Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi đáp trong sách dạy tiếng việt cho người nước ngoài - Pdf 95

Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi - đáp
trong sách dạy tiếng việt cho
người nước ngoài Lê Thu Lan Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Hồng Cổn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài: hội thoại; cặp
thoại; cặp thoại hỏi – đáp ; vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng
Việt cho người nước ngoài. Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh như đặc điểm
của các phát ngôn (PN) hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi đáp; đặc điểm PN đáp
trong cặp thoại hỏi đáp chính danh. Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh:
đặc điểm của các PN hỏi trong cặp thoại không chính danh; đặc điểm của các PN
đáp trong các cặp thoại không chính danh; sự tương hợp về mặt hình thức và nội
dung của cặp thoại hỏi – đáp.

Keywords. Tiếng Việt; Người nước ngoài; Hỏi đáp; Phương pháp giảng dạy

Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình phát triển về mọi mặt. Việc mở rộng quan hệ với nhiều
nước trên thế giới đã đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội. Ngày nay có rất nhiều người nước
ngoài tìm đến Việt Nam để đầu tư kinh tế và tìm hiểu về văn hóa xã hội. Và Tiếng Việt đã và

những hạn chế vào việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Để ngày
càng có nhiều giáo trình mang tính ứng dụng cao, thiết thực với việc dạy và học.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh.
5. Tư liệu
Luận văn tiến hành khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài được xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây (bao
gồm 10 cuốn). Chúng tôi sắp xếp các giáo trình theo thứ tự từ 1 đến 10 và ký hiệu là Q1,
Q2 Q10 để dễ khảo sát.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh
Chương 3: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh

NỘI DUNG

Chương 1
Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
1.1. Hội thoại
Hội thoại còn là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức mới mẻ ở Việt Nam, mới mẻ cả về nội dung
lẫn phương pháp nghiên cứu. Việc xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về lĩnh vực này là một
mục tiêu của ngữ dụng học. Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chính xác về hội thoại là điều
rất khó.
Nói đến hội thoại là nói đến sự trao đổi, nói chuyện giữa những cá nhân. Đây lại là một hoạt
động của con người trong xã hội. Vì thế khi nghiên cứu về hội thoại, người ta thường gắn nó
đến các yếu tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lý , phong tục, văn hóa hay dân
tộc…
Trong phần này, chúng tôi có đề cập đến một số khái niệm về hội thoại theo tác giả Đỗ Hữu

Các loại cặp thoại hỏi đáp: Chúng tôi phân loại theo cấu trúc và chức năng.
Mối quan hệ giữa phát ngôn hỏi và trả lời: Hỏi và đáp là hai mặt thống nhất, thể hiện
trên nhiều bình diện như chức năng giao tiếp, nhận thức, khung tình thái, hình thức cấu trúc,
nội dung mệnh đề….Hỏi và đáp cũng được coi như là một cặp hội thoại tương tác. Chúng
làm thành một thể thống nhất. Hỏi và trả lời luôn gắn bó với nhau chặt chẽ trong hoạt động
giao tiếp đối thoại. Trả lời xuất hiện là có hỏi. Hỏi và trả lời quyết định sự tồn tại cho nhau vì
hỏi là hình thức tìm kiếm kiến thức còn trả lời là phương thức cung cấp kiến thức.
1.4. Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài
Đối với việc thụ đắc tri thức ngôn ngữ
Việc coi cặp câu hỏi – trả lời như một cặp trao đáp và nghiên cứu cặp này có tác dụng là:
- Là đơn vị để nghiên cứu các đơn vị lớn hơn.
- Nhận thức đầy đủ hỏi – đáp trong mối tương quan của chúng. Từ đó thấy rõ mối quan
hệ giữa hỏi – trả lời.
- Nếu chỉ nghiên cứu câu hỏi như một đơn vị đơn thoại thì vô hình chung chúng ta đã
loại bỏ các yếu tố đặc thù của hội thoại như liên kết hội thoại, quan hệ liên nhân…và do đó
không thấy hết các thuộc tính cũng như giá trị của câu hỏi và câu trả lời.
- Nghiên cứu cặp thoại hỏi đáp là một loại cặp thoại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó
không chịu một sự ràng buộc, chi phối nào về vị trí trong cuộc thoại. Chúng ta có thể gặp cặp
PN hỏi – trả lời trong tất cả các đoạn thoại ( mở thoại, thân thoại, kết thoại) của một cuộc
thoại. Vì vậy, việc nghiên cứu nó rất độc lập và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác.
Đối với việc hình thành kỹ năng giao tiếp
Hỏi và đáp là một cấu trúc rất phổ biến trong giao tiếp. Vì vậy, đối với người học ngoại
ngữ, cụ thể là học tiếng Việt thì nắm vững các cấu trúc hỏi – đáp là một điều hết sức cần
thiết. Trong giao tiếp, không thể không có hỏi và trả lời, để có thể duy trì được cuộc thoại
một cách lâu dài thì việc sử dụng PN hỏi là một cách thiết thực và hiệu quả. Hỏi và trả lời là
hoạt động giao tiếp có tần số sử dụng rất cao trong các hội thoại hàng ngày. Chính vì lẽ đó
mà nghiên cứu hỏi đáp có ý nghĩa đối với việc giảng dạy và biên soạn giáo trình tiếng Việt
cho người nước ngoài. Nó giúp người dạy trình bày một cách hệ thống và giúp cho người
học hình thành được kỹ năng giao tiếp.
Trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài đã biên soạn từ những năm 1980

