ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ THÙY TRANG TRỢ TỪ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH
DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐINH THỊ THÙY TRANG
TRỢ TỪ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH
DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
1
MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC
1
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
4
PHẦN MỞ ĐẦU
5
1. Lý do chọn đề tài
5
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6
2.1. Đối tượng nghiên cứu
6
2.2. Phạm vi nghiên cứu
6
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
7
3.1. Mục đích
7
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
19
1.3.4.1. Trợ từ tình thái dạng thức hóa đoản ngữ để trở thành phát ngôn
20
1.3.4.2. Những trợ từ tình thái biểu thị thái độ người nói
22
1.3.4.3.Trợ từ tình thái nhấn mạn:
23
CHƢƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC TRỢ TỪ TÌNH THÁI TRONG CÁC
GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2005
25
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
2
2.1. Khảo sát trợ từ tình thái trong các giáo trình cơ sở.
25
2.1.1. Vị trí của trợ từ tình thái trong cấu trúc câu.
25
2.1.2. Khảo sát số lƣợng trợ từ tình thái.
27
2.1.3. Tình hình sử dụng trợ từ tình thái trong các giáo trình.
32
2.1.3.1. Cách giải thích trợ từ tình thái trong các giáo trình.
32
2.1.3.2. Việc đưa và xử lý các trợ từ tình thái trong các giáo trình cơ sở.
38
2.1.4. Nhận xét.
43
84
3.3. Vai trò của trợ từ tình thái trong giao tiếp ngôn ngữ thể hiện trong
các giáo trình.
96
3.3.1. Tính cơ động và hiệu quả giao tiếp.
96
3.3.2. Quan hệ xã hội và thái độ giao tiếp.
99
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
3
3.3.2.1. Quan hệ xã hội.
99
3.3.2.2. Thể hiện thái độ giao tiếp.
100
3.4. Một số nhận xét và kiến nghị.
109
3.4.1. Nhận xét.
109
3.4.2. Kiến nghị.
110
KẾT LUẬN
115
TÀI LIỆU THAM KHẢO
118
PHỤ LỤC
120
4
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ĐNC – PH: Đặng Ngọc Cừ - Phan Hải
MNC: Mai Ngọc Chừ
PVG: Phan Văn Giƣỡng
PVG – NAQ: Phan Văn Giƣỡng – Nguyễn Anh Quế
TĐH: Trịnh Đức Hiển
ĐVH: Đào Văn Hùng
ĐTH: Đinh Thanh Huệ
NVH
1
: Nguyễn Văn Huệ
NTTH: Nguyễn Thị Thanh Hƣơng
NVH
2
: Nguyễn Việt Hƣơng
BK – PVG: Bửu Khải – Phan Văn Giƣỡng
Tr K: Trần Khang
NTN: Nguyễn Thiện Nam
NVP: Nguyễn Văn Phúc
NAQ: Nguyễn Anh Quế
NAQ – HTQH: Nguyễn Anh Quế - Hà Thị Quế Hƣơng
NKT: Nguyễn Kim Thản
VVT: Vũ Văn Thi
ĐTT: Đoàn Thiện Thuật
tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ đƣợc tổ chức cả trong lẫn ngoài nƣớc. Trong những cuộc
hội thảo này có nhiều báo cáo trình bày về vấn đề dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài
đƣợc tiến hành nghiên cứu khá sâu sắc và cũng đạt đƣợc những kết quả đáng khích lệ,
trong đó có vấn đề từ loại.
Trong tiếng Việt, từ loại là một vấn đề phong phú và khá phức tạp. Đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về từ loại nhƣng hầu hết các công trình nghiên cứu đó chỉ
đi sâu vào việc nghiên cứu các từ loại chính còn các từ loại phụ trợ trong đó có trợ từ
tình thái thì chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, mặc dù nó cũng đóng một vai trò quan
trọng trong tổ chức câu. Trợ từ tình thái có vai trò quan trọng trong giao tiếp ngôn ngữ
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
6
nhƣng cũng chƣa đƣợc nghiên cứu sâu, nghiên cứu kỹ. Về trợ từ mới chỉ có một số tác
giả nghiên cứu nhƣ Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Lê Biên… nhƣng cũng chƣa
đƣợc nghiên cứu thật kỹ. Ngoài ra, hiện nay vấn đề cách gọi là trợ từ hay ngữ khí từ
hay tiểu từ vẫn chƣa thống nhất giữa các tác giả. Hơn nữa, trong các giáo trình dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài hiện nay, trợ từ tình thái vẫn chƣa đƣợc phân bố đồng
đều. Có những giáo trình có rất nhiều trợ từ tình thái nhƣng cũng có những giáo trình
lại rất ít. Đặc biệt là sự sắp xếp các trợ tình thái theo cấp độ dễ - khó, phổ biến – ít phổ
biến giữa các giáo trình cũng chƣa hợp lý. Vì vậy, đề tài này cần tập trung nghiên cứu
sâu hơn, kỹ hơn về vấn đề khá thú vị này, nhất là việc ứng dụng các trợ từ tình thái vào
các giáo trình cũng nhƣ quá trình giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài để ngƣời
học có thể nhận biết và sử dụng trợ từ tình thái một cách thành thạo.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu và khảo sát các trợ từ
tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ở cả ba trình độ: cơ
học.
