ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ MINH THU KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG HỨA HẸN
VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NÓ
(Trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng
Anh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ THỊ MINH THU
KHẢO SÁT HÀNH ĐỘNG HỨA HẸN
VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NÓ
NL
Ngữ liệu tác phẩm văn học
5.
SP1 (Speaker 1)
Người nói (người đề xuất hành vi
ngôn ngữ hứa hẹn)
6.
SP2 (Speaker 2)
Người nghe (người hồi đáp cho
hành vi ngôn ngữ hứa hẹn)
7.
TLTH
Tư liệu truyền hình
8.
TLTT
Tư liệu thực tế 1
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
1.1.2.
Hành vi hứa hẹn…………………………………………
16
1.1.2.1.
Khái niệm hành vi hứa hẹn……………………………….
16
1.1.2.2.
Điều kiện sử dụng hành vi hứa hẹn………………………
17
1.2.
Hứa hẹn và hội thoại bối cảnh giao tiếp thể hiện HVHH
20
1.2.1.
Cặp thoại………………………………………………….
21
1.2.1.1.
Khái niệm………………………………………………
21
1.2.1.2.
Tính chất của cặp thoại……………………………………
21
1.2.1.3.
Cấu trúc nội tại của cặp thoại……………………………
21
1.2.2.
Hội thoại và ý nghĩa hàm ẩn………………………………
23
1.2.2.1.
Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp…………………………
23
1.5.
Tiểu kết chương 1…………………………………………
35
Chƣơng 2
HÀNH VI HỨA HẸN TRỰC TIẾP…………………….
37
2.1.
Những dấu hiệu ngôn ngữ đặc thù của HVHH trực tiếp….
37
2.2.
Các phương thức ngôn ngữ biểu đạt HVHH trực tiếp ……
39
2.2.1.
Phương thức biểu hiện lời hứa sử dụng các động từ ngữ
vi: Hứa sẽ/ sẽ không/ sẵn sàng/ bằng mọi giá/ dù thế nào
40
2.2.2.
Phương thức biểu hiện lời hứa sử dụng các cụm từ: Cam
đoan; bảo đảm; chắc chắn; nhất định; cam kết ………
42
2.2.3.
Phương thức biểu hiện lời hứa sử dụng các cụm từ: Thề
danh dự/ tuyệt đối/ độc/ có trời đất/ có Chúa/ có quỷ thần
chứng giám/ bằng tất cả những gì thiêng liêng; Nguyện;
Tuyên thệ; Di chúc ………………………………………
3
2.4.3.
Hành vi hứa hẹn thuộc phạm trù giao kèo, thề bồi………
58
2.5.
Tiểu kết chương 2…………………………………………
61
Chƣơng 3
HÀNH VI HỨA HẸN GIÁN TIẾP……………………
62
3.1.
Bối cảnh giao tiếp…………………………………………
62
3.2.
Các phương thức biểu đạt hành vi hứa hẹn gián tiếp……
63
3.2.1.
Hành vi hứa hẹn gián tiếp bằng các phương tiện từ ngữ…
63
3.2.1.1.
Sử dụng trợ từ……………………………………………
64
3.2.1.2.
Hành vi ngôn ngữ phụ trợ…………………………………
64
3.2.1.3.
Dấu hiệu từ vựng tình thái………………………………
77
3.3.2.
Động từ biểu thị hành vi hứa hẹn trong tiếng Anh ………
80
3.4.
Một số đề xuất về phương pháp giảng dạy hành vi hứa hẹn
80
3.5.
Tiểu kết chương 3………………………………………….
85
KẾT LUẬN
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….