TQ là loại PN khá phổ biến và có cấu trúc rất cơ bản, rõ ràng và cụ thể. Trong các giáo trình
mà chúng tôi khảo sát thì loại PN này thường xuất hiện ngay trong những bài đầu và được
giải thích rất cụ thể trong các phần ngữ pháp. Từ số liệu của bảng trên thì thấy rằng: Tuy
không chiếm tỉ lệ quá cao nhưng các giáo trình đều có sự tương đồng về tỉ lệ. Trong đó có
các Q1, Q2, Q4, Q5, Q6, Q9 chiếm tỉ lệ trên 30%. Các quyển còn lại chiếm dưới 30%, nhưng
tỉ lệ không chênh lệch với nhau nhiều.
2.1.1.2. PN hỏi có từ nghi vấn
Đây là loại PN hỏi sử dụng các từ nghi vấn như: gì, ai, nào, khi nào, thế nào để tìm kiếm
các thông tin về người, vật, thời gian hay tính chất v.v Trong các phiếu mà chúng tôi khảo
sát thì loại PN hỏi này được sử dụng khá nhiều.
Trong đó có những quyển chiếm tỉ lệ rất cao là quyển số 3, với 72%. Nhưng cũng có
quyển chiếm tỉ lệ khá thấp, thấp nhất là quyển số 10 (13,2%). Ngoài ra, các quyển khác có tỉ
lệ khá tương đồng với nhau, chiếm trên 50% là Q1 (55,5%), Q2 (50%), Q5 (56,3%). Chiếm
dưới 50% là các quyển số 4, số 6, số 7, số 8 và số 9. Tuy loại PN này có tỉ lệ không đều nhau
giữa các giáo trình nhưng nhìn chung loại PN này lại chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các loại
PN chính danh mà chúng tôi khảo sát được. Điều này nghĩa là: Trong các cặp thoại hỏi đáp
thì việc sử dụng các từ nghi vấn để tìm kiếm thông tin là loại PN phổ biến nhất và được sử
dụng nhiều nhất.
Các PN hỏi có từ nghi vấn được sử dụng trong các giáo trình này có thể kể ra một số ví
dụ như:
1) H: Anh Nam đang đọc gì?
Đ: Anh Nam đang đọc báo.
2.1.1.3. PN hỏi lựa chọn
Loại PN hỏi này nêu ra hai khả năng để người nghe chọn lựa. Trong cấu trúc của loại này có
sử dụng các dạng như: A hay B, A hoặc B
Loại PN hỏi lựa chọn không phải là loại chiếm tỉ lệ cao. Thậm chí loại này chiếm tỉ lệ
thấp nhất trong các loại PN. Và có những quyển không có loại PN này trong các cặp thoại hỏi
đáp mà chúng tôi khảo sát được như Q8, Q10. Những quyển khác tuy có xuất hiện loại PN
này nhưng tỉ lệ cũng không nhiều. Nhiều nhất là Q9 với 3,7%. Các quyển còn lại chỉ có tỉ lệ
dưới 2%.