Thông qua quá trình khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả và so sánh các trợ từ
tình thái ở cả ba trình độ, luận văn có thể đƣa ra những cái đƣợc và những cái còn hạn
chế trong các giáo trình cũng nhƣ trong điều kiện giảng dạy hiện nay. Hơn nữa, luận
văn còn đề xuất một số kiến nghị cho việc biên soạn các giáo trình và giảng dạy các trợ
từ tình thái cho ngƣời nƣớc ngoài.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài.
- Khảo sát các trợ từ tình thái trong các giáo trình giảng dạy tiếng việt cho ngƣời
nƣớc ngoài ở cả ba trình độ: Cơ sở, trung cấp và cao cấp.
- Thống kê, phân loại các trợ từ tình thái ở cả ba trình độ
- Xác định đƣợc vai trò của trợ từ tình thái trong việc dạy tiếng Việt.
- Phân tích nghĩa biểu hiện, cách dùng các trợ từ tình thái.
- Góp phần cải tiến chất lƣợng của việc biên soạn các giáo trình dạy tiếng Việt cho
ngƣời nƣớc ngoài.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và tƣ liệu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu.
Các phƣơng pháp chủ yếu đƣợc sử dụng trong luận văn là:
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
8
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp phân loại
- Phƣơng pháp phân tích, miêu tả
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu
4.2. Tư liệu.
Dƣới đây là những giáo trình dạy tiếng việt cho ngƣời nƣớc ngoài mà chúng tôi
đã khảo sát, thống kê và miêu tả trong luận văn.
1. Tiếng Việt (Vietnamese) intermediate 3, Phan Văn Giƣỡng, NXB Trẻ, 2005.
2. Tiếng Việt (Vietnamese) intermediate 4, Bửu Khải - Phan Văn Giƣỡng, NXB
Trẻ, 1998.
3. Tiếng Việt nâng cao (Intremediate Vietnamese), Nguyễn Thiện Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội 1998.
4. Tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, trình độ nâng cao (Vietnamese for foreigners,
intermediate level), Trịnh Đức Hiển (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2004.
5. Thực hành tiếng Việt, trình độ B, Đoàn Thiện Thuật (chủ Biên), NXB Thế Giới,
Hà Nội, 2001.
6. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài - 3, Nguyễn Văn Huệ (chủ
biên), NXB Giáo Dục, Tp HCM 2004.
7. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài - 4, Nguyễn Văn Huệ (chủ
biên), Thành phố Hồ Chí Minh 2001.
Giáo trình tiếng Việt cao cấp
1. Giáo trình tiếng Việt dành cho ngƣời nƣớc ngoài - 5, Nguyễn Văn Huệ (chủ
biên), Thành phố Hồ Chí Minh, 2007.
2. Tiếng Việt, Upper – intermediate, Phan Văn Giƣỡng – Nguyễn Anh Quế, NXB
Giáo Dục, Hà Nội 1996.
3. Thực hành tiếng Việt, Trình độ C, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế Giới,
Hà Nội 2001.
4. Tiếng Việt nâng cao dành cho ngƣời nƣớc ngoài của Viện Ngôn ngữ, Vũ Thị
Thanh Hƣơng (chủ biên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
Một số giáo trình tiếng Việt không phân rõ trình độ, chúng tôi chỉ khảo sát để
tham khảo chứ không nằm trong khung khảo sát chính của luận văn.
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
Đinh Thị Thùy Trang
11
CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Từ loại.
