ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________
LÊ THỊ THANH TÂM
CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA HIỆN TƯỢNG
CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT
(trên cứ liệu nhóm từ định hướng và nhóm từ
vị trí, có liên hệ với tiếng Nga)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh- đối chiếu
Mã số:62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______________
LÊ THỊ THANH TÂM
CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA HIỆN TƯỢNG
CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT
(trên cứ liệu nhóm từ định hướng và nhóm từ
vị trí, có liên hệ với tiếng Nga)
ngữ là một địa hạt thuận lợi nhất để nghiên cứu các biểu tượng đạo lí” [dt.66,
tr.24]. Như vậy, giữa ngôn ngữ, tư duy (rộng hơn là: tri nhận) và văn hóa luôn có
mối quan hệ hết sức chặt chẽ và từ lâu đã được giới nghiên cứu khoa học rất quan tâm.
Trong ngôn ngữ, mối quan hệ “bộ ba” này được biểu hiện ở nhiều đơn vị,
nhiều cấp độ khác nhau, trong đó “từ” và “ý nghĩa của từ” là nơi thể hiện rõ nhất;
bởi vì theo lý thuyết phản ánh của Lênin, “từ” được hiểu là “kết quả phản ánh hiện
thực, nhưng là sự phản ánh đặc biệt qua ý thức của con người với tư cách là đại
diện cho một cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ nhất định” [dt.76, tr. 24].
Qua ý nghĩa của từ nói chung cũng như qua hiện tượng chuyển nghĩa của từ
nói riêng, chúng ta có thể thấy rằng: mỗi cộng đồng ngôn ngữ bên cạnh cái “phổ
quát”, cái “chung”, còn có cái “đặc thù”, cái “riêng” trong cách chia cắt và phạm trù
hoá hiện thực khách quan, trong cách tri giác về hiện thực khách quan đó.
Trong số các điạ hạt mà ở đó chúng ta thấy rõ nhất mối quan giữa ngôn ngữ
và tri nhận – đó là không gian. Khái niệm không gian bao hàm trong nó nhiều vấn
đề và khía cạnh khác nhau như: hình dáng, kích thước, chiều kích không gian, quan
hệ không gian, v.v...Theo định hướng này, chúng tôi lựa chọn cho luận án của mình
một trong những vấn đề đó là nghiên cứu mối quan giữa ngôn ngữ và tri nhận ở
hiện tượng chuyển nghĩa của các từ đa nghĩa, đi sâu vào nhóm các từ chỉ hướng
không gian bao gồm hai nhóm: các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương
hướng trong không gian (ra - vào, lên - xuống, qua - lại) và nhóm các từ chỉ sự
định hướng và phương vị trong không gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài).
2
Đó là những nhóm từ mang tính phổ quát, tồn tại tất yếu trong nhiều ngôn ngữ,
trong đó có tiếng Nga – là ngôn ngữ mà chúng tôi đối chiếu.
Luận án đặc biệt chú ý tới cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận về hiện
tượng đa nghĩa và chuyển nghĩa, cũng như tới cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri
nhận về ẩn dụ (một trong hai phương thức của hiện tượng chuyển nghĩa) vốn được
thành nghiên cứu tâm lý”[dt.2, tr. 4].
Thứ ba là khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử do Wellander đứng đầu.
Những người theo khuynh hướng này quan niệm: “sự chuyển hóa ý nghĩa là một
quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong quá trình thực tế trưởng
thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý”[dt.1, tr.50].
Với phương châm này, các nhà nghiên cứu chú trọng đi tìm sự trả lời cho câu hỏi là
ý nghĩa mới của từ nảy sinh như thế nào trong lịch sử. Họ cho rằng kết quả của quá
trình chuyển nghĩa được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ.
Ngoài ba xu hướng này, còn có những tác giả khác đi theo một quan niệm về
hiện tượng chuyển nghĩa có phần mang tính chiết trung hơn giữa ba nguyên tắc trên
và xác định từ giác độ của ngôn ngữ học. Chẳng hạn, như các nhà nghiên cứu từ
vựng – ngữ nghĩa học nổi tiếng ở Việt Nam: Nguyễn Văn Tu (1960, 1968, 1976),
Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), ….
