Khảo sát việc phân bổ và xử lý các cấu trúc cú pháp cơ bản trong các giáo trình dạy tiếng việt cho người nước ngoài bậc - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

BÙI BỘI THU

KHẢO SÁT VIỆC PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ CÁC CẤU TRÚC
CÚ PHÁP CƠ BẢN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI BẬC NÂNG CAO
(TRÊN CƠ SỞ NGỮ LIỆU CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT
BẬC NÂNG CAO TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2011


LuËn v¨n Th¹c sü

MỤC LỤC
MỤC LỤC ………………………………………………………………….................1
PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………5
1. Lời mở đầu ………………………………………………………………................5
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu………………………………………...........6
2.1. Đối tượng nghiên cứu……….……………………………………………..6
2.2. Phạm vi nghiên cứu….…………………………………………………….6
3. Mục tiêu của đề tài……….……………………………………………….………...6
4. Phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu………..……………………………………...7
4.1. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….........7
4.2. Tư liệu……………………………………………………………................7

VÀ XỬ LÝ NGỮ LIỆU CÁC CẤU TRÚC CÚ PHÁP CƠ BẢN
TRONG VIỆC XÂY DỰNG GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT
NÂNG CAO………………………………………………………………………….80
3.1. Vai trò của việc dạy cấu trúc cú pháp trong việc dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài……………………………………………………80
3.2. Nhận xét về việc xử lý cấu trúc cú pháp trong các giáo trình
dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài ở bậc nâng cao……………………………...83
3.3. Giải pháp………………………………………………………………………...86
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………..90
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………..92
PHỤ LỤC

2


LuËn v¨n Th¹c sü
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BN, B, b:

Bổ ngữ

CN, C:

Chủ ngữ

DT, dt:

danh từ


Tính từ

V, v, VN:

Vị ngữ

3


LuËn v¨n Th¹c sü
MỘT SỐ QUY ƢỚC
Các số La Mã đánh dấu số thứ tự của các giáo trình cũng sẽ là những ký hiệu viết
tắt tên giáo trình. Ví dụ: I là giáo trình tiếng Việt thực hành, tập II của tập thể tác giả
Trường Đại học Tổng hợp; II là giáo trình Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3 của
tác giả Phan Văn Giưỡng.
I. Giáo trình tiếng Việt thực hành, tập II, Trường Đại học Tổng hợp, Khoa tiếng
Việt, Nhà in Bộ Tham mưu, 1980.
II. Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, Phan Văn Giưỡng, NXB trẻ, 1994.
III. Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 4, Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng, NXB
trẻ, 1998.
IV. Tiếng Việt nâng cao (Intermediate Vietnamese), Nguyễn Thiện Nam, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1998.
V. Thực hành tiếng Việt, trình độ B, Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), NXB Thế giới,
Hà Nội, 2001.
VI. Tiếng Việt cho người nước ngoài, trình độ nâng cao, Trịnh Đức Hiển (chủ
biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
VII. Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tập 3, Nguyễn Văn Huệ (chủ
biên), NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004.
VIII. Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tập 4, Nguyễn Văn Huệ (chủ
biên), NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004.

tiếng Việt bậc nâng cao từ năm 1980 đến năm 2008).

5


LuËn v¨n Th¹c sü
Mặt khác, chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu cũng là vì tiếng Việt là
ngôn ngữ giàu bản sắc văn hóa và hết sức đa dạng trong cách sử dụng ngôn từ. Do đó,
nhiều khi một mẫu câu được thể hiện trong giao tiếp lại bị nhiều người phê phán rằng:
Người Việt chả ai nói thế bao giờ” hoặc “Câu này hơi thiếu tự nhiên”… Vì thế, việc
truyền đạt, thể hiện các các cấu trúc của câu trong một giáo trình không phải là việc
đơn giản, đòi hỏi giáo viên và đặc biệt người viết giáo trình phải có một kiến thức ngữ
pháp chắc chắn. Hơn nữa, chúng tôi thiết nghĩ, cấu trúc cú pháp cũng là vấn đề rất
quan trọng đối với việc học của các học viên nước ngoài. Dựa trên những cấu trúc cú
pháp, người học có thể vận dụng trong việc xây dựng nên đơn vị cơ bản (câu) để góp
phần hoàn thiện khả năng giao tiếng bằng tiếng Việt của mình.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu và khảo sát sự phân bố,
xử lý các cấu trúc cú pháp được thể hiện trong các giáo trình tiếng Việt cho người
nước ngoài ở bậc nâng cao. Những giáo trình này đã và đang được sử dụng, giảng dạy
ở các trường, các trung tâm dạy tiếng, được xuất bản trong nước từ năm 1980 đến năm
2008. Chúng tôi sẽ tập trung khảo sát ở các phần bài hội thoại, bài đọc, bài tập, bài
luyện.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ khảo sát các cấu trúc cú pháp trong các
phần:
- Bài hội thoại
- Phần chú thích ngữ pháp
- Bài đọc