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đƣợc phân chia theo ý nghĩa,
theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lƣu và thực hiện những chức năng
ngữ pháp nhất định ở trong câu.
Từ loại là một nội dung quan trọng của ngữ pháp học. Đối với tiếng Việt vấn đề từ
loại lại càng quan trọng, bởi vì đây là một vấn đề lý luận đƣợc ứng dụng trong một
ngôn ngữ cụ thể thuộc loại hình đơn lập và phân tiết. Qua đó, còn có thể đặt ra nhiều
vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt, và rộng hơn là cho các ngôn ngữ đơn lập, chẳng hạn
nhƣ mối quan hệ giữa từ pháp và cú pháp, sự đối lập giữa thực từ và hƣ từ, khả năng
diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ giữa từ loại và các thành phần của câu…
Mỗi ngôn ngữ đều có một vốn từ vựng rất lớn. Do khối lƣợng, do tính chất, do chức
năng, mỗi vốn từ đều rất đa dạng. Mỗi nhà nghiên cứu phân loại từ theo nhiều cách
khác nhau với mục đích khác nhau. Từ vựng phân loại từ thành những lớp từ về mặt
ngữ nghĩa, nhƣng ngữ pháp học lại phân loại theo bản chất ngữ pháp của từ.
1.2. Từ trong tiếng Việt.
1.2.1. Một số đặc điểm của ngôn ngữ đơn lập.
Tiếng Việt, về mặt loại hình là một ngôn ngữ đơn lập – phân tích tính điển hình.
Loại hình ngôn ngữ đơn lập thể hiện 4 đặc điểm chính:
- Tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ không biến hình (inflexible) tức là, trong mọi
kết hợp, hình thái của từ không biến đổi ngữ pháp mà ta có thể thấy dễ dàng nhƣ ở
nhiều tiếng thuộc hệ ngôn ngữ Ấn – Âu. Nói cách khác, ở tiếng Việt, những biến động
bên trong thuộc về nội dung ý nghĩa, có liên quan đến chức năng cú pháp của từ trong
kết cấu. Ví dụ; đại từ nhân xƣng Tôi và Nó, với chức năng bổ ngữ vẫn giữ nguyên hình
thái nhƣ khi chúng đảm nhận chức năng nhƣ trong vai chủ ngữ. Trong lúc đó, ở tiếng
ngữ lƣu càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Do đó việc phân định từ trong tiếng
Việt vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp nhƣ đứng trƣớc các chuỗi hai hình tiết: hờn giận,
yêu thƣơng, thƣơng nhớ,… ngƣời ta thƣờng phải biện luận không ít trƣớc khi khẳng
định chúng là một từ hay hai từ.
- Hiện tƣợng cấu tạo từ bằng phụ tố rất ít hoặc hầu nhƣ không phát triển trong
các ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt, tiếng Mƣờng). Vì thế, quan hệ dạng thức (quan hệ về
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
13
mặt hình thái) giữa các từ yếu đến mức hầu nhƣ là chúng tồn tại rời rạc, rất tự do trong
câu. Ví dụ: cha mẹ - mẹ cha; làng xóm – xóm làng; bé nhỏ - nhỏ bé;…
Mặt khác cũng bởi tính tình thái, quan hệ hình thái của từ yếu nhƣ thế, cho nên
mới có ngƣời quan niệm rằng ngôn ngữ đơn lập là ngôn ngữ không có từ loại.
Ví dụ: Mua cá – cá khô trên trời, dƣới cá, chỗ nào cũng cá, góc chợ
nào cũng cá.
Nhà này cũng gỗ lim cả.
(Danh từ cá, cụm danh từ gỗ lim vừa đứng ở vị trí của danh từ lại vừa đứng đƣợc ở vị
trí điển hình của động từ).
1.2.2. Thực từ và hư từ tiếng Việt.
Vì có những đặc điểm của một ngôn ngữ đơn lập – phân tích tính điển hình nên
từ loại tiếng Việt đƣợc chia thành hai phạm trù lớn là thực từ và hƣ từ.
- Khái niệm thực từ và hƣ từ trong tiếng Việt nói riêng hay trong các ngôn ngữ
phân tích tính và đặc biệt là các ngôn ngữ đơn lập nói chung là hai phạm trù rất cơ bản
trong cơ cấu hệ thống vì vậy, việc vạch ranh giới giữa hai phạm trù này có ý nghĩa rất
quan trọng và cần thiết đối với loại hình các ngôn ngữ này. Tuy nhiên cho đến nay việc
xác định ranh giới giữa chúng vẫn chƣa hoàn toàn thỏa đáng và còn có một số ý kiến.
