1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề
Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều
cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam. Việc thu hút nguồn vốn FDI của Việt
Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể , mà theo các chuyên gia nhận định đây là những
trứng vàng của nền kinh tế.
Từ 2006 đến thàng 8 năm 2008, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam không
ngừng tăng lên và liên tiếp lập những mốc kỷ lục mới về tổng mức vốn đầu tư . Năm
2009, trong giai đoạn kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề, nguồn
vốn FDI vẫn duy trì ở mức cao tuy thấp hơn so với đỉnh vào năm 2008, và dự báo
trong năm 2010 sẽ tiếp tục tăng trở lại.Nguồn vốn FDI đổ vào nước ta không chỉ là
tăng về số lượng các dự án mà tăng về cả qui mô và chất lượng của các dự án. Cũng
như ngày càng có nhiều quốc gia, các tập đoàn lớn trên thế giới tìm hiểu cơ hội đầu tư
vào thị trường Việt Nam. Việc tiếp nhận vốn FDI sõ tạo ra cơ hội tiếp cận với trình độ
khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý kinh tế tầm cao của thế giới và giải quyết
công ăn việc làm cho lao động trong nước. FDI trở thành một trong những nguồn
cung cấp vốn quan trọng cho nên kinh tế, là động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát
triển, tạo nên tính năng động và cạnh tranh cho thị trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của vốn FDI, thì nguồn vốn này
vẫn tiềm ẩn những rui ro nếu chúng ta không có các biện pháp quản lý hợp lý và đồng
bộ. Đặt biệt trong những năm gần đây tình hình các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ kéo
dài nhiều năm làm cho chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế ảnh hưởng trực tiếp đến
ngân sách, bên cạnh đó tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp
trong nước, tác động không tốt đến cơ chế quản lý tài chính của chính phủ trong lĩnh
vực FDI, và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này cũng như tác động xấu
đến mục tiêu thu hút và quản lý vĩ mô vốn FDI của chính phủ. Vấn đề dược đặt ra là
đã có hình vi “chuyển giá “tại các doanh nghiệp FDI hiện nay. Đứng trước tình hình
này Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 66/2010/TT-BTC vào ngày 22 tháng 4 năm
Đóng góp một số giải pháp chống chuyển giá cho các cơ quan quản lý của
nhà nước quản lý tốt hơn đối với các doanh nghiệp FDI, góp phần làm tăng nguồn thu
3
ngân sách Nhà nước từ việc thu thuế TNDN đối với các công ty này.Mặt khác, giúp
các doanh nghiệp Việt Nam, đặt biệt các doanh nghiệp có tham gia trong liên doanh
có cái nhìn rõ hơn về chuyển giá quốc tế cũng như những biện pháp tự bảo vệ mình
trong khi hợp tác với các đối tác nước ngoài.
5
Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện
sản xuất:
Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc
tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).
Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào
đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác
(ví dụ: Adidas).
Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau
mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft).
Một số khác cho rằng đặc điểm cơ bản của các công ty đa quốc gia là bộ phận
không trực tiếp làm việc với khách hàng, tiếng Anh: back-office, (ví dụ cung cấp
nguyên liệu, tài chính và nguồn nhân lực) ở mỗi quốc gia mà nó hoạt động. Các công
ty đa quốc gia đã tạo ra một phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty. Xí nghiệp liên
hợp toàn cầu mà một số người cho rằng sẽ là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình phát
triển của công ty đa quốc gia thì không có đặc điểm này.
1.1.3 Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia
Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh
những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng
được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ.
Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của
nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.
Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những
bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất.
Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một
ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất.
Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC.
6
các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ sẽ được bảo mật và chỉ có các nhà quản trị cấp cao
trong MNC mới tiếp cận được. Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này sẽ ảnh hưởng
rất lớn đến chiến lược phát triển của các MNC. Trong thực tế các nghiệp vụ chuyển
giao nội bộ được thực hiện theo chỉ thị của các nhà quản trị cấp cao với giá trị rất lớn
nhưng giá trị này đã không được ghi nhận hoặc chỉ thể hiện một số rất nhỏ. Các
chứng từ, chứng cứ kèm theo không thể hiện chính xác giá trị và bản chất của nghiệp
vụ vì vậy đã gây khó khăn cho các cơ quan thuế trong việc đưa ra bằng chứng chứng
minh các MNC đã thực hiện hành vi chuyển giá.