Tuy vậy, vẫn có một số câu đáp không có cấu trúc cụ thể và rõ ràng, các câu đáp đó phải dựa
vào ngữ cảnh và nội dung mới có thể phân loại được. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá
và phân loại những trường hợp đặc biệt ấy trong chương 3 của luận văn.
2.2.1.2. PN đáp của PN hỏi có từ nghi vấn
Các PN hỏi có từ nghi vấn có mục đích tìm kiếm thông tin cụ thể về người, vật, thời
gian, tính chất , do đó PN đáp là cung cấp thông tin cần thiết cho PN hỏi nhằm thỏa mãn
những điều này. Theo đánh giá và phân loại thì chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tỉ lệ của loại PN đáp này không hoàn toàn tương ứng với tỉ lệ của PN hỏi vì không
phải tất cả các PN hỏi có từ nghi vấn đều có câu trả lời thỏa mãn với nội dung của câu hỏi.
Do vậy, số phiếu mà chúng tôi thống kê được về loại PN đáp này thấp hơn so với PN hỏi
cùng loại .
2.2.1.3. PN đáp của PN hỏi lựa chọn
Để đáp lại loại PN hỏi này thì người hỏi đã đưa ra hai phương án để lựa chọn. Do vậy, người
đáp chỉ cần lựa chọn một trong hai phương án. Đây là loại PN hỏi và đáp có tỉ lệ tương ứng
tương đối cao.
Theo tỉ lệ như vậy thì có thể thấy rằng: Đối với PN hỏi lựa chọn thì các PN đáp thường
đáp ứng được thông tin mà câu hỏi cần. Do đó PN đáp cho loại PN hỏi này phần lớn là PN
đáp trực tiếp.
2.2.1.4. PN đáp của PN hỏi chứa TTTT
Các PN hỏi chứa TTTT thường không có một dạng trả lời nhất định (xét về mặt hình thức).
Nghĩa là các PN hỏi có chứa TTTT như: à, ư, nhỉ, nhé không phải luôn luôn trả lời là ừ /
vâng, không
Nhưng xét về mặt nội dung thì có thể phân loại chúng. Theo nội dung có thể phân loại dựa
vào thông tin trực tiếp mà PN đáp cung cấp. Nếu nó thỏa mãn được yêu cầu mà PN hỏi cần
thì chúng tôi vẫn xếp vào loại PN đáp trực tiếp cho câu hỏi chính danh. Do đó, kết quả khảo
sát mà chúng tôi có được về loại PN đáp cho PN hỏi có chứa TTTT là: Đối chiếu giữa PN hỏi
thuộc loại này thì PN đáp có tỉ lệ khá ngang bằng.
2.2.2. Đặc điểm phân bố của các loại PN đáp trong các giáo trình
Vì câu đáp luôn phải đi cùng với câu hỏi. Có câu hỏi thì mới có câu đáp, do đó mà sự phân
bố của PN đáp trong các giáo trình cũng giống như sự phân bố của các loại PN hỏi trong các

Trong khi khảo sát và phân loại, chúng tôi cũng gặp những loại PN hỏi này, tuy nhiên tỉ lệ
của các loại PN hỏi này so với các PN hỏi chính danh là rất thấp.
Loại PN hỏi không chính danh xuất hiện ở hầu hết các giáo trình, từ cơ sở đến nâng cao.
Tuy nhiên, tỉ lệ của loại PN hỏi không chính danh ở mỗi giáo trình là khác nhau. Có thể thấy
rằng các loại PN hỏi không chính danh xuất hiện nhiều ở các giáo trình trình độ nâng cao,
còn các giáo trình ở trình độ cơ sở thì các loại PN hỏi không chính danh cũng xuất hiện
nhưng chiếm tỉ lệ rất ít.
3.1.2. Phân loại ý nghĩa của các PN hỏi không chính danh
3.1.2.1. PN hỏi có giá trị phỏng đoán
Đây là loại PN hỏi thể hiện sự nghi ngờ hay đoán định hoặc thể hiện thái độ không chắc
chắn, phân vân về một sự kiện, hành động nào đó. Chúng ta có thể nhận ra loại PN hỏi này
thông qua việc xác định những từ, cụm từ đặt trước một cú. Chẳng hạn những cụm từ như:
liệu, phải chăng, chẳng lẽ, hay là, không biết v.v hay những cụm từ để kết thúc như: chăng,
không biết, không nhỉ v.v
Chẳng hạn như:
1) H: Tôi đã đọc một số bài thơ ca ngợi sông Hương. Sông Hương chắc đẹp lắm?
Đ: Vâng. Sông Hương rất đẹp.
3.1.2.2. PN hỏi có giá trị khẳng định
Đây là loại PN hỏi không chính danh phổ biến thứ hai sau loại PN hỏi có giá trị phỏng
đoán. Loại PN hỏi này được dùng để thực hiện hành vi khẳng định. Chức năng dụng học của câu
hỏi này là nhằm khẳng định lại một sự vật, hiện tượng được thừa nhận là tồn tại. Về mặt hình
thức thì loại PN hỏi này có sự xuất hiện của các từ / cụm từ như: chứ đâu, chứ ai, chứ sao, chẳng
phải sao?, không là gì? v.v
1) H: Anh đang bận?
Đ: Không, hôm nay tôi nghỉ.
3.1.2.3. PN hỏi có giá trị phủ định
Đây là loại PN mang hành vi điển hình của câu trần thuật nhưng lại mang chiều hướng phủ
định. Hình thức của loại PN nghi vấn phủ định khá phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên khi khảo sát thì chúng tôi thấy loại PN này ít được sử dụng. Nó chỉ xuất hiện trong
vài giáo trình ở trình độ nâng cao. Nhưng các loại PN hỏi như vậy chỉ xuất hiện đơn lẻ chứ