Song về cơ bản, các tác giả đều thống nhất ở một số điểm sau:
+ “Tính từ là những từ chỉ tính chất, chỉ đặc trƣng của sự vật nhƣ hình thể, màu
sắc, dung lƣợng, kích thƣớc, đặc trƣng. Ví dụ nhƣ: To, nhỏ, xanh, đỏ, bé, dài…”
Tuy nhiên, nếu chỉ chủ yếu dựa vào ý nghĩa thì chƣa đủ để vạch ra một ranh giới
giữa thực từ và hƣ từ. Do đó chúng ta cần xem xét vấn đề thực từ và hƣ từ trên cả hai
phƣơng diện ngữ nghĩa chức năng ngữ pháp.
- Về phƣơng diện ngữ nghĩa, nhƣ định nghĩa trên đã nêu. Về mặt ngữ pháp, thực
từ có những đặc điểm sau:
+ Thực từ là một yếu tố hoạt động độc lập về mặt ngữ pháp có vai trò chính
trong việc tạo lập các thành phần câu; tức là có khả năng làm trung tâm đoản ngữ và
dung nạp các thành phần phụ nhƣ: Danh từ có thể làm trung tâm danh ngữ. Động từ có
thể làm trung tâm động ngữ. Tính từ có thể làm trung tâm tính ngữ.
Ví dụ: (Tôi) cũng đã đọc xong (cuốn sách đó rồi) - Động ngữ
Tất cả những cuốn sách này (đều rất hay) - Danh ngữ
(Ngôi nhà này) đẹp lắm - Tính ngữ
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
15
+ Thực từ là một yếu tố có thể có hơn một chức năng; có khả năng làm thành tố
chính – trung tâm đoản ngữ; và cũng có thể có khả năng làm thành tố phụ.
Ví dụ: Danh từ làm định ngữ: Chính sách kinh tế, nhà trẻ.
Động từ làm định ngữ: Vở viết, khách du lịch.
Động từ làm trạng tố chỉ kết quả: Đánh chết, đập tan…
- Về cơ cấu hệ thống từ loại của các ngôn ngữ phân tích tính (đặc biệt là ngôn
ngữ đơn lập) nằm trong hai phạm trù lớn thực từ - hƣ từ nhƣ đã nói trên tuy nhiên, hƣ
từ còn khá nhiều ý kiến tranh luận. Có tác giả đặt phạm trù hƣ từ (trong thế đối lập với
thực từ quá rộng, gồm tất cả những từ nằm ngoài trung tâm đoản ngữ nhƣ: Số từ, đại
từ, tình thái từ, thán từ, phụ từ và kết từ nhƣ Nguyễn Anh Quế. Nhƣng nhìn chung hầu
pháp. Nghĩa của hƣ từ gắn với cách thức tƣ duy, hành vi tƣ duy. Do đó chọn lựa hƣ từ
nào để cấu tạo câu nói mang thông tin là xuất phát từ nhu cầu diễn đạt của tƣ duy.
1.3.1.1. Đặc điểm của hư từ.
Hƣ từ có một số đặc điểm sau:
- Hƣ từ tham gia kiến tạo lập luận, có vai trò nhấn mạnh quan hệ liên kết nghĩa
lôgic giữa các tiền đề và kết đề.
- Hƣ từ không làm trung tâm của cụm từ, của ngữ đoạn và không độc lập làm
thành phần câu cũng nhƣ không độc lập tạo ra câu. Hƣ từ và các kết câu hƣ từ đứng
ngoài nòng cốt câu và có liên đới đến toàn câu nhằm diễn đạt ý nghĩa ngữ dụng nào đó
tùy theo chiến lƣợc của ngƣời sử dụng chúng. Giới ngữ, có chức năng làm thành phần
câu, chủ yếu làm định tố trong danh ngữ, làm bổ tố trong động ngữ và làm trạng ngữ ở
đầu phát ngôn.
Ví dụ: (a) Chúng ta tin ở khả năng thợ thuyền
(b) Đã tu, tu trót qua thì, thì thôi.
- Hƣ từ tự nó không có khả năng biểu hiện sắc thái nghĩa. Nó có sắc thái nghĩa
tình thái khi tham gia vào một kết cấu cú pháp nào đó, trong một ngôn cảnh nào đó.