- Phương pháp phân tích, miêu tả
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch

7


LuËn v¨n Th¹c sü
4.2. Tư liệu
Trong phần khảo sát, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát giáo trình bậc nâng cao
(không khảo sát giáo trình chuyên ngành, hoặc những giáo trình phục vụ cho những
đối tượng riêng biệt). Dưới đây là một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước
ngoài mà chúng tôi sẽ khảo sát trong luận văn:
1. Trường Đại học Tổng hợp, Khoa tiếng Việt, Giáo trình tiếng Việt thực hành, tập
II, Nhà in Bộ Tham mưu, 1980.
2. Phan Văn Giưỡng, Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, NXB trẻ, 1994.
3. Bửu Khải - Phan Văn Giưỡng, Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 4, NXB trẻ,
1998.
4. Nguyễn Thiện Nam, Tiếng Việt nâng cao (Intermediate Vietnamese), NXB Giáo
dục, Hà Nội, 1998.
5. Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Thực hành tiếng Việt, trình độ B, NXB Thế giới,
Hà Nội, 2001.
6. Trịnh Đức Hiển (chủ biên), Tiếng Việt cho người nước ngoài, trình độ nâng cao,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.
7. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,
tập 3, NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004.
8. Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,
tập 4, NXB Giáo dục, Tp HCM, 2004.
5. Bố cục của luận văn
Phần mở đầu
Nội dung

mô hình nhất định mà nó còn có nhiều biến thể. Biến thể trong phạm vi của mô hình
cấu trúc câu trước hết gắn liền với sự có mặt của các yếu tố mở rộng mô hình. Nhiều
khi những yếu tố mở rộng mô hình này lại rất quan trọng, nó bổ sung nghĩa cho câu,
hay nói cách khác nó làm cho câu hoàn chỉnh về mặt thông báo, làm dấu hiệu để khu
biệt với các mô hình khác. [33]
Theo Hoàng Trọng Phiến thì việc xác định, miêu tả, xây dựng mô hình cấu trúc
cú pháp có thể đi từ hai hướng:

9


LuËn v¨n Th¹c sü
+ Mở rộng kết hợp với chuyển đổi tất cả các vị trí trong mô hình trừ vị trí của
động từ vị ngữ.
+ Thu gọn bằng cách bỏ bớt các yếu tố biên, trước hết là các yếu tố tuỳ tiện.
Trong quá trình nghiên cứu về câu tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến cũng đưa ra
một số mô hình cơ bản của câu đơn và mô hình của câu ghép.
Mô hình cơ sở của câu đơn: C – V
Mô hình tổng quát: P – C – V - B
Mô hình suy diễn: Px - Cx - Vx - Bx
(Trong đó C: chủ ngữ, V: vị ngữ, B: bổ ngữ, P: thành phần phụ của câu, x:
tượng trưng cho quá trình khai triển cấu trúc của các thành phần câu)
Trong mỗi mô hình này lại có những biến thể khác.
Câu ghép có từ nối có mô hình tiêu biểu là: XA + YB
(X,Y là những cặp từ nối; A, B là các mệnh đề mà mỗi vế đều có tính vị ngữ
riêng của mình.). [33]
Ngoài ra, Nguyễn Cao Đàm trong luận án Phó Tiến sĩ nghiên cứu về câu đơn hai
thành phần, cũng đưa ra hai nhóm mô hình của câu đơn:
Nhóm A: mô hình C – V, C- V – Tr, C - V/(cụm từ cố định/thành ngữ)
C–