97
PHỤ LỤC NGUỒN TƢ LIỆU TRÍCH DẪN…………
108
4
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
có những đồng nhất và khác biệt gì với tiếng Anh? Đây quả thực là những câu
hỏi hết sức thú vị. Xét theo tình hình nghiên cứu ngữ dụng học trong nước
cho thấy, loại hành vi này chưa được khảo cứu một cách cụ thể và hệ thống.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Khảo sát
hành động hứa hẹn và các phương thức biểu hiện nó trên ngữ liệu tiếng
Việt và tiếng Anh”
Việc nghiên cứu này mang ý nghĩa lí luận và thực tiễn nhất định. Đề tài
của chúng tôi có thể xem là đề tài đầu tiên khảo cứu HVHH và các phương
thức ngôn ngữ biểu hiện nó và có so sánh với tiếng Anh.
* Về lí luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ bức
tranh chung về việc nghiên cứu HVHH trên cả hai phương diện lí thuyết và áp
dụng thực tế. Thông qua các phương pháp nghiên cứu, luận văn đưa ra các
cấu trúc biểu đạt HVHH trong các tình huống hội thoại khác nhau, các
phương thức biểu đạt HVHH trong tiếng Việt có so sánh với tiếng Anh.
* Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là cơ sở để thực hiện
HVHH có hiệu lực trong giao tiếp. Mục đích giao tiếp là nhân tố quyết định
việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ, cùng một mục đích giao tiếp, tuỳ
theo tình huống, có thể lựa chọn phương tiện biểu đạt khác nhau. Kết quả có ý
nghĩa thực tiễn trong giảng dạy ngôn ngữ nhằm xây dựng phương pháp dạy
và học tiếng theo quan điểm giao tiếp.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Nhiều công trình nghiên cứu ngữ dụng học, HVNN, lí thuyết hội thoại,
nguyên tắc lịch sự, và các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu của
chúng tôi đã được các nhà nghiên cứu có tên tuổi quan tâm như: Đỗ Hữu
Châu – Tuyển tập, tập 2 – Ngữ dụng học; Nguyễn Đức Dân – Ngữ dụng học,
Lôgích và tiếng Việt; Nguyễn Thiện Giáp – Dụng học Việt ngữ; v.v. Và gần
7
+ Phương pháp phân tích các phát ngôn có chứa HVHH.
+ Phương pháp miêu tả tư liệu nhằm tìm ra đặc điểm của hành vi.
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu để so sánh các cách biểu đạt HVHH
giữa hai ngôn ngữ.
+ Một số thủ pháp chuyên ngành ngôn ngữ học: cải biến, phân tích ngữ
nghĩa, phân tích ngữ cảnh và phân tích ngữ dụng được sử dụng nhằm phát
hiện những đặc điểm hình thức và nội dung của HVHH
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn khảo sát gần 800 đoạn thoại đơn, đoạn thoại phức có chứa
HVHH trực tiếp hoặc gián tiếp, được trích dẫn từ những nguồn tư liệu:
+ Tác phẩm văn học Việt Nam và một số tác phẩm tiếng Anh, Mĩ
+ Tư liệu truyền hình, Internet
+ Hội thoại hàng ngày
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chƣơng I: Cơ sở lí luận - trình bày những cơ sở lí thuyết có liên quan
đến HVHH.
Chƣơng II: Hành vi hứa hẹn trực tiếp - khảo sát những dấu hiệu
ngôn ngữ đặc thù, các phương thức ngôn ngữ biểu đạt HVHH trực tiếp, các
bình diện hứa hẹn liên quan đến quy tắc về quan hệ liên nhân, so sánh với
tiếng Anh.
Chƣơng III: Hành vi hứa hẹn gián tiếp - tìm hiểu các phương thức
biểu đạt HVHH gián tiếp. So sánh với tiếng Anh. Gợi dẫn một số đề xuất về
to do things with words”. Để tìm hiểu đặc trưng của HVHH, chúng tôi sử
dụng thuật ngữ: “Hành vi ngôn ngữ”.