Ngoài ra, còn có một số luận văn, luận án đã đề cập đến hiện tượng chuyển
nghĩa từ vựng nói chung, chẳng hạn, Nguyễn Nhã Bản (1973) viết về “ Tìm hiểu
hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt”[2]. Nguyễn Đức Tồn trong “Tìm hiểu
đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với
các dân tộc khác)”[79] đã nghiên cứu đặc điểm của quá trình chuyển nghĩa của từ
vựng chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (có so sánh giữa tiếng Việt và
tiếng Nga). Tác giả đã thống kê số lượng chuyển nghĩa, các phương thức chuyển
nghĩa và có những kết luận nhất định về hiện tượng này. Tiếp tục hướng nghiên cứu
đó, là những công trình nghiên cứu về từ vựng và trường từ vựng ngữ nghĩa như:
“Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật” của Nguyễn Thúy Khanh
[34], “Tâm lý văn hóa người Việt phản ánh trong sự chuyển nghĩa của từ” của Kỳ
Quảng Mưu [43].
Trong phạm vi nghiên cứu các từ chỉ không gian, Nguyễn Đức Dân (1992)
4
5
c. Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tri
nhận định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng ngôn ngữ, bao quát các bình
diện chức năng, dụng học, tương tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng.
Vào những năm 90, khi mà ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới đang phát
triển mạnh, thì ở Việt Nam đã xuất hiện một số bài viết nghiên cứu về tiếng Việt
theo phương pháp tiếp cận đó của tác giả Lý Toàn Thắng, đầu tiên năm 1994 với
bài “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian” mở ra một cái nhìn mới về một số vấn đề
ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian. Tác giả đã đưa ra một phương hướng nghiên
cứu phạm trù không gian trong tiếng Việt rất mới như: định hướng không gian, các
bản đồ tri nhận không gian,…từ đó, khái quát về mô hình không gian và cách tri
nhận không gian của người Việt Nam. Năm 2001, Lý Toàn Thắng lại cho đăng bài
“Sự hình dung không gian trong ngôn ngữ của loại từ và danh từ chỉ đơn vị”, nêu
lên cách thức mà người Việt dùng các loại từ để mô tả các thuộc tính không gian
của vật thể và từ đó xếp loại chúng. Trên cơ sở đó có thể suy đoán về một cách thức
riêng của tiếng Việt trong việc ý niệm hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan,
một vấn đề đang rất được chú ý dưới ảnh hưởng của trào lưu ngôn ngữ học tri nhận.
Đặc biệt là công trình “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn
tiếng Việt” (2005) của tác giả Lý Toàn Thắng [70] đã có những đóng góp không
nhỏ trong việc nhận diện và trình bày một cái nhìn bao quát về sự tri nhận không
gian nói chung và cách thức tri không gian của người Việt nói riêng, trong so sánh
với các dân tộc khác.
Cùng với Lý Toàn Thắng còn có tác giả Trần Văn Cơ viết về những vấn đề
chung của ngôn ngữ học tri nhận:“Ngôn ngữ học tri nhận: Ghi chép và suy ngẫm”
(2007) [5], đặc biệt là ông đi sâu vào ẩn dụ ý niệm (mà ông gọi là: ẩn dụ tri nhận)
trong cuốn “Khảo luận - Ẩn dụ tri nhận” (2009) [6].
Bên cạnh những cuốn sách có nhiều đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn nói
trên, còn có khá nhiều bài báo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ quan tâm đến những
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa từ
vựng của các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian
(ra - vào, lên - xuống, qua - lại) và của các từ chỉ sự định hướng(orientation) và
phương vị trong không gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài), trên cơ sở mối
7
quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận, và có đối chiếu với tiếng Nga.
Mục tiêu cụ thể của luận án:
1 - Tìm hiểu những quan điểm ngôn ngữ học truyền thống và quan điểm
ngôn ngữ học tri nhận về đa nghĩa, chuyển nghĩa, các quy luật phát triển nghĩa, khả
năng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng không gian.
2 - Khảo sát nghĩa, sự chuyển nghĩa và các kết hợp của các từ chỉ sự chuyển
động có hướng và phương hướng trong không gian (ra - vào, lên - xuống, qua - lại)
và của các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian (trên - dưới, trước sau, trong - ngoài ).
