ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
TRẦN THỊ HẢI VÂN
ẨN DỤ TRONG TIẾNG ANH VÀ CÁC THỦ PHÁP
CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT
(TRÊN TƯ LIỆU NGHĨA ẨN DỤ CỦA CÁC TỪ NGỮ
CHỈ MỘT SỐ BỘ PHẬN ĐIỂN HÌNH TRÊN CƠ THỂ NGƯỜI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 60 22 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỒNG CỔN
Hà Nội, 2007
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ẩn dụ là hiện tượng ngôn ngữ xảy ra ở tất cả ngôn ngữ nói chung và
tiếng Việt nói riêng. Hiện tượng này gặp ở rất nhiều trường từ vựng nhưng
mạnh nhất là các từ trong trường chỉ bộ phận cơ thể người. Rất nhiều từ chỉ
bộ phận cơ thể người được dùng để gọi tên các sự vật hiện tượng trong thế
giới xung quanh con người. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là quan
điểm lấy con người làm trung tâm để nhận thức thế giới. Nhờ có ẩn dụ mà
việc biểu đạt của văn bản trở nên có sắc thái và không bị nhàm chán. Hiện
2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là nghĩa ẩn dụ của các từ ngữ
chỉ một số bộ phận điển hình trên cơ thể người trong tiếng Anh (có liên hệ với
tiếng Việt). Tuy nhiên vì thời gian và phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ xem
xét các ẩn dụ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh ở 6 từ chính là body,
head, face, eye, tongue, heart.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là:
- Góp phần làm sáng tỏ thêm đặc trưng của các ẩn dụ trong tiếng Anh
qua nghĩa ẩn dụ của một số từ ngữ chỉ các bộ phận cơ thể người.
- Tìm hiểu những tương đồng và khác biệt trong nghĩa ẩn dụ của các từ
ngữ chỉ bộ phận cơ thể người của tiếng Anh và tiếng Việt, và cách thức
chuyển dịch các ẩn dụ này từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Tổng quan các lí thuyết về ẩn dụ trên cơ sở một số lí thuyết về ẩn dụ.
Trên cơ sở đó thống nhất các thuật ngữ, quan điểm ẩn dụ và phương pháp tiếp
cận để nghiên cứu ẩn dụ.
- Tìm hiểu nghĩa ẩn dụ của các từ ngữ chỉ một số bộ phận điển hình trên
cơ thể người trong tiếng Anh (có liên hệ với tiếng Việt).
2
- Tìm ra các tương đương khi chuyển dịch các ẩn dụ nói trên từ tiếng
Anh sang tiếng Việt.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu chung (phương pháp luận), luận văn tiếp
cận đến đối tượng nghiên cứu chủ yếu là bằng phương pháp quy nạp: Thông
qua việc phân tích, mô tả nghĩa ẩn dụ của các từ ngữ cụ thể chỉ các bộ phận
cứu dưới những góc độ khác nhau.
Người đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ẩn dụ là Aristotle, triết
gia người Hy Lạp. Trong cuốn Thi học (Poetics), ông cho rằng ẩn dụ là sự áp
dụng cho một sự vật nào đó một cái tên vốn thuộc về một sự vật khác.
Ông đã đưa ra lý thuyết về phép so sánh rút gọn (substitution theory) ,
theo đó ẩn dụ được xem như một phép so sánh rút gọn bằng cách loại
bỏ từ so sánh “như là”, “là”…
Ví dụ, ẩn dụ (1) Men is a wolf (Người là chó sói), là sự rút gọn từ phép
so sánh: Men are like a wolf (Con người giống như là chó sói).
Khác với Aristotle, một số triết gia cổ đại khác lại nhìn ẩn dụ như là
một hình thức trang trí cho ngôn ngữ và họ không chú ý nhiều cách sử dụng
của ẩn dụ. Chẳng hạn, Platon (triết gia người Hy Lạp – 2500 trước Công
Nguyên) đã kịch liệt phê phán việc sử dụng ẩn dụ, ông cho rằng ẩn dụ: “chỉ
miêu tả cái gì như nó vốn thế”. Quan điểm này còn được sự ủng hộ trong một
thời gian dài của các triết gia Samuel Parker (1666), John Lock (1690).