phần câu: vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ, trạng ngữ. Trong
đó vị ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ là thành phần chính của câu, còn các thành phần khác là
thành phần phụ.
* Chủ ngữ: chủ ngữ có ý nghĩa biểu thị đối tượng. Đối tượng này có quan hệ với
vị ngữ về phương diện của chủ thể hành động, chủ thể sở hữu, chủ thể tiếp nhận, chủ
thể phẩm chất…Chủ ngữ có yếu tố như một chủ tố – yếu tố trung tâm thu hút yếu tố
biên để làm thành nhóm chủ ngữ. Chủ ngữ có thể được cấu tạo bằng một từ, một tiếng,
một cụm từ, một kết cấu…
* Vị ngữ là thành phần chính tác động đến toàn bộ câu, nó có liên đới đến nhiều
thành phần khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Về ý nghĩa, vị ngữ biểu thị sự hoạt
động, tính chất, trạng thái của con người, hiện tượng, sự vật được nêu lên ở chủ ngữ.
* Bổ ngữ là thành phần phụ của câu. Nó có ý nghĩa chỉ ở trong mối liên hệ, chịu
chi phối của động từ làm vị ngữ. Bổ ngữ có chức năng ngữ nghĩa như sau:
- Chức năng biểu thị đối tượng hay công cụ của hành động
11


LuËn v¨n Th¹c sü
- Chức năng chi tiết hoá, chính xác hoá hành động hay phẩm chất về mặt số
lượng.
Bổ ngữ là thành phần phụ nhưng lại có tác động đến toàn cấu trúc câu. Bổ ngữ
cần thiết để biểu hiện ý nghĩa hoàn chỉnh của câu.
Việc xếp bổ ngữ vào thành phần chính hay thành phần phụ của câu gây ra nhiều
tranh luận. Có người cho rằng đây là thành phần chính của câu như Nguyễn Văn Hiệp,
Nguyễn Minh Thuyết, lại có người cho rằng đây là thành phần phụ như các tác giả
Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Cao Đàm.
* Trạng ngữ là một trong những thành phần thứ yếu của câu. Nó thường mang ý
nghĩa đặc điểm không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích… Tuy nhiên, cần phải
chú ý đến sự khác nhau giữa trạng ngữ và trạng tố. Tác giả Hoàng Trọng Phiến phân
biệt hai thành phần này dựa vào các đặc điểm sau:

định…Về tổ chức, câu đơn bao giờ cũng biểu hiện một vị tính hoặc có thể biểu hiện
bằng một vị ngữ hoặc không. Về chức năng, câu đơn mang thông tin ngữ nghĩa tự
thân.
Dựa vào thành phần cấu tạo. câu đơn được chia thành hai loại:
* Câu đơn không đầy đủ thành phần
- Câu đơn một thành phần: Thường là câu không có chủ ngữ hoặc câu có
chủ ngữ zêrô
- Câu do một từ, hoặc ngữ tạo nên
* Câu đơn hai thành phần nòng cốt
- Câu ghép
“Câu ghép là một tổ hợp các đơn vị vị ngữ hoặc các tương đương văn cảnh được
xây dựng theo các sơ đồ cấu trúc cú pháp nhất định để truyền đi thông báo như một
đơn vị giao tế.” [33; 209]
Dựa vào mối quan hệ cấu trúc và ý nghĩa cũng như các phương tiện biểu diễn
mà câu ghép được chia thành hai loại lớn: câu ghép qua lại và câu ghép đẳng lập.
Trong nội bộ mỗi loại chia nhỏ theo quan hệ ý nghĩa do câu ghép biểu thị.

13


LuËn v¨n Th¹c sü
- Câu ghép qua lại gồm: câu ghép có quan hệ thời gian, câu ghép có quan hệ
nhân - quả, câu ghép có quan hệ điều kiện, câu ghép có quan hệ nhượng bộ - tăng tiến,
câu ghép có quan hệ mục đích, câu ghép có quan hệ so sánh.
- Câu ghép đẳng lập gồm câu ghép biểu thị quan hệ lựa chọn; câu ghép liên hợp
gồm câu ghép có quan hệ đồng loại, câu ghép có quan hệ tương phản, câu ghép có
quan hệ gộp.
Do kết quả của quá trình phức tạp hoá câu ghép, GS. Hoàng Trọng Phiến còn
nhắc tới một loại câu ghép: câu ghép bao hàm.
Ngoài hai loại câu đơn và câu ghép, tác giả còn đưa ra một loại câu là câu trung