Trong trƣờng hợp nhƣ thế, hƣ từ, các kết cấu hƣ từ, các quán ngữ tham gia vào chức
năng biểu hiện cú pháp và nghĩa bổ sung.
- Hƣ từ không có khả năng láy để tạo dạng thức ngữ pháp. Trong câu đáp, một
số phó từ có thể lặp nhằm nhấn mạnh.
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
17
Ví dụ: Em có làm đƣợc việc này không?
Nhất định, nhất định.
Hoặc: Không, không, anh không chết trong tôi.
Trong lời nói đay cũng có lặp:
+ Thán từ: Luôn làm thành phần biệt lập, có thể nói là làm thành một câu độc
lập không có quan hệ gì về cấu trúc với các thành phần khác trong văn bản hoặc trong
lời nói. Thán từ không làm thành tố đoản ngữ cũng không có chức năng tạo câu hay
biểu thị thái độ nhƣ ngữ khí từ mà chỉ biểu thị trạng thái cảm xúc. Vì vậy, thán từ
không có vai trò ngữ pháp.
1.3.2. Trợ từ tình thái.
Nhƣ phần trên chúng tôi đã phân tích, trong nhóm hƣ từ tiếng Việt gồm có hai
nhóm lớn:
- Nhóm các hƣ từ chuyên làm thành tố phụ đoản ngữ nhƣ: đã, đang, sẽ, các,
mọi…
- Nhóm các hƣ từ nằm ngoài đoản ngữ gồm:
+ Quan hệ từ
+ Các hƣ từ phụ trợ
+ Nhóm các thán từ
Trong luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát nhóm các hƣ từ phụ trợ gồm: Các
hƣ từ vừa có chức năng nhấn mạnh, vừa thể hiện thái độ, tình cảm; và nhóm các hƣ từ
vừa có chức năng dạng thức hóa đoản ngữ trở thành một phát ngôn, vừa thể hiện thái
độ, tình cảm của ngƣời nói. Với chức năng và ý nghĩa nhƣ vậy, chúng tôi gọi nhóm này
là các trợ từ tình thái.
1.3.3. Những đặc điểm của trợ từ tình thái tiếng việt.
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, trợ từ tình thái tuy không nhiều lắm nhƣng lại
đóng một vai trò quan trọng và đƣợc dùng rất rộng rãi cả trong văn viết lẫn văn nói.
Trợ từ tình thái có một số đặc điểm sau:
- Trợ từ tình thái là những từ biểu hiện sắc thái tình cảm, không có ý nghĩa từ
vựng.
- Trợ từ tình thái là những yếu tố phụ nằm ngoài đoản ngữ. Chúng không có vai
trò gì trong việc tổ chức đoản ngữ, chúng không phải là thành tố của cấu trúc, không có
vị trí xác định trên sơ đồ cấu trúc đoản ngữ. Chúng tham gia vào đoản ngữ chỉ với chức
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
Bởi vậy, Nguyễn Kim Thản chia chũng ra thành hai tiểu loại chính: những trợ từ có tác
dụng câu và những trợ từ phục vụ sự biểu thị thái độ của ngƣời nói. Nhƣng ranh giới
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
20
giữa hai tiểu loại không phải hoàn toàn dứt khoát vì có những từ có thể thuộc về cả hai
tiểu loại. Ngoài ra, còn có một vài trợ từ lẻ tẻ, không xếp vào hai tiểu loại trên đƣợc,
nhƣ: cái, chính, ngay… những trợ từ tình thái này có tác dụng tỏ rõ sự nhấn mạnh một
từ nào đó trong câu nói.
Nguyễn Anh Quế cho rằng trợ từ là những hƣ từ nằm ngoài đoản ngữ luôn phụ
trợ cho một yếu tố trong đoản ngữ hoặc trong câu và chia trợ từ thành hai loại:
+ Loại chuyên phụ trợ cho thể từ (đích, chính)
+ Loại chuyên phụ trợ cho cả thể từ lẫn vị từ (tự, ngay, cả, đến)
Mặc dù trợ từ tình thái đƣợc các tác giả phân loại theo những hƣớng khác nhau
với những thuật ngữ khác nhau nhƣng nhìn chung chúng tôi phân loại các trợ từ tình
thái nhƣ sau:
1.3.4.1. Trợ từ tình thái dạng thức hóa đoản ngữ để trở thành phát ngôn.
Những trợ từ tình thái này gồm có: à, nhỉ, ư, hả, chứ, chăng, phỏng, đi, thôi…
Nhóm từ này lại có thể chia thành những nhóm nhỏ hơn nhƣ trợ từ nghi vấn, cầu khiến
(mệnh lệnh), cảm thán.