Về lịch sử ra đời của vấn đề HVNN, từ những năm 60 của thế kỉ XX,
các nhà triết học người Anh J. Austin (1962) và J. Searle (1969) đã đi sâu tìm
hiểu và đề xuất lí thuyết HVNN (Speech acts). Theo các ông, giao tiếp là sự
hành chức của ngôn ngữ và đồng thời cũng là sự hành chức của những
HVNN. Bởi vì, khi người ta nói ra một điều gì thì cũng là lúc người ta thực
9
hiện một hành động nào đó trong lời nói của mình. Ví dụ: khi người nói (Sp1)
đưa ra phát ngôn:
[1] Tôi hứa với chị sẽ bảo vệ cô ấy. [NL 1; 363]
Đồng thời với việc đưa ra phát ngôn [1], người nói đã thực hiện luôn HVHH.
Vậy HVNN là loại hành vi được thực hiện ngay khi các đối ngôn tạo ra
một phát ngôn (diễn ngôn) trong cuộc thoại giao tiếp.
Theo J. Austin, trong một cuộc thoại, một phát ngôn thường được tạo ra
bởi ba loại HVNNN [15, tr. 446]
Thứ nhất là hành vi tạo lời (Locutionary act): Trong quá trình giao tiếp,
người nói và người nghe luôn luôn sử dụng các yếu tố trong hệ thống ngôn
ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… để tạo lập phát ngôn nhằm truyền đạt đi
một lượng thông tin với mục đích nhất định.
Thứ hai là hành vi ở lời (Illocutionary act): Là loại hành vi mà khi
người nói phát ngôn thì hành vi đó sẽ có hiệu lực ngay khi nói. Chẳng hạn,
người nói (Sp1) nói: “Tôi hứa ngày mai sẽ trả lời cậu”, thì đồng thời với việc
thực hiện phát ngôn này anh ta đã thực hiện luôn hành vi hứa.
dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng
để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.” [15, tr.
465]. Tuy điều kiện sử dụng của mỗi HVƠL có khác nhau, nhưng chúng vẫn
có những điểm chung. Cả J. Searle và J. Austin đã đưa ra các điều kiện khác
nhau để sử dụng các HVƠL. Song trên cơ sở phân tích một HVƠL - hành vi
“hứa” tiếng Anh (promise) Searle đã điều chỉnh và bổ sung vào những điều
kiện may mắn của Austin và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện
thoả mãn. Mỗi HVƠL có một hệ những điều kiện còn gọi là quy tắc (rules) để
cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích. Có tất cả bốn điều kiện.
Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tuỳ theo từng phạm trù, từng loại
và từng HVƠL cụ thể:
+ Điều kiện nội dung mệnh đề: Đây là điều kiện chỉ ra bản chất của
hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm
mệnh đề, có thể là một hành động của người nói hay một hành động của
người nghe.
11
+ Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói, người
nghe. Ví dụ: Khi hứa với ai điều gì, ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc vào trách
nhiệm thực hiện cho được lời hứa của chúng ta và người nghe có quyền lợi
chờ đợi, được hưởng kết quả của lời hứa đó.
+ Điều kiện chân thành: Chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của
người phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín;
lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói, …
yếu tố mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp đa dạng của con người.
[3] Thưa Đức Ông, thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói
của tôi có tác dụng quyết định, tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm
vi ảnh hưởng của mình. [NL 10; 75]
Trong phát ngôn [3], ngoài kết cấu lõi là một BTNV tường minh hứa
“Tôi xin hứa sẽ làm tất cả những gì trong phạm vi ảnh hưởng của mình”, còn
có thêm thành phần mở rộng “thú thực, là ở mức độ nào đó, ở đấy tiếng nói
của tôi có tác dụng quyết định” chỉ ra phạm vi của lời hứa.
+ Biểu thức ngữ vi
“Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành
vi ở lời… Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp – ngữ nghĩa của các HVƠL.