- Câu ghép đẳng lập : căn cứ vào cách nối kết giữa các vế câu, có thể chia thành:
+ Câu ghép liên hợp
+ Câu ghép tương liên
+ Câu ghép tiếp liên
Ngoài ra, tác giả còn nói tới hiện tượng câu ghép nhiều bậc.
1.3.3. Quan điểm của Đào Thanh Lan trong cuốn “Cơ sở tiếng Việt”
Tác giả Đào Thanh Lan cũng chia câu thành hai loại câu đơn và câu ghép.
* Câu đơn
+ Câu đơn được phân chia theo cấu trúc đề - thuyết
+ Câu đơn đặc biệt
* Câu ghép
“Câu ghép là câu có cấu tạo là nòng cốt ghép bao gồm hai vế, mỗi vế là một
nòng cốt đơn, chúng được ghép lại với nhau bằng kết từ (từ nối) hoặc không có kết từ
để biểu thị một suy lí của lôgic.” [13; 151]
Căn cứ vào mối quan hệ giữa các vế câu, tác giả Đào Thanh Lan chia câu
ghép thành: câu ghép chính phụ và câu ghép đẳng lập.
Về cơ bản thì việc chia các loại câu ghép này thành những loại nhỏ hơn
không khác với quan niệm của Hoàng Trọng Phiến. Tuy nhiên, ở câu ghép chính phụ
tác giả Đào Thanh Lan không có loại câu ghép biểu thị quan hệ thời gian.

15


LuËn v¨n Th¹c sü
Ngoài hai câu ghép chính phụ và đẳng lập thì Đào Thanh Lan còn có câu
ghép phát triển. Đây là “loại câu mà mỗi vế câu ghép lại do một nòng cốt ghép đảm
nhiệm.”
1.3.4. Quan điểm của Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn “ngữ pháp tiếng Việt”
Nguyễn Hữu Quỳnh chia câu thành ba loại: câu đơn, câu trung gian, câu phức
hợp.

- Về ý nghĩa: câu ghép biểu thị một phán đoán phức hợp, một suy lí.
- Về ngữ pháp: câu ghép bao gồm bộ phận chủ yếu là một nòng cốt ghép, được
tạo nên bởi ít nhất hai vế và mỗi vế thường bao gồm một nòng cốt đơn.
- Tiêu chí phân loại: Căn cứ vào một số đặc điểm về ngữ nghĩa, ngữ pháp, sự
xuất hiện của kết từ hay thậm chí cả ngữ điệu mà các tác giả chia ra hai loại câu ghép.
Đó là câu ghép qua lại và câu ghép song song. Trong đó câu ghép song song: gồm một
số trường hợp sau:
+ Giữa các vế, có quan hệ liệt kê
+ Giữa các vế, có quan hệ nối tiếp
+ Giữa các vế, có quan hệ lựa chọn
+ Giữa các vế, có quan hệ đối xứng
+ Giữa các vế, có quan hệ bổ sung

[43]

1
Theo Nguyễn Văn Hiệp, c
, câu

.

*

- V.
:

)

C- V
C – V:

.


.
:

.
:
.

: Mưa!
Nói tóm lại việc phân loại câu theo cấu trúc - ngữ nghĩa cũng khá phức tạp. Tuy
hầu hết các nhà Việt ngữ học khi phân loại câu đều có hai loại là câu đơn và câu ghép
nhưng mỗi tác giả lại dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau dẫn tới kết quả phân
loại cũng khác nhau. Chẳng hạn như Nguyễn Hữu Quỳnh chia làm ba loại câu lớn,
trong khi các tác giả khác lại chia làm hai loại lớn; Nguyễn Hữu Quỳnh xếp câu trung
gian thành một loại riêng và dùng thuật ngữ “câu phức hợp” thay cho “câu ghép”.
Ngoài ra trong từng kiểu câu nhỏ lại có sự phân chia khác nhau. Với câu đơn, Diệp
Quang Ban chia làm 12 loại, còn đa số các tác giả lại chia làm hai loại. Tuy nhiên, việc
phân chia thành hai loại này cũng không hoàn toàn đồng nhất. Về phân chia câu ghép,
đa số các quan niệm trên (trừ quan niệm 1.3.4) đều chia thành ba loại câu ghép: ghép
chính phụ (qua lại), đẳng lập (song song), hỗn hợp (nhiều bậc, phát triển). Nói chung,
vấn đề phân loại câu ghép chính phụ và đẳng lập của tác giả khá giống nhau, chỉ có
18


LuËn v¨n Th¹c sü
Hoàng Trọng Phiến coi câu biểu thị quan hệ thời gian (khi….thì) là câu ghép chính
phụ. Trong khi đó Diệp Quang Ban hay các tác giả khác không coi đó là câu ghép mà
lại coi nó là câu đơn.