Dựa vào tính chất và đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến
trên thị trường, ta phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ thành các nhóm như sau :
_ Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính đặc thù cao,
hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế riêng
làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp.
_Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty con
tại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia
(Sourcing country) và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân
công cho sản xuất.
_Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị
cho sản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang
phát triển.
_Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản
quyền, thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển
sản phẩm.
8
_Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các
chuyên gia vào làm việc tại các nước nhận chuyển giao.
_Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực.
_Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữa
công ty mẹ và các công ty con.
phải nộp một đồng thuế GTGT nào (vì là hàng xuất khẩu), đồng thời được khấu trừ
thuế đầu vào. Còn công ty con, phải nộp thuế với hàng nhập khẩu nhưng bù lại, được
khấu trừ khi bán sản phẩm. Thế là đương nhiên cả "mẹ" và "con" đều không mất một
đồng thuế nào trong khi được hưởng trọn khoản tiền do nâng giá mà có.
Với thuế nhập khẩu:
Hàng nằm trong diện miễn giảm: số tiền được miễn giảm = số thấp thu của
Nhà nước.
Nhưng ngay cả khi không nằm trong diện miễn giảm: số tiền nộp thuế cũng đã
được đưa vào chi phí và làm giảm thu nhập chịu thuế = một lượng tương
đương.
Thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách.
Giả sử:
Với trị giá hàng hóa được nâng lên là 100.000 USD và thuế suất thuế nhập
khẩu là 30%
Thuế nhập khẩu phải nộp là 30.000 USD (nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm
30.000 USD).
Thuế thu nhập doanh nghiệp bị mất là: 30.000 x 25% = 7.500 USD
Thuế suất ở trong nước = nước ngoài:
10
Công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp thuế
là 25.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty con giảm
thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 25.000 USD.
Đây chính là khoản mà Nhà nước ta bị thất thu.
Thuế suất nước ngoài < Việt Nam:
Thuế thu nhập DN ở Đài Loan là 20%
Thuế thu nhập DN ở Việt Nam là 28% (trước đây)
Chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hoá và dịch vụ cho chi
nhánh ở Việt Nam.
Nếu khoản nâng giá là 100.000 USD lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000
ngay từ lúc đầu tư ban đầu.
Ví dụ : Một khách sạn liên doanh giữa Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn và Vina
Group đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4.340.000 USD. Nhưng
theo sự thẩm định giá của công ty giám định giá Quốc Tế thì giá trị tài sản góp vốn
của Vina Group chỉ có giá trị là 2.990.000 USD. Như vậy trong nghiệp vụ định giá
giá trị góp vốn liên doanh này phía Việt Nam đã bị thiệt 1.350.000 USD tương đương
45.2%.
Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn trên mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là
phía liên doanh góp vốn Việt Nam, chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt
Nam. Bên liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn
nhỏ lại; Chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu
dùng sản phẩm với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm.
Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy
bên đối tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp.
12
Đối tác nước ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua
lỗ kéo dài và bên liên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt
động đành phải bán lại phần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành
công ty 100% vốn nước ngoài.
2.1.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ
Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí
tiền bản quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản
cố định vô hình. Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công
nghệ đó là tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Công ty Liên doanh Nhà
máy Bia Việt Nam là một liên doanh hoạt động theo Luật Đầu tư Nước ngoài được
Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cấp phép số
MNC sẽ giành được toàn bộ phần lợi nhuận thu dược tử hoạt động kinh doanh ở quốc
gia đó mà vẫn không tốn nhiều chi phí và thời gian cho việc tiềm hiểu thị trường và
quản bá hình ảnh.
Năm 2009, có hơn 6.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
vốn thực hiện là 33 tỉ USD, DN nước ngoài chiếm 13,8% tổng sản phẩm xã hội đóng
góp vào xuất khẩu: trừ dầu thô là 33%, cộng cả dầu thô lên đến 53%. Riêng xuất khẩu
các sản phẩm chế tác chất lượng cao DN đầu tư nước ngoài chiếm tới trên 80%. Có
thể thấy doanh nghiệp nước ngoài ngày càng thâm nhập sâu rộng tại thị trường Việt
Nam, chứng tỏ các doanh nghiệp FDI rất thành công trong việc tiếp cận thị trường
Việt Nam cũng như phát triển qui mô sản xuất.