Nhờ các biểu thức ngữ vi chúng ta nhận biết được các HVƠL”. BTNV là một
yếu tố quan trọng tạo nên PNNV. Để nhận biết và phân biệt được BTNV
người ta phải căn cứ vào các dấu hiệu. Searle gọi những dấu hiệu này là các
phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices –
IFIDs) [10, tr. 92].
a) Các kiểu kết cấu: là các kiểu câu tương ứng với từng HVOL. Những
kiểu kết cấu đại diện cho các loại BTNV tương ứng.Ví dụ, kiểu kết cấu câu:“
có … không?”,“Tôi hỏi”, “ sao … thế?” … là sự thể hiện của BTNV hỏi;
kiểu kết cấu:“Mình/ tôi hứa/ cam đoan/ nhất định/ chắc chắn sẽ…”,“Cậu/
anh/ chị cứ yên tâm. Tôi sẽ …”, “Dù/ dẫu …sẽ…” là kết cấu của BTNV hứa.
13
b) Những từ ngữ chuyên dùng trong các BTNV: dùng để tổ chức các kết
cấu và là dấu hiệu nhờ chúng mà ta biết được hành vi nào đang thực hiện.
14
từ ngữ chỉ hành động này có tên gọi là ĐTNV. “ĐTNV là những động từ mà
khi phát âm chúng ra cùng với BTNV (có khi không cần BTNV đi kèm) là
người nói thực hiện luôn cái HVOL do chúng biểu thị”[10, tr. 97] Chẳng hạn,
khi đưa ra phát ngôn [5] dưới đây người nói thực hiện luôn hành vi “hứa hẹn”
do ĐTNV “hứa” biểu hiện.
[5] Anh hứa một ngày không xa sẽ đưa em về thăm con suối thần
tiên ấy. [NL 3; 129]
Theo J. Austin, có nhiều loại ĐTNV tham gia vào hoạt động giao tiếp
của con người, nhưng Jenny Thomas đã giảm lược và hệ thống hoá thành bốn
nhóm tiêu biểu: ĐTNV siêu ngôn ngữ, ĐTNV nghi thức, ĐTNV cộng tác,
ĐTNV tập thể [10, tr. 107]
+ ĐTNV siêu ngôn ngữ (Metalinguistic performative): Đó là những
ĐTNV được dùng trong các BTNV tường minh có tác dụng giải thích cái
HVƠL được thực hiện bởi BTNV nguyên cấp. Hầu hết các BTNV thuộc
nhóm này. Phát ngôn [6] có thể được tường minh hoá bằng cách cho xuất hiện
ĐTNV “hứa” như ở [7]
[6] Anh sẽ vẽ cho Loan một bức chân dung.
[7] Anh hứa sẽ vẽ cho Loan một bức chân dung. [NL 3; 496]
Như vậy, ĐTNV “hứa” đã tường minh hoá HVHH được thực hiện bằng
cùng một BTNV nguyên cấp “Anh sẽ vẽ cho Loan một bức chân dung” Nó là
ĐTNV siêu ngôn ngữ.
+ ĐTNV nghi thức: Đây là tập hợp những ĐTNV được dùng trong
những BTNV tường minh do các hành động xã hội đòi hỏi phải có những
thiết chế, những nghi thức nhất định thì mới có hiệu lực. Ví dụ như: ĐTNV
tuyên án, tuyên dương, xoá, miễn nhiệm …
+ ĐTNV cộng tác là những ĐTNV tương ứng với các HVOL phải có ít
nhất hai người mới thực hiện được như: ĐTNV thách, cuộc, đố Chẳng hạn,
ĐTNV “hứa” nên được gọi là BTNV hàm ẩn hay BTNV nguyên cấp.