3 - Tìm hiểu cơ sở và những đặc trưng tri nhận trong sự chuyển nghĩa và
cách dùng của nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng
Nga). Tìm ra được những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri
nhận không gian của người Nga và người Việt qua mối quan hệ giữa tư duy, ý thức
và ngôn ngữ.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: những cơ sở tri nhận qua hiện tượng chuyển
nghĩa từ vựng của nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt bao gồm hai nhóm
nhỏ: các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian (ra vào, lên - xuống, qua - lại), nhóm từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không
gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài) có liên hệ, đối chiếu với tiếng Nga.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiến hành trên cơ sở áp dụng các phương pháp phổ biến trong
6.1. Ý nghĩa khoa học
Về lí luận
Kết quả của luận án sẽ góp thêm vào công việc nghiên cứu về hiện tượng
chuyển nghĩa trong ngôn ngữ học hiện thời, cung cấp thêm khía cạnh lý luận mới về
hiện tượng chuyển nghĩa của các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng
trong không gian và của các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian.
Kết quả đạt được của luận án cũng sẽ góp phần thẩm định thêm đối với giả
9
thuyết Sapir – Whorf về mối quan hệ hữu cơ giữa tri nhận, văn hóa, và ngôn ngữ.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng góp phần thẩm định lý thuyết về hiện tượng đa
nghĩa, đồng âm và chuyển nghĩa từ vựng của các nhà ngữ nghĩa học từ vựng.
Ngoài ra, hiện nay do nhu cầu học tập và giao lưu văn hóa với các nước nói
tiếng Nga ở Việt Nam, ngành ngôn ngữ học đối chiếu đang thu hút sự quan tâm
ngày càng nhiều trong giới nghiên cứu. Việc bắt buộc giảng dạy bộ môn ngôn ngữ
học so sánh đối chiếu cho tất cả sinh viên chuyên ngữ ở các trường đại học từ năm
2007 cho thấy vai trò quan trọng của ngành học này trong tình hình mới. Bên cạnh
đó, bộ môn ngôn ngữ học tri nhận cũng đang được đưa vào giảng dạy cho sinh viên
Ngữ văn của các trường đại học. Tuy nhiên, các Giáo trình phục vụ cho việc học
tập, nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận của sinh viên Việt Nam hiện nay còn rất
thiếu, vẫn chủ yếu chỉ là nguồn từ tiếng Anh, tiếng Nga hoặc tài liệu dịch. Như vậy,
về mặt khoa học, luận án hy vọng sẽ làm phong phú thêm kho tàng lí luận ngôn ngữ
học so sánh đối chiếu và cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam.
Về thực tiễn
Việc giải quyết các vấn đề được đặt ra trong luận án đề xuất những ứng dụng
cơ bản cho việc dạy tiếng Nga cho người Việt, dạy tiếng Việt cho người Nga, đặc
biệt là về hiện tượng chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ không gian. Những kết quả
nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng khi biên soạn từ điển Nga – Việt,
tài: Hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt, các phương thức chuyển nghĩa,…
xét trong mối quan hệ bộ ba “ngôn ngữ - tri nhận - văn hóa”, sự chuyển nghĩa nhìn
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, và những cơ sở tri nhận của cách dùng các từ chỉ
không gian như: ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa không gian, nguyên lí: “dĩ nhân
vi trung”, định hướng không gian và bản đồ tri nhận không gian v.v.
Chương 2: Hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt (trên ngữ liệu
nhóm từ chỉ hướng không gian và có liên hệ với tiếng Nga)
Chương này chúng tôi tập trung khảo sát miêu tả sự chuyển nghĩa và cách
dùng của nhóm từ định hướng (ra - vào, lên - xuống, qua - lại, đi - về,… và nhóm
từ vị trí không gian: (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài) trong tiếng Việt, song
song với việc khảo sát ngữ nghĩa đó chúng tôi tiến hành đối chiếu nhằm chỉ ra sự
tương đồng và khác biệt trong khả năng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng
11
không gian tiếng Việt và tiếng Nga, qua đó tìm hiểu sự tri nhận không gian của
người Nga và người Việt.
Chương 3: Những cơ sở tri nhận của phép ẩn dụ trong tiếng Việt (trên
ngữ liệu của nhóm từ chỉ hướng không gian và có liên hệ với tiếng Nga)
Trong chương này chúng tôi sẽ đi sâu vào những cơ sở tri nhận ẩn chứa
trong hiện tượng chuyển nghĩa theo phép ẩn dụ của nhóm từ chỉ hướng không gian
trong tiếng Việt và có liên hệ với nhóm từ tương đương của tiếng Nga. Cụ thể là
những cơ sở tri nhận trong phép ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống
và theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận hiện đại - tức là các ẩn dụ ý niệm. Từ đó
tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận không
gian của người Nga và người Việt.
12
13
bình thường nhiều khi khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩa đầu tiên
của từ.
