc kết thành những vấn đề có tính chất phổ quát trong các ngôn ngữ
trên toàn thế giới và tiến tới phân loại loại hình ngôn ngữ dựa vào cấu trúc có chứa
loại từ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đối chiếu, chuyển dịch loại từ tiếng Việt với
một ngôn ngữ khác là việc làm cần thiết, có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn. Công trình của chúng tôi được coi là công trình đầu tiên nghiên cứu
chuyển dịch loại từ giữa hai ngôn ngữ Việt, Inđônêxia. Qua nghiên cứu miêu tả, đối
chiếu, chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia chúng tôi rút ra những kết
luận sau:
1. Loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia là yếu tố được sử dụng bắt buộc trong
danh ngữ.
2. Loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia đều là các hình vị độc lập, không có
trường hợp là phụ tố như các ngôn ngữ khác trên thế giới.
3. Trong tiếng Việt, mỗi loại từ chỉ kết hợp được với một hoặc một vài lớp danh
từ, trong khi đó, trong tiếng Inđônêxia có 3 loại từ chung là những loại có thể kết hợp
với 3 lớp lớn của danh từ: orang kết hợp với danh từ chỉ người, ekor kết hợp danh từ chỉ
động vật, buah kết hợp với toàn bộ danh từ còn lại. Tuy nhiên số lượng loại từ với các
nghĩa cụ thể hơn trong tiếng Inđônêxia cũng tương đối nhiều (con số lên tới vài chục),
và khi cần nhấn mạnh vào đặc điểm cụ thể nào của danh từ người Inđônêxia sẽ sử dụng
các loại từ cụ thể.
4. Loại từ tiếng Inđônêxia có một trường hợp không có trong tiếng Việt, đó là sự
bắt buộc phải có loại từ khi có số từ là một (satu), trong trường hợp này satu có thể giữ
nguyên hình thức, cũng có thể chuyển thành một phụ tố (se-) kết hợp với loại từ.
5. Vị trí của loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia trong danh ngữ là vị trí cố định,
chúng chỉ xuất hiện trong 2 cấu trúc: số từ + loại từ + danh từ hoặc danh từ + số từ +
loại từ. Mỗi loại từ chỉ xuất hiện một lần trong danh ngữ, không có sự lặp lại loại từ như
một số ngôn ngữ khác trên thế giới (như tiếng Lào, tiếng Thái).
6. Loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có chức năng xác định hóa về nhiều
phương diện khác nhau cho sự vật được danh từ trung tâm biểu thị. Đó là chức năng cá
thể hóa sự vật, phân loại danh từ, chỉ đặc trưng của sự vật….

Việt cũng như tiếng Inđônêxia. Qua việc miêu tả, đối chiếu, đối dịch loại từ trong hai
ngôn ngữ, loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia nổi lên những đặc thù riêng của một loại
hình ngôn ngữ, đó là nhóm ngôn ngữ có cấu trúc loại từ số từ + loại từ + danh từ. Trên
phương diện này thì tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có thể xếp chung cùng một loại hình
ngôn ngữ.
- Kết quả nghiên cứu đối dịch loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có thể hướng
đến việc ứng dụng thực tiễn, đó là đóng góp cho công tác làm từ điển Việt – Inđônêxia
mà hiện nay ở Việt Nam chưa có. Và đồng thời cũng có thể kiểm tra lại một lần nữa sự
xác tín của từ điển Inđônêxia – Việt đã xuất bản trước đây về việc dịch loại từ Inđônêxia
sang tiếng Việt.
- Trên cơ sở những kết quả thu được cũng như những vấn đề còn tồn đọng, chúng
tôi thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu miêu tả, đối chiếu, đối dịch loại từ tiếng Việt và
tiếng Inđônêxia sâu rộng hơn nữa với các hướng nghiên cứu sau đây:
+ Đặt loại từ trong quan hệ lịch đại và đồng đại để xem xét sự hình thành và phát
triển. Đặc biệt, cần phải chú ý lần tìm mối quan hệ giữa loại từ và danh từ gốc nhằm
làm sáng tỏ mối quan hệ nghĩa của chúng.
+ Vận dụng kết quả nghiên cứu loại từ để nghiên cứu danh từ, phân loại danh từ,
và tiến tới một công trình nghiên cứu lớn hơn, đó là từ điển loại từ kết hợp với danh từ
trong tiếng Việt và tiếng Inđônêxia.

References.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I.Tiếng Việt
1. Nguyễn Hoàng Anh (2000), “Vài nét về cơ sở tri nhận và cơ sở ngữ nghĩa của trật tự
từ trong danh ngữ tiếng Hán”, Tạp chí Ngôn Ngữ (5).
2. Nguyễn Hoàng Anh (2001), “So sánh từ chỉ số nhiều trong tiếng Việt và tiếng Hán”,
Tạp chí Ngôn Ngữ (13).
3. Nguyễn Hoàng Anh (2002), “Một số vấn đề về loại từ tiếng Hán”, Kỷ yếu Hội nghị