16
1.1.2. Hành vi hứa hẹn
1.1.2.1. Khái niệm hành vi hứa hẹn
Theo từ điển Tiếng Việt thì HVHH được định nghĩa là “hành vi nhận
làm và định thời gian thực hiện” hay “nhận sẽ làm gì tuy có khó khăn.” [47,
tr. 298] hay “Nói với ai với ý thức tự ràng buộc mình là sẽ làm điều gì mà
người ấy đang quan tâm” . Nhìn từ góc độ dụng học, HVHH là HVNN tồn tại
trong môi trường của một cuộc thoại hứa hẹn, ở đó cần hội đủ các nhân tố
như: người nói, người nghe, động từ có chức năng ở lời (ở đây là động từ
hứa), hành động A nào đó mà người nói đề xuất và cam kết sẽ thực hiện trong
tương lai. Đồng thời, trong đó mỗi nhân tố sẽ đảm nhiệm tối thiểu một vai trò
nhất định như: người nói (người hứa hẹn – Sp1) hứa với người nghe (người
được hứa hẹn – Sp2) là mình sẽ thực hiện một hành vi (A) nào đó trong tương
lai để hướng tới một một mục đích giao tiếp nhất định, người nghe (người tiếp
nhận HVHH) sẽ chờ đợi hành vi A được thực hiện.
[12] Anh hứa với em đúng một năm sau ra bờ Nốm Mơ, trên tảng đá
đẹp nhất, anh sẽ trở về với tin thắng trận. [NL 3; 128]
[12] là một phát ngôn hứa hẹn đã hội đủ các nhân tố như đã trình bày ở
trên. Gồm có người nói (anh), người nghe (em), động từ ngữ vi (hứa), hành
lời là trách nhiệm phải thực hiện hành động tương lai mà Sp1 bị ràng buộc
với hướng khớp – ghép hiện thực – lời; trạng thái tâm lí là ý định của Sp1 và
nội dung mệnh đề là hành động tương lai của Sp1. Bên cạnh sự phân loại này,
còn có các cách phân loại HVƠL của D. Wunderlich, F. Recanati và K. Bach
và R.M. Harnish.
Nói riêng về HVHH, một hành vi trọng tâm mà đề tài đi sâu khảo cứu
mang nhiều nét đặc trưng khu biệt. Những đặc trưng khu biệt này được xác
định trên cơ sở các IFIDs (Các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời) – một phát
hiện quan trọng của Searle về vấn đề phân biệt các loại HVƠL trong giao tiếp.
Theo Searle, có 9 điều kiện cho một HVHH [19, tr. 22].
* Điều kiện thứ nhất: Cả người nói và người nghe đều có điều kiện
nhập ngôn và xuất ngôn bình thường, có thể diễn đạt đúng và hiểu đúng Có
nghĩa là có thể nói một cách rõ ràng và không khó khăn gì điều cần nói. Cả
18
người nói lẫn người nghe đều thông thạo thứ tiếng đang nói, không ai bị các
yếu tố tâm lí cản trở giao tiếp. Đó là các yếu tố như ngọng, hỏng thanh quản,
lãng tai, điếc, đóng kịch hoặc nói giỡn, trêu chọc …
* Điều kiện thứ hai: Tách riêng nội dung mệnh đề với phần còn lại để
phân tích.
* Điều kiện thứ ba: A chỉ hứa với B sẽ thực hiện một điều C nào đó
nếu A nghĩ rằng: Thực hiện điều C sẽ có ích cho B mà B lại không tự thực
hiện được việc C, đồng thời B muốn A thực hiện việc đó giúp B. Đây là điều
kiện ban đầu của HVHH. Khi nghe B nói “Ai nhờ mà anh hứa giúp?” hoặc
“Tôi tự làm được việc này mà!” hoặc “Làm vậy có ích gì cho tôi đâu!”. Khi
không mang đặc trưng cơ bản của một hành vi tại lời, nhưng chúng là những
điều kiện cần cho hành vi đó, thiếu chúng không được. Có thể hiểu, điều kiện
ban đầu liên quan đến hai người - nói và nghe, tới những ý nguyện, lợi ích của
người nghe.