Hiện tượng mở rộng nghĩa và thu hẹp ý nghĩa có khi xảy ra đối với cùng một
từ và đôi khi lại là kết quả của một quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa. Quá
trình chuyển nghĩa thứ hai diễn ra theo qui luật ẩn dụ và hoán dụ. Sự hình thành các
từ mới dựa trên những từ vốn có được thể hiện bằng các phương thức chuyển nghĩa này.
1.1.1. Nguyên nhân chuyển nghĩa
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián
tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như: sự phát triển không ngừng của thực tế
khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tựơng kiêng cữ, sự phát triển và
biến đổi của hệ thống ngôn ngữ,...
Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng hơn cả là nhu cầu giao tiếp của con
người. Những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu từ buộc ngôn ngữ
phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những sự vật, hiện tượng cùng những
nhận thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả
năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa. Thay đổi ý
nghĩa của từ có sẵn, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết
kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp
ứng được kịp thời nhu cầu của giao tiếp.
Nguyên nhân tiếp theo là sự biến đổi không ngừng của đời sống xã hội. Qua
quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên và xã hội, con người đã làm cho xã hội
ngày càng văn minh, đời sống ngày càng trở nên phong phú, tế nhị. Những cái mới
nảy sinh trong thiên nhiên, xã hội và con người đòi hỏi phải được biểu hiện. Trong
khi đó người ta không thể tăng vốn từ của mình lên mãi. Điều này tất yếu sẽ dẫn tới
phải phát triển thêm các nghĩa mới của từ thể hiện phương thức diễn đạt.
Đồng thời với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người cũng ngày
một nâng cao. Vẫn những sự vật, hiện tượng hay quan hệ ấy nhưng càng ngày
niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau.
Ví dụ: từ mũi là từ chỉ bộ phận cơ thể, được chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa
lý, chỉ bộ phận của các đối tượng này. Những từ khác cũng chỉ bộ phận cơ thể như:
cổ, chân, sườn, mặt, lòng…đều có khả năng chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa
15
lý… chỉ bộ phận của chúng. Ta có: mũi dao, mũi đất, thì cũng có cổ áo, cổ chai;
chân giường, chân tủ; sườn núi, sườn đồi; mặt bàn, mặt biển; lòng sông, lòng hồ v.v…
Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với nghĩa
trước. Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành
đồng nghĩa với cái từ trái nghĩa trước kia của nó.
Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể làm cho ý
nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại. Tác giả Đỗ Hữu Châu nhận định: “từ (đơn
hoặc phức) lúc mới xuất hiện đều có một nghĩa biểu vật. Sau một thời gian được sử
dụng, nó có thể có thêm nhiều nghĩa biểu vật mới. Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện
ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi” [7, tr.146].
Chẳng hạn mối quan hệ giữa các ý nghĩa biểu vật của từ đi. Phân tích cách nói đi
học? đi làm? ta thấy đi học, đi làm có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là chỉ những hành
động cụ thể dời chỗ hằng ngày để đến chỗ học hoặc làm việc, thứ hai là nghĩa miêu
tả sự bắt đầu tham gia một hoạt động có tính chất nghề nghiệp trong xã hội. Với nét
nghĩa “dời chỗ không cách thức, theo hướng xa rời vị trí gốc”. Ở nghĩa này, nét
nghĩa thứ nhất vẫn là nét nghĩa chi phối. Trong các phát ngôn: “Tuổi lên bảy là tuổi
đi học”, “Sau ba tháng nghỉ cô ấy mới đi làm hôm qua” là đều hàm ý rời bỏ tình
trạng gốc “tuổi ấu thơ vô tư lự”, hay “tình trạng nghỉ ngơi”, hoặc “tình trạng chưa
có việc làm”…Hay trong các cách diễn đạt chúng ta vẫn thường dùng hàng ngày
như: “gầy đi”, “xấu đi”, “đen đi” (chứ không nói “béo đi”,“đẹp đi”), chúng ta nói
như vậy là vì trong cách nói đó vẫn hàm ý “rời bỏ trạng thái gốc” vốn là trạng thái
được xem là tích cực (béo hoặc khỏe mạnh, đẹp hoặc trắng trẻo…). Cái nghĩa hàm
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối liên tưởng tương đồng. Có
thể diễn giải định nghĩa này như sau: Giả sử ta có từ T là tên gọi của đối tượng Đ1
(và lẽ đương nhiên T có nghĩa S1). Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 nào đó, mà
người ta thấy giữa Đ1 và Đ2 có những nét, những mặt nào đó giống nhau, người ta
có thể dùng T để gọi tên cho cả Đ2. Lúc này, một nghĩa S2 tương ứng được xác lập
trong T. Chúng ta nói rằng ở đây đã diễn ra một phép ẩn dụ. Hoặc có thể nêu khái
niệm ẩn dụ từ vựng như sau: Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những nghĩa
biểu vật. A vốn là tên gọi của x (x là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phương thức ẩn
dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (biểu thị y) thông qua sự giống
nhau giữa x và y.