tiếng lào xét về thành tố cấu tạo”, Kỷ yếu Ngữ học trẻ ‟96, diễn đàn học tập và
nghiên cứu, Hội Ngôn Ngữ học, Hà Nội.
18. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ
Đông Nam Á, Nxb Đại học sư phạm ngoại ngữ, Hà Nội.
19. Nguyễn Văn Chiến, Phạm Thành (1998), “Ngôn ngữ học đối chiếu và vấn đề dạy
tiếng việt cho người nước ngoài”, Tạp chí khoa học (3), Trường Đại học Tổng hợp,
Hà Nội.
20. Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam,
Viện đại học Huế.
21. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học
và tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
22. Mai Ngọc Chừ (2000), Tiếng Malayu – Bahasa Melayu, Nxb Đại học Quốc Gia Hà
Nội.
23. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, Hà
Nội.
24. Nguyễn Hồng Cổn (2001), “Vấn đề tương đương trong dịch thuật”, Tạp chí Ngôn
Ngữ (11).
25. Nguyễn Hồng Cổn (2006), “Lược sử nghiên cứu dịch thuật”, Tạp chí Ngôn Ngữ (8).
26. Nguyễn Hồng Cổn (2006), “Lược sử nghiên cứu dịch thuật”, Tạp chí Ngôn Ngữ
(11).
27. Dương Quốc Cường (1999), “Đối chiếu cấu trúc cụm danh từ tiếng Nga và tiếng
Việt”, Ngoại ngữ (4) (Nội san ĐH Ngoại ngữ - ĐHQGHN), Hà Nội.
28. Nguyễn Đức Dân (1984), “Ngữ nghĩa các hư từ: định hướng nghĩa của từ”, Tạp chí
Ngôn Ngữ (2), tr.21-30.
29. Nguyễn Đức Dân (1992), “Về một kiểu chuyển hóa từ loại”, Tiếng Việt và các ngôn
ngữ dân tộc phía nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.119-128.
30. Hồng Dân (1971), “Vấn đề miêu tả từ hư trong việc biên soạn từ điển giải thích”,
Tạp chí Ngôn Ngữ (1), tr.55-63.
31. Ngô Văn Doanh, Nguyễn Duy Hồng, Nguyễn Đức Ninh, Phạm Thị Vinh (1987),
Tìm hiểu văn hóa Inđônêxia, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

(2), tr.40-44.
49. Nguyễn Hữu Hoành (1997), “Xung Quanh vấn đề loại từ tiếng Katu”, Tạp chí Ngôn
ngữ (2).
50. Trịnh Đức Hiển (1988), “Một số đặc điểm của danh từ tổng hợp trong tiếng Việt và
tiếng Lào”, Tạp chí Khoa học (3), Trường đại học Tổng hợp Hà Nội.
51. Trịnh Đức Hiển (1991), “Hiện tượng danh hóa động từ và tính từ trong tiếng Việt và
tiếng Lào”, Tạp chí Khoa học (2), Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, tr.61-65.
52. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
53. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
54. Nguyễn Thượng Hùng (2005), Dịch thuật: Từ lý thuyết đến thực hành, Nxb Văn hóa
Sài Gòn.
55. Jeremy Munday (Trịnh Lữ dịch) (2009), Nhập môn nghiên cứu dịch thuật: Lý thuyết
và ứng dụng, Nxb Tri Thức.
56. Johnes R.B (1970), “Các cấu trúc có chứa loại từ trong các ngôn ngữ Đông Nam Á”,
Tạp chí Phương Đông, tập 90 (bản dịch tiếng Việt).
57. Nguyễn Thị Ly Kha (2001), Danh từ khối trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Hán),
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn.
58. Nguyễn Thị Ly Kha (2001), “Tính đếm được của nhóm danh từ Hán Việt chỉ động
vật”, Tạp chí Ngôn Ngữ (13).
59. Nguyễn Trọng Khánh (1999), Đối chiếu cấu trúc danh ngữ tiếng Lào với tiếng Việt,
Báo cáo khoa học tại Hội nghị Quốc tế Nga – Việt về ngôn ngữ học khu vực và
tiếng Việt, Kỷ yếu hội nghị, Hà Nội.
60. Nguyễn Trọng Khánh (2000), “Đối chiếu danh ngữ tiếng Lào với tiếng Việt và một
số ngôn ngữ khu vực khác”, Tạp chí Ngôn Ngữ (3).
61. Nguyễn Trọng Khánh (2000), Danh ngữ tiếng Lào, Luận án Tiến sĩ.
62. Phan Khôi (1955), Việt ngữ nghiên cứu, Nxb Văn Nghệ, Hà Nội.
63. Phan Khôi (1958), “Tiền danh từ và mạo từ”, Việt ngữ nghiên cứu, Hà Nội.
64. Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1950), Việt Nam văn phạm, in lần thứ
6, Sài Gòn, Tân Việt.

“cái”. Những vấn đề ngôn ngữ học các ngôn ngữ phương Đông, Hà Nội, tr.331-
339.
84. Trần Đại Nghĩa (1996), “Vì sao gọi là con xe máy?”, Ngôn ngữ và đời sống (5), tr.9.
85. Trần Đại Nghĩa (1996), Sự tổ hợp loại từ + danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Luận
án PTS.
86. Trần Đại Nghĩa, Những trường hợp không dùng loại từ trước danh từ biệt loại. Loại
từ tiếng Việt và các ngôn ngữ đơn lập, Viện ngôn ngữ học.
87. Trần Đại Nghĩa (2002), “Kiến giải về các tổ hợp kiểu con lươn, con dơi”, Tạp chí
Ngôn Ngữ (15).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status