2.1.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất
Khi thuế suất thuế TNDN ở hai quốc có mức chênh lệch đáng kể các MNC sẽ
dùng hình thức chuyển giá đề làm giảm đáng kể số thuế mà mình phải nộp.Các MNC
sẽ chuyển lợi nhuận của mình ở quốc gia có mức thuế suất thấp, đồng thời dùng các
biện pháp để làm tăng chi phí từ đó làm cho hoạt động kinh doanh luôn ở mức lỗ ở
những quốc gia có mức thuế suất cao.
Ví du của công ty Foster: Vào thời điểm mà giá bán một két bia Foster’s được
công ty bia Foster’s Việt Nam bán cho các đại lý là 240.000 đồng/két với thuế suất
14
thuế tiêu thụ đặc biệt cho bia chai là 75% thì mỗi két bia phải đóng thuế tiêu thu đặc
biệt là:
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt/(1+thuế suất)
=240.000/(1+75%) = 137.143 VND
Thuế tiêu thụ đặc biệt tính =137.143 x 75% = 102.857 VND
Như vậy với giá bán một két bia là 240.000 VND thì công ty bia Foster’s Việt
Nam phải có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho nhà nước là 102.857 VND. Với
một số thuế nộp lớn như vậy thì chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam đã tìm cách để lách
đối với hành vi trên vì vậy mà cơ quan nhà nước không thể bắt bẻ về thủ thuật tách
rời khâu sản xuất và khâu thương mại của công ty bia Foster nhằm mục đích lách thuế
và giảm số thuế phải nộp.
2.2. Tình trạng chuyển giá ở Tp HCM trong những năm gần đây:
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành
phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng
sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Thành phố
cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án
FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong năm 2007, thành phố thu
hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD.
Trong năm qua tổng thu ngân sách trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã
đạt hơn 128.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1/3 tổng thu ngân sách của cả nước. Nguồn
vốn FDI khổng lồ đổ vào TP trong các năm qua là động lực mạnh mẽ thúc đầy kinh tế
Tp phát triển,tuy nhiên nó vẫn tiềm ần nhiều thách thức trong đó nổi trội lên là tình
trạng chuyển giá đang khá phổ biến ở các doanh nghiệp FDI.
Báo cáo của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về kết quả kinh doanh năm 2009 của
doanh nghiệp FDI trên địa bàn cho thấy, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ.
Không nhiều người ngạc nhiên về điều này. Bởi ngay trong năm 2007- được coi là
đỉnh cao của kinh tế Việt Nam- vẫn có gần 70% doanh nghiệp FDI kêu lỗ. Năm sau
đó, 2008, tỷ lệ này cũng chiếm tới hơn 61%, báo cáo quyết toán năm 2008 của 1.154
doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn, thì đã có tới 708 đơn vị khai lỗ, chiếm tỷ lệ
tới 61,35%. Và năm 2009 gần 60% số doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP HCM báo
16
cáo thua lỗ.. Điều này lý giải vì sao tỷ lệ đóng góp cho ngân sách quốc gia của khối
FDI (không kể dầu thô) khá thấp, dao động 9-10% tổng thu ngân sách của quốc gia
trong giai đoạn 2005- 2008. Riêng năm 2009, phần đóng góp của doanh nghiệp FDI
giảm 11,2% so với kế hoạch.
Những doanh nghiệp FDI kê khai lỗ cũng thường đến từ các quốc gia mà ở đó
mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thấp hơn nhiều lần so với mức phải đóng ở
Số doanh nghiệp kê
khai lỗ
Tỉ lệ (%)
1996 451 310 68,7
1997 510 358 70,2
1998 500 341 68,2
1999 395 281 71,1
2000 352 235 66,8
2001 704 545 77,4
Từ bảng số liệu trên cho ta thấy được tình các doanh nghiệp FDI báo cáo lỗ
luôn chiếm một tỉ lệ rất cao trong số các doanh nghiệp được khảo sát, trung bình
71,1%. Cục thuế TPHCM cho rằng, có rất nhiều thủ thuật khiến cho DN rơi vào tình
trạng lỗ giả, lãi thật như nâng chi phí vật tư, nâng định mức vật tư cao hơn giá trị thực
tế là những thủ thuật phổ biến nhất.
Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, các DN phải đương đầu với khó
khăn về tài chính là điều dễ hiểu, nhưng việc các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại
VN liên tục báo lỗ trong nhiều năm qua lại là điều không bình thường.Một nghịch lý
là phần lớn các doanh nghiệp trong khi báo cáo làm ăn thua lỗ tới cả chục năm qua,
cũng là quãng thời gian họ liên tục phát triển cả về doanh thu lẫn quy mô hoạt động.
Thực trạng trên đã minh chứng rõ hơn về tình trạng lỗ giả, lời thật của các
doanh nghiệp FDI trong thời gian qua, các doanh nghiệp này dần loại các doanh
nghiệp trong nước và nhanh chống chiếm lĩnh thị phần trong các lĩnh vực khác nhau.
18
2.3. Một số ví dụ tiêu biểu về hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong những
năm gần đây:
Mục tiêu của các MNC ( công ty đa quốc gia) là tối ưu hóa chi phí, tăng doanh
thu từ đó thực hiện mục tiêu mở rộng thị trường và tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ
đông. Một cách tốt để các MNC có thể giảm thiểu chi phí kinh doanh là làm giảm số
liệu làm tăng hoặc giảm ít nhất 0.5% tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời. Định
nghĩa này có phần cụ thể và siết chặt hơn so với định nghĩa về "khác biệt trọng yếu"
đã được quy định trong Thông tư 117.
2.3.1 Chuyển giá ở công ty liên doanh VNTRA
Năm 1994, Công ty cổ phần Thiết bị điện Hà Nội thành lập cong ty VNTRA là
liên doanh với Công ty ABB Asia Pacific (Bộ phận ở Châu Á Thái Bình Dương - tập
đoàn lớn nhất thế giới trong lĩnh vực thiết bị điện) thành lập Công ty liên doanh Chế
tạo biến thế - ABB )có vốn đầu tư 24,7 triệu USD và vốn pháp định 10,97 triệu USD,
trong đó phía Việt Nam góp 35% (3,84 triệu USD). Do sản phẩm có giá cao, không
đạt sản lượng kế hoạch, chất lượng chưa ổn định và cách tiếp cận thị trường thiếu
năng động, nên sau 7 năm hoạt động, công ty bị thua lỗ liên tục, phía đối tác Việt
Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt đông, trong khi công ty không có
dấu hiệu có thể đạt dược lợi nhuận trở lại. Kết quả là, phía Việt Nam phải rút vốn
khỏi liên doanh và công ty trở thành công ty 100% vốn nước ngoài.
Đến tháng 5 năm 2002,Nhà máy chế tạo biến thế mới rút hết và hoàn tất xong các
thủ tục chuyển nhượng toàn bộ phần vốn của mình cho phía đối tác liên doanh là
công ty TNHH ABB. Công ty TNHH ABB trở thành công ty có 100% vốn nước
ngoài. Sau khi đối tác phía Việt Nam rút vốn khỏi liên doanh, với tiềm lực tài chính
và kinh nghiệm sẵn có được tích lũy, công ty này đã liên tục đi lên và không ngừng
phát triển với tốc độ phát triển bình quân là 22%/năm.Đến tháng 3/2005, thực hiện
chủ trương của Nhà nước, Nhà máy chế tạo biến thế đã thực hiện cổ phần hóa và lấy
tên là Công ty cổ phần Chế tạo biến thế Hà Nội.