Đầu thế kỷ XIX, các nhà văn và các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn khác
về ẩn dụ. Họ muốn tìm hiểu sâu hơn, nghiên cứu ứng dụng ẩn dụ vào đời
sống thực tế, cố gắng đưa ra những lý thuyết đúng đắn về ẩn dụ (Sigmund
Freud, Milton Erickson).
Nhưng phải đến thế kỷ XX, mới thực sự có một sự bùng nổ của các lý
4
thuyết ẩn dụ. Ivan A. Richards (nhà văn Anh, 1936), một trong người sáng lập
ra chủ nghĩa phê bình văn học hiện đại, đã đề cao tầm quan trọng của ẩn dụ.
Trong tập bài giảng về tu từ học (The Philosophy of Rhetoric, 1965), ông cho
rằng, ẩn dụ gồm hai phần, phần thứ nhất là cái dùng để so sánh (vehicle phương tiện so sánh), phần thứ hai là đối tượng so sánh (tenor - chủ đề hay cái
được so sánh). Chúng ta sẽ thấy rõ qua ví dụ sau đây:
(2)
3. Ẩn dụ được tạo ra trong sự tương tác giữa hai phạm trù và trong đó
ẩn dụ được sử dụng.
Trọng tâm của lý thuyết này nói đến những ẩn dụ tiểu thuyết, ẩn dụ văn
học có tính sáng tạo.
Quan điểm của Black nhận được sự ủng hộ của John (1981), Ricoeur
(1987), Ortony (1993). Nhưng phải đến khi lý thuyết nhận thức về ẩn dụ của
Lakoff và John (1980) xuất hiện thì ẩn dụ mới được nghiên cứu sâu hơn và
thực tế hơn. Lý thuyết này là sự mở rộng lý thuyết tương tác của Black
(1962). Lý thuyết này chỉ ra rằng hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta
tức là chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là có tính ẩn dụ. Theo hai
ông, hệ thống ý niệm của con người được cấu trúc một cách ẩn dụ, nói cách
khác đó là những khái niệm văn hoá phổ biến. Điều này tạo cho ẩn dụ một vai
trò quan trọng trong việc xác định cách chúng ta tiếp cận thế giới và cách
chúng ta suy nghĩ, hành động. Với cách nhìn này, ẩn dụ được xác định như là
sự liên kết giữa một phạm trù nguồn và một phạm trù đích. Chúng ta xem xét
ví dụ sau:
(3)
Life is a journey.
(Cuộc đời là một chuyến đi)
Ẩn dụ này gồm có phạm trù nguồn (a source domain) là journey - chuyến
đi và phạm trù đích (a target domain) là life - cuộc đời. Giữa hai phạm trù này có
một mối liên hệ giao thoa vì đặc điểm của chuyến đi và đặc điểm cuộc đời có
những điểm chung (Lakoff và Turner 1989). Vì vậy, một số đặc điểm của chuyến
đi được sử dụng để nhấn mạnh một số đặc điểm của cuộc đời.
Theo các tác giả của lý thuyết tri nhận về ẩn dụ (Lakoff và Johnson, 1980;
6
Ông cho rằng ẩn dụ đã chuyển cấu trúc ngữ nghĩa từ một phạm trù, một
trường ngữ nghĩa gốc sang trường ngữ nghĩa của chủ đề, điều đó dẫn đến việc
sẽ có một cấu trúc mới trong các trường của chủ đề. Gibbs (1979) đã đưa ra
một miêu tả chung nhất về ẩn dụ. Theo đó, ẩn dụ là một cách diễn đạt có hai
phạm trù ý niệm (knowledge fields - phạm trù kiến thức), trong đó ý niệm này
được hiểu dựa vào ý niệm kia. Dựa trên quan điểm của Giggs (1979),
Fauconnier (1996) cho rằng hai phạm trù này được coi như là phạm trù nguồn
và phạm trù đích, trong đó nguồn là phần thực tế được nói đến, đích là phần
được sử dụng để nói đến thực tế. Thực tế, hai phạm trù này thậm chí còn giải
thích lẫn cho nhau.