một trong hai phương thức cơ bản đó là đáp trực tiếp hoặc đáp gián tiếp. PN đáp trực tiếp
thường cung cấp những thông tin vào đúng mục đích mà PN hỏi yêu cầu hoặc cung cấp thông
tin một cách trực tiếp. Trong khi đó thì PN đáp gián tiếp thường không cung cấp trực tiếp
thông tin mà PN hỏi cần. Đó có thể là những câu đáp vòng vo, không cụ thể, không rõ ràng
hoặc chưa cung cấp được những thông tin cho câu hỏi.
3.2.2. Các loại PN đáp gián tiếp
3.2.2.1. Đáp bằng cách hỏi lại
Đáp bằng câu hỏi là một loại đáp phổ biến nhất trong các loại câu đáp gián tiếp. Cách đáp
này xuất hiện ở hầu hết các giáo trình, từ cơ sở đến nâng cao. Trong các cặp thoại hỏi đáp mà
chúng tôi khảo sát được thì PN đáp gián tiếp là câu hỏi chiếm tỉ lệ rất cao. Trong các PN đáp
bằng cách hỏi lại có nhiều mục đích khác nhau. Đó có thể là xác nhận lại thông tin của PN hỏi
khi người nghe chưa rõ câu hỏi hoặc chưa rõ nội dung mà PN hỏi cần. Chẳng hạn như:
1) H: Có xa lắm không ông?
Đ: Hả? Cái gì? Xa hả? Cô đi bộ được, không cần xe.
3.2.2.2. Đáp bằng cách khẳng định
Đáp bằng cách khẳng định là cách đáp mà người đáp cung cấp thông tin cho PN hỏi
bằng cách nhấn mạnh hoặc khẳng định lại thông tin. Thông qua các cấu trúc thể hiện ý nghĩa
nhấn mạnh thì ta có thể hiểu được nội dung ngầm ẩn của câu đáp. Loại PN này cũng được
chúng tôi đưa vào loại PN đáp gián tiếp. Ví dụ: quyển số 8, trang 86:
H: Bạn đã đi chùa Hương bao giờ chưa?
Đ: Ồ, ai đã một lần đến Việt Nam mà chẳng biết đến chùa Hương, một thắng cảnh kỳ
thú ở nước này.
3.2.2.3. Đáp bằng cách phủ định
Không chỉ có PN đáp bằng cách khẳng định mà chúng tôi cũng khảo sát được những
PN đáp có ý nghĩa phủ định. Đáp bằng cách phủ định là cách đáp mà trong đó có sử dụng
những cấu trúc có ý nghĩa phủ định. Trong các giáo trình mà chúng tôi khảo sát thì chúng tôi
thấy phần ngữ pháp có giới thiệu rất nhiều cấu trúc phủ định. Ví dụ:
1) H: Cô Lan yêu anh Trung phải không?
Đ: Yêu với đương gì.
3.2.2.4. Đáp bằng cách cầu khiến

