ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
HOÀNG THU HUYỀN
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU KẾT TRỊ DANH TỪ CHUNG
(COMMON NOUNS) TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
(Trên cơ sở các danh từ chung chỉ bộ phận trên khuôn mặt người)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội, năm 2013
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN A: MỞ ĐẦU 2
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Mục đích, nội dung nghiên cứu 8
4. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu 9
5. Đối tƣợng nghiên cứu 10
6. Bố cục của luận văn 11
PHẦN B: NỘI DUNG
Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 12
1.1 Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt 12
1.1.1 Khái niệm danh từ 12
1.1.2 Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt 13
1.2 Kết trị danh từ - Khái niệm chung 16
Chƣơng II: KẾT TRỊ DANH TỪ CHUNG TRONG TIẾNG ANH VÀ
TIẾNG VIỆT- NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT 19
2.1 Kết trị danh từ và danh ngữ tiếng Anh 19
2.1.1 Danh ngữ cơ sở - kết trị đóng của danh từ tiếng Anh 20
2.1.2. Danh ngữ phức – kết trị mở của danh từ tiếng Anh 25
2.1.3 Kết trị danh từ tiếng Anh 28
2.2 Kết trị của danh từ và danh ngữ tiếng Việt 32
2.2.1 Danh ngữ tiếng Việt 32
2.2.2 Sơ đồ biến thể cấu trúc biểu hiện kết trị của danh từ tiếng
Việt 33
khái niệm trừu tượng (khoa học, kinh tế, phương pháp) cho các ý nghĩa danh từ
được ngữ pháp hóa. Ý nghĩa ngữ pháp của danh từ ở các danh từ phi sự vật (chỉ
hành động, chỉ đặc trưng…) có được là do kết quả của lối tri nhận thực tại của
người bản ngữ, mà trực tiếp là do sự biến thiên của mối quan hệ giữa các khái
niệm trong khi được phản ánh, tức là trong cái ý thức về sự vật được biểu đạt
bằng chất liệu ngôn ngữ”. (Đinh Văn Đức, 2001).
Danh từ được coi là một kho tàng đa dạng có những giá trị ngữ nghĩa
tiềm ẩn ở phía sau, vốn bị tri phối bởi mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy
qua cách thức tri nhận của người bản ngữ.
Tầm quan trọng của danh từ không chỉ nổi bật trong ngôn ngữ nói
chung, với sự nổi trội về số lượng từ vựng cũng như đa dạng ngữ nghĩa, như
đã nói trên. Xét trong phạm vi đơn vị giao tiếp cơ bản của ngôn ngữ là câu, về
phương diện ngữ pháp ngữ nghĩa, danh từ còn là một thành tố giữ vai trò
quyết định đối với tổ chức câu. Như đã được nêu trong Chương 2 – Nghĩa
miêu tả, mục 2.1 – Cấu trúc vị từ - tham thể của câu, trong cuốn Cơ sở ngữ
nghĩa – phân tích cú pháp, Nguyễn Văn Hiệp, (2008) theo lí thuyết ngữ trị
của nhà ngữ học Tesnière, danh từ là một trong những từ loại có thể làm vị từ,
mà vị từ là đỉnh, là tâm điểm tổ chức của câu, quyết định trực tiếp đến các 5
diễn tố (actants) có thể xuất hiện trong câu. Hơn thế nữa, cho dù mô tả cấu
trúc cú pháp của câu theo quan điểm truyền thống, với năm thành tố câu
(sentence element): S, V, O, A, C (Subject - chủ ngữ, Verb – động ngữ,
Object - tân ngữ, Adverbial- trạng ngữ, Complement - bổ ngữ), như đã được
nêu trong University Grammar of English ( Randolph Quirk, 1973), hay theo
bộ khái niệm vị từ và các tham tố ( arguments ), gồm hai loại tham tố là tham
tố bắt buộc phải có để cùng với vị từ làm thành câu trọn nghĩa, được gọi là
diễn tố (actants) và tham tố không bắt buộc phải có, được gọi là chu tố
(circumstants) của Tesinère, thì các thành tố câu mang tính chất buộc phải có
sở, tiến hành phân tích nghiên cứu đề tài “Phân tích đối chiếu kết trị danh
từ chung (common nouns) trong tiếng Anh và tiếng Việt”; đồng thời vận
dụng cách phân tích ấy để nghiên cứu danh từ chỉ các bộ phận trên khuôn mặt
người trong các cụm từ, tổ hợp từ cố định, để thấy rõ sự giống và khác nhau
về khả năng kết trị, xét về phương diện cấu tạo cấu trúc cú pháp, khả năng kết
hợp và ngữ nghĩa của danh từ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt.