Nếu Backman (1991) và Tepper (1993) dựa vào lý thuyết đầu tiên của
Aristotle, thì Tepper dựa trên khái niệm chuyển nghĩa để đưa ra lý thuyết thay
thế hiện đại hơn (The substitution theory): ẩn dụ được dùng làm thay đổi nghĩa
của một từ, nói một cách ẩn dụ (bóng bẩy) thì ẩn dụ là cách dùng làm cho một từ
có nghĩa tiêu cực được thể hiện với một nghĩa tốt đẹp hơn. Đây là một lý thuyết
hiện đại về ẩn dụ nhấn mạnh sự tương tác giữa hai phạm trù, hai khái niệm.
Những nghiên cứu hiện đại về ẩn dụ đã chỉ ra rằng ẩn dụ không chỉ là
một phương tiện tu từ học và có tính hình thức mà chắc chắn là có liên quan
tới cách suy nghĩ và hiểu về thế giới của con người. Sự chuyển nghĩa dường
như là một trong những tiêu chí được chấp nhận nhất của ẩn dụ nhưng Searle
(1979) đã đặt câu hỏi về sự chuyển nghĩa này. Theo ông, chừng nào mà sự
tương tác giữa hai phạm trù còn tồn tại thì nghĩa của một trong hai phạm trù
đó còn nguyên vẹn. Sadock (1979), Rumelhart (1979) và Recanati (2001)
cũng đặt câu hỏi liệu có một sự phân biệt duy nhất nào về loại hình giữa ẩn dụ
và biểu thức có nghĩa đen. Dựa vào Goodman (1968) và Searle (1979),
Sperber, Wilson (1986) đã phản đối những sự phân biệt các hình thái của
ngôn ngữ ẩn dụ (bóng bẩy). Thay vào đó họ coi ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, cải
Ví dụ, trong câu ca dao:
9
(4)
Tằm ơi say đắm nơi đâu
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn.
Tằm và cành dâu là những ẩn dụ, hệ quả của phép ẩn dụ hoá (so sánh
ngầm). Phép so sánh ngầm chỉ còn hiển ngôn vế cái so sánh đó là tằm và cành
dâu còn cái được so sánh và cái so sánh đều bị ẩn đi. Tằm và cành dâu trong
ví dụ này đã được nhân hoá. Ta nhận biết được điều này nhờ tằm và cành dâu
được kết hợp với các từ ngữ biểu thị hành vi và tâm trạng của con người như:
say đắm, bỏ nghĩa chứ không nhìn vào lời gọi tằm ơi [17, 23].
Cũng trên quan điểm đó, Nguyễn Hữu Đạt (2001) nhận xét: “Ẩn dụ là
kiểu so sánh không nói thẳng ra. Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép
ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên
văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản. Vậy thực chất của phép
ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư
duy và ngôn ngữ dân tộc” [21, 409]. Chẳng hạn chúng ta có câu sau:
(5)
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa.
(Ca dao)
Đọc cả câu ca dao, ta mới hiểu rằng đó là lời người con trai, muốn biết
về người con gái, sở dĩ ta hiểu được điều đó là do văn cảnh tạo ra, và do hành
một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng so sánh những mặt,
những thuộc tính... giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên. Chẳng hạn ta
có T là tên gọi cho đối tượng Đ1 (tất nhiên T có nghĩa S1). Khi cần gọi tên cho
một đối tượng Đ2 nào đó người ta thấy Đ1 và Đ2 có những nét, những mặt nào
đó giống nhau, nên dùng T gọi luôn cho cả Đ2. Lúc này, một nghĩa S2 tương
ứng được xác lập trong T. Vậy ở đây đã diễn ra một phép ẩn dụ” [27, 176].