C

đt

Dt
-

-

C
Dt

tt

C

- V

C

C

-

-

-

(là) + dt

đt
-

V

Ví dụ: Học tập là nâng cao nhận thức.

là + đt
-

V

Ví dụ: Ra trận là ý muốn chung.

là + dt
-

V

Ví dụ: Hợp tác là mọi người chung sức

là + MĐ lại mà làm.

C

-

Đt

là + giới ngữ


C

Đt
-

Ví dụ: Anh ta người Hà Nội.

V

Dt
-

Ví dụ: Bố tôi là bác sĩ.

là + dt

Dt
-

tiền.

V

Dt
-

Ví dụ: Nhu cầu của anh ấy là kiếm nhiều

là + đt


-


-

C

C


Ví dụ: Anh làm vậy là đúng.

là + tt
-


-

V

V

Ví dụ: Anh không đi là điều hay.

là + dt
-

V


2) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ điều kiện – giả thiết
- Nếu C1 - V1 (thì) C2 - V2
Ví dụ: Nếu tôi biết, tôi sẽ nói cho anh.
- C1 - V1 nếu C2 - V2
Ví dụ: Tôi sẽ nói cho anh nếu tôi biết.
- Giá C1 - V1 thì C2 - V2
Ví dụ: Giá anh ấy đừng nói dối thì tôi sẽ tin.
- Cứ C1 - V1 là/thì C2 - V2
Ví dụ: Cứ mùa xuân là hoa nở.
- Hễ C1 - V1 là/thì C2 - V2
Ví dụ: Hễ nó ăn món đó là nó bị dị ứng.
- (C1) có - V1 (thì) C2 mới - V2
Ví dụ: Anh có học giỏi thì bố mẹ mới vui.
3) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ nhượng bộ
- Tuy C1 - V1 nhưng C2 - V2
Ví dụ: Tuy anh ấy không nói ra nhưng tôi có thể hiểu.
- Dù/ Mặc dù/ Dầu/Mặc dầu C1 - V1 nhưng C2 - V2
Ví dụ: Dù anh ấy nghèo nhưng chị ấy vẫn yêu anh ấy.
4) Các mẫu câu ghép cơ bản chỉ quan hệ tăng tiến
- C không những - V1 mà C2 còn - V2
Ví dụ: Hà Nội không những là một thành phố đẹp mà món ăn Hà Nội còn rất
ngon.
- C1 càng - V1, C2 càng - V2
Ví dụ: Nó càng nói, tôi càng ghét.
- C1 – V1 bao nhiêu, C2 – V2 bấy nhiêu
Ví dụ: Ông bố làm ra bao nhiêu, thằng con phá bấy nhiêu.
c. Các mẫu câu phủ định cơ bản
22



V
chưa + đt

-

C–

Ví dụ: Anh chẳng thích nó.

V
chẳng + đt/tt

- C-

Ví dụ: Nó không biết nói dối là gì.

V
Không biết + đt + là gì

-

C-

Ví dụ: Tôi chưa bao giờ gặp anh ấy.

V
Không/chẳng/chưa bao giờ + đt

- C–




LuËn v¨n Th¹c sü
- C–

Ví dụ: A: Chị Lan dạo này béo ra.

V
mà +đt/tt/ (là +dt)

- C-

B: Chị Lan mà béo.
Ví dụ: Tôi đâu có nói.

V
đâu có + đt

d. Các mẫu câu hỏi cơ bản
Câu hỏi là những câu thường sử dụng các từ để hỏi như: khi nào, ai, hả, có
…phải không, chưa, à, có … không, phải chăng… Những từ để hỏi này có thể đứng
đầu câu hoặc cuối câu (nhưng thường ở cuối câu). Trật tự từ trong câu hỏi tiếng Việt
có cấu trúc như một câu tường thuật (chủ ngữ + vị ngữ), ít có hiện tượng đảo ngữ, sử
dụng các hình thức tu từ để hình thành câu hỏi và rất ít sử dụng đến ngữ điệu.
Một số mẫu câu hỏi cơ bản như sau:
- C-

Ví dụ: Chị (đã) làm bài tập toán chưa?

V


Ví dụ: Anh thích ăn món nào?

- C - V – ai?

Ví dụ: Em đi với ai?

- C - V – đâu?

Ví dụ: Em đi đâu?

- C - V – à?

Ví dụ: Chị ấy không vui à?

- C - V – hả?

Ví dụ: hả?
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status