Lí do chọn các danh từ chung, cụ thể là: mắt, mũi, mồm, tai, tóc làm
đối tượng phân tích là, về phương diện ngữ nghĩa chúng tiềm ẩn nhiều hơn
các khía cạnh ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm theo nhiều miền khác nhau và
nhờ vậy, chúng có thể được xem như là những điển hình, áp dụng cho việc
nắm bắt khái niệm kết trị danh từ nói chung và danh từ tiếng Anh nói riêng;
để rồi, thông qua phân tích, có thể đưa ra một vài gợi ý đóng góp cho phương
pháp giảng dạy và học ngoại ngữ có hiệu quả hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Danh từ có một vị trí quan trọng trong việc cấu tạo câu ở hầu hết các
ngôn ngữ trên thế giới, và nó là loại từ loại được các nhà nghiên cứu, không
chỉ trong lĩnh vực ngôn ngữ học mà trong các lĩnh vực khác nữa như văn học,
dân tộc học văn hóa dân gian v.v… . Có nhiều dự án nghiên cứu về danh từ 7
trên những qui mô lớn trong cả lĩnh vực ngôn ngữ học lí thuyết và ngôn ngữ
học ứng dụng đã và đang được triển khai.
Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phương Tây đối với tiểu loại danh
từ được sử dụng trong các tổ hợp từ cố định và thành ngữ xuất phát từ những
thay đổi trong quan điểm đối với vai trò của danh từ trong việc giảng dạy
ngoại ngữ và dịch thuật. Trước đây người ta xem ngôn ngữ là một hệ thống
các qui tắc mang tính phổ quát thì hiện nay ngày càng nhiều có nhiều bằng
chứng cho thấy việc thông thạo một ngoại ngữ phụ thuộc rất nhiều vào khả
năng sử dụng thành thục các tổ hợp từ cố định gọi là “prefabricated units” hay
định ranh giới với các đơn vị khác như từ ghép, tục ngữ, quán ngữ có các
công trình của các tác giả Nguyễn Kim Thản (1963), Cù Đình Tú (1973) và
Nguyễn Thiện Giáp (1975 và 1985). Các công trình nghiên cứu khác về ngữ
nghĩa theo hướng ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu xuất hiện trong thời gian
gần đây, chủ yếu là dạng các bài báo đăng trên tạp chí. Chưa có một công
trình nào nghiên cứu đối chiếu một cách toàn diện hệ thống các thành ngữ, tổ
hợp từ cố định có chứa các danh từ chỉ bộ phận trên khuôn mặt người trong
tiếng Anh và tiếng Việt, từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận và kết trị danh từ.
3. Mục đích, nội dung nghiên cứu
Luận văn sẽ tập chủ yếu là lớp danh từ chung, cùng với một số danh từ
chỉ bộ phận trên khuôn mặt người làm đối tượng nghiên cứu (mắt, mũi, mồm,
tai, tóc) cùng với một số các danh từ khác trong tiếng Việt nhằm xem xét
danh từ có thể mang nghĩa khác nhau như thế nào trong việc cấu tạo câu, khả
năng kết hợp với cụm từ tự do, khả năng suy nghĩa và các tổ hợp từ cố định,
từ những đơn vị cấu thành của chúng.