Chúng ta sẽ thấy rõ hơn quá trình chuyển nghĩa ẩn dụ qua ví dụ dưới đây: Từ
“chân” trong tiếng Việt có nghĩa đen là bộ phận dưới cùng của cơ thể người
hay động vật, dùng để đi, đứng như chân người, chân hổ, chân gà...Trên cơ sở
so sánh nhiều sự vật khác nhau có hình dạng tương tự người ta đã chuyển
“chân” sang gọi tên cho những bộ phận giống nó ở một số vật: chân tủ, chân
11
giường, ... (những tên gọi sau này đã khác rất xa so với “chân người”).
Theo Đỗ Hữu Châu: “Ẩn dụ là một hình thức ngữ âm h, x và y là
những ý nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi của x (x là ý nghĩa biểu vật chính của
A). Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi chính A của x để gọi tên y
(để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau” [6, 156].
Các sự vật được gọi tên (x, y) không có liên hệ khách quan, chúng
thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển tên gọi diễn ra tuỳ
thuộc vào nhận thức chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng.
Ẩn dụ không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là một hiện tượng ngôn
ngữ, vừa là kết quả cách tiếp cận thực tế của dân tộc, vừa là kết quả của
những quy luật điều khiển sự tạo nghĩa mới cho từ. Ví dụ như: Khi nói "đầu
bài", “cổ chai”, “lòng thuyền”, “miệng núi lửa”, "lõi của vấn đề”, không phải
là những sự vật này có hình dáng giống như sự vật chính mà là vì tương quan
vị trí của chúng với các sự vật khác (như so với cả bài viết, so với cả cái chai,
so với con thuyền, ngọn núi…), cũng giống như tương quan vị trí của các sự
Thông thường các phạm trù ở mô hình nguồn cụ thể hơn, còn các phạm trù ở
mô hình đích thì trừu tượng hơn, nghĩa là chúng ta thường dựa vào kinh
nghiệm của mình về con người, sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý
niệm hoá các phạm trù trừu tượng. Ví dụ:
(7)
Nguồn
Đích
Sinh vật nguy hiểm
tức giận
Chiến tranh
tranh luận
Ra đi
cái chết
Hành trình
cuộc đời
Cây cỏ
con người
[25, 30]
Ví dụ từ các từ chỉ bộ phận cơ thể người như chân, tay, cổ, má… chúng
ta có các kết hợp từ như: chân trời, tay ghế, cổ lọ, má phanh… Những từ này
xuất hiện như những ẩn dụ từ vựng, được tạo nên bằng việc thay thế một tên
gọi này bằng một tên gọi khác có hình thức đồng âm. Chẳng hạn trường hợp
tay ghế: bộ phận giống về vị trí (tay người: ở hai bên thân người - tay ghế: ở
hai bên thân ghế) và chức năng (để vịn), do vị trí và chức năng giống hai cánh
14
tay người nên được gọi là tay (tay ghế), kết quả của sự giống nhau này là thực
tế có hai từ đồng âm: tay người, tay ghế.
Như vậy, xét về bản chất, ẩn dụ nằm trong một khái niệm rộng hơn
mà truyền thống ngữ văn học Việt Nam gọi là thể tỷ (tức là so sánh ngầm).
Ẩn dụ được hiểu là so sánh ngầm, không hiển ngôn, nghĩa là, trong cấu trúc
so sánh ẩn đi cái được so sánh và từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh. Ví dụ,
trong câu ca dao:
(8)
Tằm ơi say đắm nơi đâu
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn
Tằm và cành dâu là những ẩn dụ, hệ quả của phép ẩn dụ hoá (so sánh
ngầm). Nếu kí hiệu phép so sánh là: “A t như B” thì ở phép so sánh ngầm chỉ
còn hiển ngôn vế B, vế cái so sánh đó là tằm và cành dâu còn A, t và từ ngữ
so sánh đều bị ẩn đi. Tằm và cành dâu trong ví dụ này đã được nhân hoá. Ta
nhận biết được điều này nhờ tằm và cành dâu được kết hợp với các từ ngữ
biểu thị hành vi và tâm trạng của con người như: say đắm, bỏ nghĩa chứ
không nhìn vào lời gọi tằm ơi [18, 23-24].