20
Trong khi đó,ABB là tập đoàn hàng đầu về điện và tự động hóa.Tập đoàn ABB
hoạt động trên khắp thế giới với hệ thống các công ty con tại trên 100 quốc gia với số
nhân viên lên tới 117 nghìn người. Năm 1993, ABB có mặt tại Việt Nam và cho đến
nay, doanh nghiệp này đã có hơn 600 nhân viên làm việc tại Hà Nội, Bắc Ninh, Đà
Nẵng, Vũng Tàu và Tp.HCM.ABB Viet Nam sản xuất các sản phẩm điện trung thế,
như trạm phân phối hợp bộ, tủ đóng cắt hợp bộ trung thế với công nghệ mới nhất của
Với mục đích chiếm lĩnh thị trường, trong hai năm 1995 và 1996, P&G đã chi cho
quảng cáo một số tiền rất lớn lên đến 65,8 tỷ đồng. Đây là một con số quá lớn đối với
quảng cáo tại Việt Nam vào thời điểm đó. Trong thời điểm này hầu như các kênh
truyền hình. đài phát thanh và báo chí đều có sự xuất hiện quảng cáo của các sản
phẩm của công ty P&G như Safeguard, Lux, Pantene, Header & Shouder, Rejoice…
Vào thời điểm này, mọi người đều nghe các khẩu hiệu quảng cáo như “Rejoice tạo
mái tóc mượt và không có gàu”, “Pantene giúp tóc bạn khỏe hơn”, “Header &
Shoulder khám phá bí quyết trị gàu”, “bột giặt Tide thách thức mọi vết bẩn”… Tổng
các chi phí quảng cáo này chiếm đến 35% doanh thu thuần của công ty và đã vượt xa
mức cho phép của luật thuế là không quá 5% trên tổng chi phí và nó cũng đã gấp 7
lần so với chi phí trong luận chứng kinh tế ban đầu. Ngoài các khoản quảng cáo này
thì các khoản chi phí khác cũng vượt xa so với luận chứng kinh tế ban đầu. Quỹ
lương năm đầu tiên xây dựng trong luận chứng kinh tế là 1 triệu USD nhưng thực tế
đã chi đến 3,4 triệu USD, tức là gấp 3,4 lần.
Nguyên nhân chủ yếu là do P&G đã sử dụng đến 16 chuyên gia là người nước
ngoài trong khi trong luận chứng kinh tế chỉ đưa ra từ 5 đến 6 người. Ngoài hai chi
phí trên thì các chi phí khác cũng phát sinh lớn hơn nhiều so với luận chứng kinh tế
ban đầu như chi phí cho chuyên gia xây dựng cơ bản ban đầu là 7 tỷ đồng, chi phí tư
vấn pháp lý hết 7,6 tỷ và chi phí thanh lý hết 20 tỷ… Ngoài ra một nguyên nhân khác
dẫn đến việc thua lỗ nặng nề trong năm đầu tiên là do doanh số thực tế năm chỉ đạt
54% kế hoạch và phải gánh chịu chi phí tăng cao, dẫn đến kết quả là năm đầu tiên
hoạt động thua lỗ 123,7 tỷ đồng. Tình hình này lại tiếp tục lặp lại vào năm thứ hai và
kết quả là năm thứ hai lại tiếp tục thua lỗ thêm 187,5 tỷ đồng với con số thua lỗ lũy kế
hai năm đến 311,2 tỷ đồng; chiếm ¾ tổng số vốn của liên doanh, và đến tháng 7 năm
1997 thì tổng giám đốc của P&G đã đầu tư quá giấy phép là 6 triệu USD, công ty
phải vay tiền mặt để trả tiền lương cho nhân viên. Đứng trước tình thế thua lỗ nặng nề
22
và để tiếp tục kinh doanh thì bên phía đối tác nước ngoài đề nghị tăng vốn thêm 60
triệu USD. Như vậy phía Việt Nam cần phải tăng theo tỷ lệ vốn góp 30% (18 triệu
phẩm và xây dựng thương hiệu thông qua quảng cáo và marketing sản phẩm, thực
hiện các chiến lược khuyến mãi, tài trợ để xây dựng thương hiệu và đánh bóng tên
tuổi tại thị trường Việt Nam. Mặc dù mới xâm nhập vào thị trường Việt Nam với một
thời gian không lâu nhưng sản phẩm mang nhãn hiệu Coca Cola đã tràn ngập thị
trường và đã dần dần chiếm lấy thị phần của các công ty nội địa.