Để phục vụ nghiên cứu khả năng suy nghĩa của các cụm từ, tổ hợp từ
cố định, từ những đơn vị cấu thành của chúng, luận văn dựa trên lý thuyết của
ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là lý thuyết về ẩn dụ và hoán dụ. Vì vậy, vai 9
trò của kết trị danh từ cùng với vai trò của ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
trong việc tạo nghĩa trong câu và trong các tổ hợp từ cố định vừa là căn cứ lý
luận vừa là mục tiêu nghiên cứu quan trọng của luận văn.
Sau khi phân tích xác định các ý nghĩa của danh từ, xem lớp danh từ đó
hoạt động như thế nào, rồi tiến hành phân tích và đối chiếu kết trị của các lớp
danh từ tiếng Anh và tiếng Việt tương ứng đó, tìm điểm tương đồng và khác
biệt, giải thích nguyên nhân có sự giống nhau và khác nhau của các danh từ
qua các ngữ nghĩa khác nhau.
4. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu mà luận văn đặt ra là khả năng
kết trị của danh từ với các từ xung quanh nó xét về mặt ngữ nghĩa, thông qua
quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận, đối với các cụm từ và các tổ hợp từ cố
định,. Trong phần nghiên cứu kết trị thông qua lí luận của ngôn ngữ học tri
nhận, chúng tôi tập trung vào vấn đề ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm vì đây là
hai công cụ quan trọng nhất trong ngôn ngữ học tri nhận được dùng trong việc
khảo sát các cụm từ và các tổ hợp ngữ cố định.
Đối tượng nghiên cứu chính, cụ thể, trong luận văn là các cụm từ, tổ
hợp từ cố định có chứa các yếu tố chỉ các bộ phận trên khuôn mặt người trong
tiếng Anh và tiếng Việt. Trong khuôn khổ luận văn có hạn chúng tôi chỉ tập
trung phân tích sâu vai trò của các ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong việc
tạo nghĩa cho các lớp cụm từ, các tổ hợp từ cố định này. Các cụm từ và các tổ
hợp từ cố định tiếng Anh và tiếng Việt có chứa các danhh từ chỉ các bộ phận
trên khuôn mặt người được thống kê đầy đủ trong phần phân tích và khảo sát.
Các danh từ chỉ các bộ phận trên khuôn mặt người được chọn là: mắt, mũi,
mồm, tai, tóc.
11
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Kết trị danh từ chung trong tiếng Anh và tiếng Việt –
Những tương đồng và dị biệt
Chương III: Kết trị biểu hiện nghĩa của danh từ chỉ các bộ phận trên
khuôn mặt người trong tiếng Anh và tiếng Việt
Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo tiếng Anh và tiếng Việt
đã được sử dụng như là nguồn trích dẫn trong luận văn.
các khái niệm trừu tượng” (Hữu Quỳnh, 1980, tr.55)
Một điều đáng quan tâm khi nói về danh từ là, để mô tả đầy đủ hơn các
bình diện từ vựng học, cú pháp học và đặc biệt là ngữ nghĩa học, danh từ
thường được đặt đặt trong danh ngữ để xem xét. Danh ngữ là một tổ hợp,
một cụm từ mà trong đó có danh từ làm trung tâm (chính tố). Xung quanh
danh từ trung tâm là những thành tố phụ, đa dạng về thể loại, bổ nghĩa cho
danh từ trung tâm, theo quan hệ một chiều – chính-phụ. Về mặt cú pháp, danh 13
từ có thể kết hợp được với nhiều từ loại khác nhau: tính từ, động từ, số từ, loại
từ … Dưới góc độ ngôn ngữ tri nhận, về phương diện ngữ nghĩa, danh từ
đóng nhiều vai nghĩa khác nhau, trong mối liên quan với các thành tố xung
quanh trong cụm từ hoặc trong câu. Xét ví dụ sau:
Cậu bé đáng yêu đang ngủ kia học ngoại ngữ qua mạng.
Xét hẹp trong cụm từ cậu bé đáng yêu kia thì danh từ cậu bé được hạn
định là cậu bé nào bởi hai cụm từ đáng yêu (tính từ) và đang ngủ kia (cụm
động từ) nhưng với đáng yêu thì cậu bé là thụ thể còn đối với đang ngủ kia thì
cậu bé là tác thể gây ra hành động.