17
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” [21] đã phân
chia ẩn dụ từ vựng trên tính chất của sự giống nhau. Kết quả là có những loại ẩn dụ
dựa trên những sự tương đồng về:
- Hình thức: (lá- lá phổi);
- Màu sắc: (lá cây- màu xanh lá cây);
- Chức năng (huyết mạch- con đường huyết mạch);
- Thuộc tính, tính chất (khô – tình cảm khô khan, tình cảm ướt át);
- Đặc điểm, vẻ ngoài nào đó (Hoạn Thư – máu Hoạn Thư);
- Ẩn dụ cụ thể trừu tượng (nắm tay – nắm công thức);
- Chuyển tên các con vật thành cách gọi con người (cún con, chó con – cún
con của mẹ);
- Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (con tàu
chạy, thời gian đi).
Dựa trên nhiều tiêu chí, Đỗ Hữu Châu [9] phân chia thành các kiểu ẩn dụ từ
vựng khác nhau:
Thứ nhất, tùy theo x và y là các sự vật cụ thể (có thể cảm nhận bằng giác
nghĩa biểu vật, tuy có cấu trúc biểu niệm giống nhau nhưng có chứa một vài nét
nghĩa nào đó khác nhau, tức trở thành những đồng nghĩa khác nhau về sắc thái
biểu hiện.” [7, tr.168].
1.1.4. Đa nghĩa
Chuyển nghĩa là hiện tượng gắn liền với hiện tượng đa nghĩa (полисемия)
được xem là một trong những quy luật có tính phổ quát của các ngôn ngữ.
Đa nghĩa thường chỉ hiểu hẹp là nhiều nghĩa từ vựng của từ. Đỗ Hữu Châu
[7] phân biệt rõ hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật và hiện tượng nhiều nghĩa biểu
niệm, hiện tượng nhiều nghĩa ngôn ngữ (các nghĩa cố định) và hiện tượng nhiều
nghĩa lời nói (nghĩa chưa cố định). Ngoài ra, để nói về hệ thống các nghĩa khác
nhau của một từ ông nhận xét “các nghĩa biểu vật trong một từ nhiều nghĩa chia
thành từng nhóm, mỗi nhóm thường xoay quanh một cấu trúc biểu niệm nào đó” [7,
tr.140]. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [21] lại cho rằng hiện tượng đa nghĩa từ vựng
của tiếng Việt chỉ có hai kiểu sau đây:
19
1. Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động tự do;
2. Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động hạn chế.
Ở Việt Nam trong những nghiên cứu ngữ nghĩa học - từ vựng tiền tri nhận, các
nhà nghiên cứu đều cho ra rằng: hiện tượng “đa nghĩa” (hay: “nhiều nghĩa”) là kết
quả của sự “chuyển biến” ý nghĩa của từ. Trong đa nghĩa có sự phân biệt giữa
“nghĩa chính” (nghĩa cơ bản/ cơ sở), “nghĩa gốc”, “nghĩa đen” - từ đó mà “móc
xích” ra hay “tỏa” ra các nghĩa mới, xuất hiện sau, tức các “nghĩa phụ”, “nghĩa
chuyển”, “nghĩa bóng”.
Ở nước ngoài nhà ngữ nghĩa học nổi tiếng S. Ullman từ lâu đã nhận định:
“Đa nghĩa là một phổ quát ngữ nghĩa, có cội nguồn sâu xa trong cấu trúc cơ bản
của ngôn ngữ. Nếu không như thế thì khó mà hình dung ra được là chúng ta sẽ phải
lưu giữ trong óc chúng ta một khối lượng vốn từ kinh khủng gắn với các tên gọi cho
khác nhau.
+ Đa nghĩa (полисемия) thường chỉ hiểu hẹp là nhiều nghĩa từ vựng của từ.