2.2. Phân biệt ẩn dụ với các phƣơng thức chuyển nghĩa khác
nét giống nhau quan trọng là rất hung dữ và thất thường. Điểm tương đồng
đem ra so sánh đã thể hiện đầy đủ, toàn diện ý tưởng của người viết: miêu tả
tính cách một người.
Đặc điểm chính của so sánh là sự so sánh mở giữa hai vật, sự tương
đồng giữa hai vật đem ra so sánh thể hiện rất rõ ràng, không hàm ẩn, được thể
hiện bởi những từ “as” “like’’, ví dụ: as pretty as a picture (đẹp như tranh)
So sánh và ẩn dụ rất hay bị nhầm lẫn vì bản chất chúng khá giống nhau
nên việc phân biệt giữa so sánh và ẩn dụ là thực sự cần thiết. Theo chúng tôi
so sánh và ẩn dụ khác nhau ở bốn điểm cơ bản sau đây:
a) So sánh là việc sử dụng “as”, “like” để thể hiện quan hệ so sánh giữa
hai điều khác nhau, tạo nên sự so sánh trực tiếp gọi là so sánh mở (open
comparision), gợi ý điều này giống một điều khác. Ví dụ:
(11) The surface of the water looked as smooth as glass.
(Mặt nước lặng như gương)
16
(12) Her gaze was like ice.
(Cái nhìn của cô ấy như băng)
(13) A good book is like a good meal.
(Một quyển sách tốt giống như một bữa ăn ngon)
Ở ví dụ (13), phép so sánh cho ta hiểu một quyển sách cũng có thể rất
bổ ích và thoả mãn con người như một bữa ăn. Tuy nhiên, thực tế người ta
hay nói: “A book is food for thought”, sách là món ăn (thực phẩm) cho tư duy
chứ không nói như ẩn dụ trên vì so sánh đồ ăn và văn học là không tương
xứng nhưng ví dụ trên vẫn được chấp nhận vì có thể từ một cái nhìn nào đó
chỉ ra rằng đồ ăn và văn học (food - book) là một, giống y hệt nhau. Đặc biệt
trong trường hợp một người đọc đang rất cần thông tin, cần mọi chi tiết để
tiêu hoá cho sự ham đọc sách của bộ não thì với người đó văn học không chỉ
(17) A wire is a road for electrons.
(Dây điện là đường cho điện đi qua)
(18) A vien is a road for blood cells.
(Mạch máu là đường máu chảy)
(19) The sea is a road for ships.
(Biển là con đường lưu thông của tàu bè)
(20) The railway is a road for trains.
(Đường sắt là đường của tàu hoả)
Để chỉ rõ hơn những sự hoán đổi như thể này chúng ta xem một số
cách sử dụng rất phổ biến như: Shipping lane/ highway lane /bowling
alley/lane (Tạm dịch: đường biển/ đường cao tốc/ đường bóng), Electric line/
railway line/ gas line /(Tạm dịch: đường điện, đường sắt, đường dẫn ga),
Electron flow/ blood flow (Tạm dịch: dòng điện, dòng máu)
So sánh rất khó mở rộng như vậy.
c) Ẩn dụ luôn luôn có thể được mở rộng tối đa trong khi so sánh luôn
tiến đến sự giới hạn của nó.
18
d) Nếu câu nói cần sự giải thích kỹ hơn đó là phép so sánh, so sánh
luôn có tính thơ, rất bóng bẩy và được dùng phổ biến trong văn thơ. Ẩn dụ
luôn diễn tả sự thực hiển nhiên. Ngoài việc sử dụng trong văn học, ẩn dụ còn
được dùng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày đến nỗi nhiều khi chúng ta
không nhận thức được việc sử dụng chúng. Ví dụ:
(21) That salesman was a shark.