Xét trong phạm vi câu thì cậu bé là tác thể, còn danh từ ngoại ngữ là
thụ thể của động từ học. Trong khi đó, danh từ mạng đi với giới từ qua lại tạo
thành yếu tố công cụ của hành động học.
Tóm lại, khả năng kết hợp cú pháp rộng rãi trong câu, đóng nhiều vai nghĩa
khác nhau là điểm nổi bật của danh từ.
1.1.2 Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt
Danh từ chung là danh từ dùng để định danh, gọi tên các lớp sự vật
thuộc cùng một loại, danh từ riêng là danh từ dùng để chỉ tên riêng cho
người, vật, địa điểm… (Từ điển Ngôn Ngữ học, 1985)
Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt có một sổ điểm nổi bật giống
nhau và khác nhau.
với danh từ chỉ loài vật thì thường dùng hai từ khác nhau như cock (gà trống)
- hen (gà mái), ox (bò đực) – cow (bò cái), v.v….
Trong tiếng Việt, để phân biệt giới tính người, danh từ thường đi với
các từ thể loại (ông - bà, anh- chị …): ông quản gia – bà thợ may, hoặc dùng
tính từ đực hoặc cái, đối với loài vật: dê cái- dê đực, lợn cái - lợn đực. 15
Phạm trù số của danh từ giữa Tiếng Anh và Tiếng Việt rất khác
biệt.Trong tiếng Việt phân biệt số ít số nhiều của danh từ thuộc phạm trù ngữ
nghĩa, không liên quan đến hình thái của danh từ như một tay – hai tay.
Trong Tiếng Anh, số là một phạm trù ngữ pháp. Hậu tố -s, một hình vị
ngữ pháp (gramatical morpheme), thường được sử dụng để chỉ số nhiều, ví dụ
như book – books. Tất nhiên, như chúng ta biết, còn có rất nhiều ngoại lệ, ở
đó hậu tố này không sử dụng, ví dụ như a child – children (đứa trẻ - những
đứa trẻ), this ox - these oxen (con bò này – những con bò này), thậm chí còn
có nhiều trường hợp không sử dụng bất cứ hình vị phụ tố nào.
Phạm trù số danh từ tiếng Anh được phân loại khá phức tạp thành các
nhóm và tiểu nhóm, như sơ bộ được mô tả dưới đây:
a) Có cả hình thái số ít và số
nhiều
(Singular – plural)
1. Khả biến (variable)
b) Không có hình thái số nhiều
Danh từ (zero plural)
a) Chỉ có số ít (singular only)
2. Bất biến (invariable)
b) Chỉ có số nhiều (Plural only)
Nhóm 1 bao gồm những danh từ có thể chuyển được từ số ít sang số
niệm thuộc về cú pháp của động từ vị ngữ lý giải các quan hệ thành tố cú
pháp, được mở rộng tới từ loại này là “Ngữ trị của danh từ là toàn bộ giá trị
ngữ pháp mà từ loại này có được từ các kết trị hiện hữu, thường xuyên và
các diễn trị mà nó có ở trong câu từ các vai diễn mà danh từ thực hiện”.
Như vậy, kết trị của danh từ là một bộ phận hợp thành, cùng với diễn trị tạo 17
nên ngữ trị của nó. Nếu như diễn trị của danh từ được xác định bởi các “vai
diễn” của nó trên “sàn diễn” ngữ nghĩa của câu thì kết trị của danh từ lại là
giá trị ngữ pháp ngữ nghĩa của nó có được trong mối kết hợp với các thành
tố xung quanh.
Kết trị của danh từ được thể hiện chi tiết trong phạm vi danh ngữ.