của cặp thoại, chứ không thể chỉ dựa vào đặc điểm về mặt hình thức. Chính vì vậy, việc khảo
sát và phân loại được chúng tôi tiến hành rất kỹ và tỉ mỉ. Kết quả này đem lại cho chúng tôi
lợi ích rất lớn trong việc biên soạn, sắp xếp các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh thành
một hệ thống. Để từ đó, chúng tôi có thể sử dụng cho việc biên soạn và giảng dạy các cặp
thoại không chính danh một cách hợp lý và dễ hiểu nhất.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong luận văn này, chúng tôi đã đi sâu vào khảo sát và phân tích cặp thoại hỏi – đáp
trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Từ những kết quả mà chúng tôi khảo sát
được, chúng tôi hy vọng có thể giúp cho cả người học lẫn người dạy có một hệ thống cơ bản
về cặp thoại hỏi – đáp để vận dụng một cách hiệu quả nhất trong việc biên soạn giáo trình
cũng như giảng dạy.
Qua khảo sát 10 cuốn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài ( 5 cuốn cơ sở và 5
cuốn nâng cao) thì chúng tôi có những nhận xét như sau:
- Đối với giáo trình cơ sở: Các cặp thoại hỏi – đáp chủ yếu xuất hiện ở dạng chính danh.
Trong các giáo trình này có phần ngữ pháp giải thích rất rõ và cụ thể về cấu trúc, hình thức của các
câu hỏi. Tuy nhiên, các phần giải thích ngữ pháp chỉ tập trung vào câu hỏi mà chưa có phần giải
thích cho câu đáp.
- Đối với giáo trình nâng cao: Các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh xuất hiện
nhiều hơn. Điều này cũng dễ hiểu vì ở trình độ cao, người học cần phải được tiếp cận với
những mục đích khác nhau của hỏi và đáp. Chính vì thế các PN hỏi đáp hàm ẩn nhiều mục
đích khác nhau, khiến người ta phải suy luận là cần thiết cho những người học ở trình độ cao.

2. Một số kiến nghị cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy các cấu trúc hỏi – đáp
- Dựa vào những nhận xét chung mà chúng tôi đã đưa ra ở trên thì việc biên soạn giáo
trình sẽ vận dụng những ưu điểm của các giáo trình này. Qua đó, chúng tôi sẽ tiến hành sắp
xếp những cấu trúc hỏi – đáp chính danh theo trình độ giáo trình.
- Phần giải thích ngữ pháp sẽ tập trung vào cả mặt cấu trúc lẫn nội dung của các cặp
thoại. Cả phần hỏi lẫn phần đáp sẽ được chú trọng. Chúng tôi muốn sắp xếp các cấu trúc của

14. Lê Đông (1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr 23 –
26.
15. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi chính danh, Luận án PTS Ngôn
ngữ, ĐH QGHN.
16. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2002),
Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Nguyễn Thiện Giáp (2007), Dụng học Việt Ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
18. Phan Văn Giưỡng (1994), Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, National Library
of Australia.
19. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã
hội.
20. Nguyễn Chí Hòa (1993), Thử tìm hiểu Phát ngôn hỏi và Phát ngôn trả lời trong sự
tương tác lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr. 61 –
63.
21. Đỗ Thị Thúy Hoàn (2008). Khảo sát hệ thống bài luyện và bài tập trong một số sách
dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1980 đến nay, Luận văn thạc
sĩ, ĐH QGHN.
22. V.B Kasevich (1998), Những yếu tố cơ sở của Ngôn ngữ học đại cương, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
23. Nguyễn Văn Khang (1997), Giáo trình Tiếng Việt với vấn đề giảng dạy Tiếng Việt
cho người nước ngoài nhìn từ góc độ giao tiếp ngôn ngữ, NXBĐHQG, Hà Nội.
24. Nguyễn Lai (1997), Những bài giảng về Ngôn ngữ học đại cương, tập 1, NXB ĐHQG,
Hà Nội.
25. Nguyễn Thiện Nam (2001), Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và
những vấn đề liên quan, Luận án tiến sĩ ngữ văn, ĐHQGHN.
26. Hoàng Phê (chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển
học.
27. Võ Đại Quang (2000), So sánh đối chiếu các kiểu câu hỏi chính danh tiếng Anh và
tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa – ngữ dụng, ĐH KHXH – NV, HN.
28. Saussure, F.de (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Tổ ngôn ngữ học ĐHTH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status