* Điều kiện thứ năm: Khi A hứa sẽ thực hiện C thì A phải chân thành,
phải hứa thực, nghĩa là “A phải có ý định sẽ thực hiện việc C và tin rằng mình
có khả năng thực hiện được việc C”. Đậy là điều kiện chân thực của HVHH.
Trong cuộc sống, chúng ta thường nghe câu “Tôi sẽ cố gắng giúp anh, nhưng
tôi không dám hứa chắc chắn sẽ làm được việc mà anh nhờ”. Nói như vậy là
thành thực ít nhất cũng báo cho người nghe biết rằng việc được hứa có khả
năng sẽ không thực hiện được. Điều này khác với những lời hứa hão, hứa
cuội, hứa cho xong chuyện, hứa cho được việc, không muốn làm cũng hứa,
biết không làm được cũng hứa, hứa để lừa người khác, hứa để khỏi bị quấy
rầy. Điều kiện chân thành nói về những trạng thái tâm lí của hành vi mà
người nói thực hiện.
* Điều kiện thứ sáu: Hứa là ghi nhận trách nhiệm. Khi A hứa với B sẽ
thực hiện việc C là A đã ghi nhận trách nhiệm với B rằng “Sự thực hiện việc
C đã trở thành một trách nhiệm, một nghĩa vụ tinh thần của A”. Đã hứa là
làm. Đã đưa ra lời hứa thì không thể “thất tín” càng không thể “bội tín”, vì
“Một lần thất tín, vạn lần bất tin”. Đây là điều kiện thiết yếu. Điều kiện thiết
20
yếu nói về trách nhiệm, về sự ràng buộc với người nói hoặc người nghe một
khi hành vi đã được thực hiện.
* Điều kiện thứ bảy: Điều kiện nội dung mệnh đề là điều kiện chỉ ra bản
21
thực tế, nữ chuyên gia ngữ dụng học C. K. Orecchioni người Pháp đã đề ra
một số quy tắc cụ thể như sau: Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc
liên kết hội thoại và quy tắc quan hệ liên cá nhân trong hội thoại [10, tr. 255].
Trên cơ sở đó, HVƠL là hiện tượng của ngôn ngữ, luôn luôn gắn với cách sử
dụng ngôn ngữ. Theo J. Searle HVHH được miêu tả là một trong các hành vi
tại lời. Vì vậy, muốn hiểu rõ bản chất của HVHH cần nghiên cứu lí thuyết hội
thoại, cụ thể là vấn đề cặp thoại vốn là đơn vị cơ sở của hội thoại.
1.2.1. Cặp thoại
1.2.1.1. Khái niệm
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất để tạo nên một đơn vị lớn hơn
là đoạn thọai và cuộc thoại. Một cặp thoại tối thiểu bao gồm một cặp kế cận
là: hành động dẫn nhập (tham thoại dẫn nhập) và hành động hồi đáp (tham
thoại hồi đáp). Các cặp thoại không phải được nói ra một cách ngẫu nhiên, tuỳ
tiện, chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy cách chặt chẽ, tuân theo
những quy tắc chi phối hội thoại. Trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có
chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai [19, tr. 96]. Sau khi thực hiện một
HVNN, người ta chờ đợi một HVNN hồi đáp. Nghĩa là, hai lượt lời có quan
hệ mật thiết với nhau. Quan hệ này phản ánh sự tác động của hiệu lực tại lời ở
lượt thứ nhất lên lượt lời thứ hai. Chúng ta có các cặp HVNN như: hỏi – đáp
(trả lời); mời mọc – từ chối v.v…
1.2.1.2. Tính chất của cặp thoại
* Tính chất kế cận: Hai tham thoại tương tác với nhau làm thành cặp kế
cận hay là sự tương thích của các tham thoại trong quan hệ trao đáp. Đây là
thuộc tính phổ biến và được thể hiện ở nhiều góc độ như:
+ Đặc trưng nổi bật, dễ nhận thấy về mức độ tương thích giữa tham
thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp.
phức tạp.