Về nguyên tắc, bất kỳ từ nào cũng là (hay có thể dùng làm) cầu nhảy (трамплин),
làm điểm gốc (точка отсчета) để mở rộng ngữ nghĩa, bởi vì ở bất kỳ từ nào cũng
có thể xuất hiện nghĩa phái sinh. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đa nghĩa, thú
vị nhất là một phạm vi không lớn các đối tượng và tình huống “đời thường”, “căn
bản”, nền tảng đối với các hành động của con người vốn bị qui định bởi những nhu
cầu tự nhiên và xã hội (trong phạm vi nền văn hóa đó). Đây là một tập hợp có tính
điển dạng của các dạng (вид) hành động cơ bản. Các hành động cơ bản này (cũng như
các trạng thái, sự kiện, quan hệ căn bản) thường được mô tả bằng các “từ căn” (корня)
tương ứng với:
+ Các kiểu tư thế căn bản trong không gian (đứng, ngồi, nằm), các kiểu vận
động căn bản (đi, chạy); các phương thức căn bản di chuyển đối tượng (lấy,
để, đặt, mang, ném, kéo);
+ Các phương thức căn bản tái tạo đối tượng và tác động vào đối tượng (cắt,
xé, bẻ, đập) và các tình huống căn bản khác của đời sống: sinh học (ăn, uống,
ngủ), sở hữu (cho, lấy, có), tri giác (thấy, nghe), nói năng v.v.
Để hiểu rộng hơn và sâu hơn về đa nghĩa, chúng ta cần chú ý đến những ý
kiến phủ định. Về mặt này rất đáng chú ý là những nghiên cứu gần đây của tác giả
21
người Nga Г. И. Куcтова. Đa nghĩa, theo Куcтова, được xem như là một hiện
tượng khiên cưỡng [132, tr.14-15]. Theo bà, có hai lí do như sau:
Thứ nhất là vì người ta dường như không đặc biệt quan tâm đến việc gia tăng
số lượng ý nghĩa của từ.
Thứ hai, đa nghĩa là hậu quả của sự sử dụng “thứ cấp”, nhiều lần cùng một
từ, kết quả là tín hiệu gốc được áp dụng cho hiện tượng mới mà hiện tượng này từ
đầu vốn không được nhắm tới.
niệm này là А.А. Потебня [136] cho rằng đa nghĩa là chuyện lịch đại, là sự kiện
lịch sử ngôn ngữ: hình thái bên trong (thuộc tính của ý nghĩa gốc trong ý nghĩa mới)
dần dần bị “tắt đi” và cùng với cái đó cũng tắt đi mối liên hệ giữa các ý nghĩa của từ
và ý nghĩa phái sinh tách ra khỏi ý nghĩa gốc và xảy ra sự tan rã của từ thành các từ
đồng âm.
Mặc dù các nhà biên soạn từ điển không khi nào phủ nhận đa nghĩa, nhưng
trong các từ điển có thể phát hiện ra vô số các minh họa cho thấy rằng các ý nghĩa
của từ đa nghĩa không liên quan với nhau. Vậy thì tiêu chuẩn chủ yếu của đa nghĩa
là gì? Người ta thường công nhận rằng: đa nghĩa có chỗ đứng đến khi nào mối liên
hệ ngữ nghĩa giữa các ý nghĩa còn theo dõi được, nếu liên hệ này mất đi thì biến
thành từ đồng âm, là hai từ khác nhau. Nhưng liên hệ này phải được biểu hiện trong
cái gì?
Trước hết, chắc chắn là có một điều rằng: giữa các ý nghĩa phải có các thành
tố nghĩa chung, có một bộ phận chung, như nhận xét của nhiều tác giả:
Аничков(1997) [120, tr.349]; Апресян (1995) [124, tr.86]; Васильев (1990) [129,
tr.142-151], Weinreich (Вейнрейх) (1981); Кузнецова (1989), Kurilovich
(Курилович) (1955), Новиков (1982); Новиков и др (1987) v.v.
Tuy nhiên, theo Куcтова, cái tiêu chí “thành tố nghĩa” chung này không phải
bao giờ cũng là “cần” và “đủ”. Nói về điều này, Потебня [136] đã viết: “Trong thực
tế đòi hỏi này quá yếu, và đơn giản là sự có mặt của những thành tố nghĩa chung là
hoàn toàn không đủ: vì có các thành tố chung thì cả đồng nghĩa lẫn đồng âm, và cả
các từ của một lớp ngữ nghĩa (thậm chí các lớp ngữ nghĩa khác nhau nữa!” [136,
tr.126].
Theo Куcтова, chúng ta không thể nói gì về đồng nghĩa nếu chúng không có
những thành tố chung, bởi vì các từ đồng nghĩa nhất thiết phải có thành tố nghĩa