(Người bán hàng là con cá mập)
(22) Your letter was buried under my paper.
(Thư của bạn dưới tập giấy của tôi)
Việc sử dụng ẩn dụ và so sánh trong thực tế không có quy tắc.Việc sử
Khi đọc câu trên chắc chắn người đọc sẽ hiểu không phải đích thân
tổng thống Nixon ném bom Hà Nội mà thực chất là lực lượng quân sự do
Nixon đứng đầu thực hiện hành động này. Tổng thống Nixon chỉ là người đại
diện cho lực lượng quân sự. Tuy nhiên cách nói như trên làm cho câu văn để
lại một ấn tượng mạnh mẽ.
Xét ví dụ sau:
(25) The Omelet left without paying.
(Món ốp lết rời nhà hàng mà không trả tiền).
Trong câu trên, người nói không có ý định nói đến món trứng ốp lết rời
nhà hàng mà nói đến một khách hàng nào đó sau khi ăn đã cố tình không trả
tiền cho món ốp lết. Điểm mấu chốt cho mối liên hệ của hoán dụ, trong
trường hợp này là mối quan hệ giữa khách hàng và thực đơn của anh ta. Nên
lưu ý rằng món trứng ốp lết sẽ chỉ có thể được hiểu như thế vì có bối cảnh phù
hợp còn bình thường con người không được gọi là trứng ốp lết như vậy.
Trong ngôn ngữ học tri nhận, hoán dụ là một đặc trưng cơ bản của nhận
thức. Có một hiện tượng phổ biến là mọi người lấy một hình ảnh, khái niệm,
biểu tượng đã quen thuộc, rất dễ hiểu để thay thế cho một điều khác định nói
đến hay thay thế cho một phần của biểu tượng được nhắc đến. Ví dụ:
(26) The pen is mighter than the sword.
20
(Ngòi bút mạnh hơn gươm giáo)
Trong (26), cái bút (pen) thay thế cho việc xuất bản, viết lách còn
thanh gươm (sword) thể hiện cho sức mạnh quân sự.
(27)
No one is sure what Moscow’s response will be.
(Không ai biết phản ứng từ phía Moscow sẽ như thế nào)
một nhóm, một dạng, một kiểu, một loại... như trong các ví dụ dưới đây:
(29) She was a girl of twenty summers
(= She was twenty years old)
Mỗi mùa là một năm, vậy khi nói: cô gái đó 20 mùa hè. Người ta có thể
liên tưởng và hiểu là: cô gái đó 20 tuổi.
(30) Ireland have beaten France (Nước Ireland đánh bại nước Pháp)
Trong (30) người ta lấy tên đất nước thay thế cho đội bóng của nước
đó, mỗi đất nước có một đội bóng đại diện, nên người đọc vẫn hiểu dụng ý
của câu nói: Đội bóng Ireland đánh bại đội bóng Pháp.
2.2.3. Phân biệt ẩn dụ với cải dung (Synecdoche)
Cải dung là một danh từ, xuất phát từ tiếng Hy Lạp với 2 nét nghĩa:
1) Một kỹ xảo có tính ẩn dụ của việc đặt tên một phần cụ thể khi hướng
đến cái tổng thể.
2) Đặt tên cái tổng thể để chỉ ra một bộ phận cụ thể.
Cải dung (Synecdoche) là một phương thức tu từ học, thể hiện một loại
ẩn dụ mà trong đó:
+ Dùng một phần của cái gì đó để thể hiện toàn bộ cái đó, chẳng hạn
dùng bộ phận thay thế cho tổng thể. Ví dụ:
(31) The house was built by 40 hands.
(Ngôi nhà được xây bởi 20 người)
Trong ví dụ (31), hands (đôi bàn tay) thể hiện workers (người công nhân)
[62, 19]
(32) Mouths to feed. (Những cái mồm đòi ăn)
22
Trong ví dụ (32), mouth (cái mồm) thay thế cho hungry person (người đói).
(33) There were some new faces at the meeting
(Xuất hiện một số khuôn mặt mới tại cuộc họp)