- Trợ từ tình thái phục vụ việc cấu tạo câu nghi vấn:
À(ấy à, đấy à, kia à): Dùng trong trƣờng hợp đã biết rồi hoặc tin rằng điều mình nêu
lên trong câu hỏi (câu hỏi này bao giờ cũng là câu hỏi có hạn chế) là đúng, nhƣng vẫn
hỏi “lấy lệ”.
Ví dụ: Thƣa bác, con đi huyện về.
Thế hôm nay anh mới về à?
Nhỉ: Dùng để hỏi khi có thái độ thân mật, đôi khi còn có tác dụng tạo câu cảm thán.
Ví dụ: Dễ ông đứng đây đợi mày đấy chắc?
Con này mày kể công với tao hẳn?
Ngoài ra còn có từ ru (hiện nay đã trở nên cũ) đặt cuối câu hỏi có ý tiêu cực
hoặc phủ định để nhằm mục đích đƣợc trả lời trái lại.
Ví dụ: Sống dƣới tình trạng đau buồn thảm khốc đó, dân ta há lẽ bó tay
chịu chết ru?
- Trợ từ tình thái cấu tạo câu mệnh lệnh:
Đi: Là trợ từ tình thái thƣờng dùng nhất để tạo câu mệnh lệnh cầu khiến.
Ví dụ: Uống đi!
Thôi: Dùng khi, có ý giục giã, hỏi vặn, bi quan
Luận văn thạc sỹ
Đinh Thị Thùy Trang
22
Ví dụ: Đi đi thôi, nhanh lên.
Nào: Có ý giục giã, hoặc những câu kể lể nhiều sự vật một lúc.
Ví dụ: Dô này anh chị em ơi, chạy lên nào!
Với: Thƣờng dùng trong những câu nói lên yêu cầu giúp đỡ hay yêu cầu cho phép.
Ví dụ: U ơi! U cứu con với!
Nhé: thƣờng dùng trong câu nói lên yêu cầu, lời giao hẹn và đôi khi trong trƣờng hợp
muốn đƣợc sự đồng ý của ngƣời nghe.
Ví dụ: Ông đến ngay nhé.
- Trợ từ tình thái cấu tạo câu cảm thán:
Thay: Thƣờng đặt sau vị ngữ của câu cảm thán do tính từ biểu thị.
Ví dụ: Nhƣng buồn thay!
1.3.4.2. Những trợ từ tình thái biểu thị thái độ người nói:
- Những trợ từ tình thái này gồm có: ạ, cơ, vậy, mà
Ạ: Tỏ sự kính cẩn (đặt cuối câu tƣờng thuật hay nghi vấn)
Ví dụ: Nhịn từ hôm qua, chƣa đƣợc hút đây!
Đấy, thế: Dùng để nhấn mạnh, đánh giá ý ngƣời khác.
Ví dụ: Đúng đấy.
Ấy: Thƣờng đặt ở cuối câu nhấn mạnh ý so sánh.
Ví dụ: Đi đâu mà nghênh ngang nhƣ đám rƣớc ấy.
Này: Dùng để nhấn mạnh ý mách bảo hoặc tức giận.
Ví dụ: Này thách! Này thách! Này… thách!!!
Cái: Biểu thị thái độ miệt thị của ngƣời nói với đối tƣợng.
Ví dụ: A cái thằng mới láo thật!
Thì: Dùng để nhấn mạnh ý kiến của ngƣời nói hoặc tỏ ý miễn cƣỡng:
Ví dụ: Bà thì tát cho một cái bây giờ, đừng láo!
1.3.4.3.Trợ từ tình thái nhấn mạnh:
Chính: Trợ từ tình thái dùng để nhấn mạnh sự khẳng định một sự vật.
Ví dụ: Chính tôi đây. Chính Mèn đây.
Những: Có tác dụng nhấn mạnh mức độ cao, khối lƣợng nhiều.
Ví dụ: Những ba món ăn, toàn cá thịt hẳn hoi.
Đến, lấy: Nhấn mạnh khối lƣợng ít và thƣờng đặt trƣớc từ tổ số từ + danh từ.
Ví dụ: Không còn lấy một hột gạo.