Trong cấu trúc đầy đủ của một danh ngữ, các vị trí phụ tố xung quanh, đứng
trước và sau danh từ trung tâm, kết hợp với danh từ trung tâm tạo ra một loại
giá trị mà ta sẽ gọi là kết trị. Cũng trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại”
(Đinh Văn Đức, 2001) đã chỉ rõ: Kết trị (compositional value) không phải là
toàn bộ ngữ trị (valence) của danh từ, nó là bộ phận giá trị có được từ những
kết hợp thường xuyên, tiềm tàng, lặp lại ở mỗi danh từ. Mối quan hệ thường
trực đó, hiện diện trong cấu trúc danh ngữ dưới dạng các quan hệ phân bố
ngữ pháp và quan hệ nghĩa của các vị trí ở trước và sau danh từ. Khác với
miêu tả luận trước kia, ở thời điểm này, không nên hiểu kết trị này chỉ là
những sự kết hợp thuần tuý hình thức, nó còn có những giá trị ngữ nghĩa tiềm
ẩn ở phía sau, vốn bị chi phối bởi mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của
con người.
Kết trị của danh từ là một hằng thể tối đa cho những khả năng kết hợp
của danh từ, là chuẩn ngữ pháp của mô hình danh ngữ để nhờ đó có thể đối
chiếu một khi sử dụng dạng này hay khác của danh ngữ trong một phát ngôn
nào đó.
Các dạng danh ngữ cụ thể này có thể quy về một mẫu chung (mô hình)
19
Chƣơng II: KẾT TRỊ DANH TỪ CHUNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG
VIỆT- NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT
2.1 Kết trị danh từ và danh ngữ tiếng Anh
Như trên đã nói, kết trị của danh từ được xem xét gắn liền với kết cấu
của danh ngữ (noun phrase), một tổ hợp từ có danh từ là chính tố làm trung
tâm, kết hợp với đa dạng các thành tố phụ xung quanh theo quan hệ một chiều
– chính-phụ. Khả năng kết hợp giữa các thành tố phụ trước và thành tố phụ
sau với danh từ trung tâm tạo ra kết trị của danh từ. Nói theo cách khác, kết trị
của danh từ được thể hiện trong cấu trúc của danh ngữ. Mỗi một loại hình
cấu trúc danh ngữ thể hiện một hình thức kết trị danh từ tương ứng. Do vậy,
việc phân tích kết trị của danh từ được gắn liền với việc mô tả mang tính chất
kết cấu cú pháp của danh ngữ. Trong tiếng Anh, theo “A Comprehensive
Grammar of the English language”, R. Quỉrk & S.Greebaum et al (1985) danh
ngữ được chia làm hai loại chính: danh ngữ cơ sở (basic noun phrase) và danh
ngữ phức (complex noun phrase). Kết cấu của hai loại danh ngữ này chứa
đựng hai loại kết trị: kết trị đóng và kết trị mở của danh từ tiếng Anh. Ứng với
danh ngữ cơ sở (basic noun phrase) là kết trị đóng của danh từ, vì các thành tố
phụ của loại danh ngữ này thuộc lớp từ đóng. Tương tự như vậy, danh ngữ
phức (complex noun phrase) có bao gồm các thành tố phụ thuộc lớp từ mở và
do đó, ứng với nó là kết trị mở của danh từ. Do có sự tương ứng và nét tương
đồng, việc mô tả kết trị của danh từ sẽ được rõ nét hơn trên cơ sở các danh
vai trò nhất định trong quan hệ với danh từ trung tâm về phương diện ngữ
pháp ngữ nghĩa và xác định nên kết trị đóng của danh từ này. Cụ thể có thể sơ
lược liệt kê như sau:
21
Nhóm định tố (determiners) bao gồm 6 tiểu loại:
- Mạo từ (articles): mạo từ không xác định (a/ an) và mạo từ xác định
(the): a boy, the cat….
- Từ sở hữu (possessive) my cat (con mèo của tôi), his name (tên anh
ta)…
- Từ chỉ định (demonstrative): this, that, these, those: this book (cuốn
sách này), that girl (cô gái kia), these houses (những ngôi nhà này),
those cars (những chiếc xe ô tô kia)…….