Cuộc đối đầu giữa hai nhãn hiệu nước giải khát lớn là Coca Cola và Pepsi đã
dần dần loại bỏ các nhà sản xuất nước giải khát nội địa như Hòa Bình, Cavinco,
Chương Dương… Các công ty nội địa một số phải đóng cửa hoặc phải bỏ thị trường
chính như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và các thành thị để chuyển đến các thị
trường nông thôn. Một số ít các công ty phải chuyển đổi sang kinh doanh sản phẩm
khác như công ty Tribico. Tribico nhờ chuyển hướng kinh doanh sang sản phẩm sữa
đậu nành và đây là một sản phẩm mà hai đại gia trong ngành nước giải khát chưa sản
xuất nên mới có thể tiếp tục tồn tại. Trong chiến lược xâm chiếm thị phần của mình
thì công ty Coca Cola Chương Dương đã thực hiện chính sách bán phá giá. Giá bán
của sản phẩm giảm một cách rõ rệt qua từng năm. Có những thời điểm giá bán phá
giá từ 25% đến 30% doanh thu. Chính điều này góp phần vào làm cho công ty Coca
Cola Chương Dương lỗ nặng nề hơn. Thông qua việc bán phá giá này thì công ty
Coca Cola Chương Dương đã thao túng thị trường nội địa Việt Nam. Giá bán của một
thùng sản phẩm giảm nhưng doanh số của Coca Cola vẫn tăng. Điều này chứng tỏ
lượng hàng tiêu thụ tăng từ thị phần được mở rộng của Coca Cola. Khi tiến hành so
sánh giá của một lon coca được bán tại thị trường Việt Nam và thị trường Mỹ thì
chúng ta sẽ thấy sự chênh lệch giá một cách rõ rệt. Giá một lon coca tại thị trường Mỹ
tại thời điểm lúc bấy giờ được bán với giá là 75 cents với tỷ giá lúc bấy giờ 1 USD =
14.000 VND, tức là 1 lon coca được bán với giá 10.500 đồng. Một lon coca cùng thời
điểm trên được bán tại thị trường Việt Nam với giá từ 5.000 đồng đến 7.000 đồng
(tương đương từ 40 đến 50 cents). Như vậy giá một lon coca được bán tại Việt Nam
thấp hơn so với thị trường Mỹ là 25 cent (khoảng 50%). Thông qua phân tích giá bán
sản phẩm thì liệu chúng ta có thể xác định chính sách bán phá giá này có được sự điều
phối từ công ty mẹ ở chính quốc. Trong thời điểm diễn ra cúp bóng đá thế giới vào
năm 1998, để đánh bóng thêm cho tên tuổi và thương hiệu Coca Cola tại thị trường
nguyên vật liệu chiếm 66,82%. Nếu đem tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu so với doanh
thu và chi phí tại công ty Coca Cola so sánh với các công ty trong cùng ngành sản
xuất nước giải khát thì tỷ lệ này quá cao và không phù hợp với đặc điểm và tỷ suất lợi
nhuận của ngành này. Trong thời điểm mà Nhà nước chưa quản lý được giá mua
nguyên vật liệu giữa công ty Coca Cola Chương Dương và công ty Coca Cola mẹ ở
25
chính quốc thì có thể xảy ra tình trạng kê khai nâng giá mua vào trên hóa đơn so với
giá thực tế (đây là hiện tượng chuyển giá). Mục đích của việc làm này là gây lỗ cho
công ty tại Việt Nam nhưng công ty mẹ tại chính quốc sẽ thu lợi do giá nguyên vật
liệu đuợc bán với giá cao. Đây cũng là một hình thức chuyển lợi nhuận về chính quốc
trong khi công ty con tại Việt Nam phải chịu lỗ. So sánh tỷ lệ nguyên vật liệu trên giá
vốn hàng bán (NVL/GVHB) của công ty Coca Cola Chương Dương và hai công ty
con của Coca Cola mẹ hoạt động tại Úc và Canada.
Trên đây là những hoạt động chuyện giá chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian qua,
những hoạt động này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp Việt Nam,
cũng như là thất thu hàng tỷ USD cho nguồn thu thuế của Nhà nước. Khi hoạt động
chuyển giá còn tiếp diễn với xu thế ngày càng phức tạp như hiện nay, các doanh
nghiệp Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý các doanh nghiệp FDI
cần thận trọng hơn, và có những biện pháp để chủ động đối phó, cũng như quản lý tốt
nguồn vốn FDI tạo đà cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam trong
thời kì hội nhập kinh tế thế giới.