- Từ nghi vấn (interrogative): who, which, what, how…. : which
colours ( cái mà có màu ), whose book (cuốn sách mà của )…
- Từ phiếm định (Indefinitive): some, any, every, each….: some book
(một quyển sách nào đó), any cars (bất cứ cái xe ô tô nào), every
studetn (mỗi một sinh viên)…
- Từ chỉ lượng (quantifier): much: much water (nhiều nước)…
Nhóm các tiền định tố (predeterminers):
- Từ gộp (inclusives): both, half, all… : all the books (tất cả các cuốn
sách)
- Từ bội số (multipliers): double, twice, three time…: double your
saraly (hai lần lương của anh)…
- Từ phân số (fractions): one- third, two – fifths: one – third of this
book (một phần ba cuốn sách)…
Nhóm hậu định tố (postdeterminers):
(Tất cả mười quyển sách này)
Cấu trúc của danh ngữ có thể thay đổi theo đặc điểm của các thành tố phụ
ở vị trí bổ nghĩa trước chính tố, và theo đó là sự thay đổi kết trị của danh từ
trung tâm. Các khả năng các khả năng biến thể cấu trúc của danh ngữ cơ sở
gồm:
- Chỉ có duy nhất danh từ trung tâm, không có bổ ngữ: Books have been
given. (Sách đã được đem tới)
- Danh từ trung tâm đi với một trong ba thành tố: Ten/ these/ all books…
- Danh từ trung tâm với hai trong ba thành tố: All ten/ these ten/ all these
books
- Danh từ trung tâm với cả ba thành tố: All these ten books…. (Tất cả
mười cuốn sách này) Có hai đặc điểm có tính quy tắc cho kết cấu của kết trị đóng: (1) Khi có hơn một thành tố phụ thì trật tự “Tiền định tố - Định tố - Hậu định tố” là không đổi. Có thể gọi đây là nguyên tắc tuyến
tính (linear): Không có các tổ hợp: These all…; Ten all…hoặc All ten these…
(2) Các từ thuộc cùng nhóm thành tố phụ không sử dụng cùng cho một danh 23
từ trung tâm. Đây là nguyên tắc loại trừ lẫn nhau (reciprocally exclusive), ví
dụ: khi all và both đều là tiền định tố (predeterminers) thì không thể có tổ hợp
All, both…, tương tự như vậy, không có tổ hợp These the… vì chúng đều là
định tố (determminers).
Các khả năng biến thể cấu trúc của danh ngữ cơ sở thể hiện kết trị đóng
của danh từ sẽ được cụ thể hóa chi tiết trong phần tổng hợp kết trị của danh từ
(mục 2.1.3).
Một khía cạnh khác cần phải nhắc tới là việc sử dụng các thành tố phụ
thuộc hệ thống đóng có mối liên quan mang tính chất ngữ pháp ngữ nghĩa khá
phức tạp đối với danh từ trung tâm. Và cũng có thể nói là, xét về mặt kết trị,
các đặc tính ngữ nghĩa ngữ pháp của danh từ trung tâm quyết định cho khả
năng kết trị đóng của chính nó. Các đặc tính đó của danh từ chung trong tiếng
Anh cụ thể là: danh từ số ít (singular noun), danh từ số nhiều (plural noun),
- Đối với nhóm tiền định tố (predeterminer):
Các từ gộp (inclusive) all, half có thể đi với cả danh từ đếm được số
nhiều, số ít và danh từ không đếm được: all/half the students (toàn bộ/nửa số
sinh viên. Khi đi với danh từ số ít hoặc danh từ không đếm được thì đó
thường là các danh từ chỉ khối lượng: all/ half this book (toàn bộ/nửa cuốn
sách này)
Từ gộp both chỉ dùng với danh từ đếm được số nhiều: both my friends
(cả hai cậu bạn tôi)
Các từ bội (multipliers): double, twice, three time…thường được dùng
với danh từ số it chỉ khối hoặc danh từ không đếm dược: double/ twice/ three
time… your saraly (hai/ba… lần lương của bạn)
Từ phân số (fractions): one- third, two – fifths… chủ yếu được dùng
với các danh từ chỉ khối: one – third of this book (một phần ba cuốn sách).
- Nhóm hậu định tố (postdeterminers):