ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THU LAN BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CÁC CẶP THOẠI HỎI –
ĐÁP TRONG SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THU LAN
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CÁC CẶP THOẠI HỎI –
1.1.4. Chức năng của các đơn vị hội thoại 11
1.2. Cặp thoại 13
1.2.1. Khái niệm 13
1.2.2. Đặc điểm của cặp thoại 13
1.2.3. Các loại cặp thoại 15
1.3. Cặp thoại hỏi - đáp 17
1.3.1. Khái niệm 17
1.3.2. Đặc điểm 18
1.3.3. Các loại cặp thoại hỏi – đáp 19
1.3.4. Mối quan hệ giữa phát ngôn hỏi và đáp 28
1.4. Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho
người nước ngoài 31
1.4.1. Khái quát về giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 31 1.4.2. Chức năng và yêu cầu 31
1.4.3. Nội dung (Bố cục) 32
1.4.4. Sự phân chia trình độ của giáo trình 33
1.4.5. Vai trò của cặp thoại hỏi đáp trong các giáo trình 35
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP CHÍNH DANH 38
2.1. Đặc điểm của các phát ngôn hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi đáp . 38
2.1.1. Đặc điểm hình thức của các phát ngôn hỏi được sử dụng 38
2.1.1.1. Phát ngôn hỏi tổng quát 38
2.1.1.2. Phát ngôn hỏi có từ nghi vấn………………………………………40
2.1.1.3. Phát ngôn hỏi lựa chọn 42
2.1.1.4. Phát ngôn hỏi có chứa tiểu từ tình thái 43
2.1.2 Đặc điểm phân bố của các loại phát ngôn hỏi trong các giáo trình 45
2.1.2.1. Phân bố phát ngôn hỏi theo từng giáo trình 45
2.1.2.2. Phân bố phát ngôn hỏi theo cấu trúc của giáo trình 47
2.1.2.3. Phân bố phát ngôn hỏi theo trình độ giáo trình 50
3.2.2.4. Đáp bằng cách cầu khiến 85
3.2.2.5. Đáp bằng cách nêu ra lý do hoặc cung cấp thêm thông tin để giải
thích, hoặc lảng tránh. 87
3.3. Sự tương hợp về mặt hình thức và nội dung của các cặp thoại hỏi –
đáp 89
3.4. Tiểu kết 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
[1, tr. 1] Tài liệu tham khảo số 1, trang 1 trong danh mục Tài liệu
tham khảo.
[Q1, tr. 1] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1
trong danh mục những giáo trình tiếng Việt cho người
nước ngoài được khảo sát.
[Q1, tr. 1, BT. 2] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1, bài
tập số 2 trong danh mục những giáo trình tiếng Việt cho
người nước ngoài được khảo sát.
[Q1, tr. 1, TH. 3] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1,
phần thực hành số 3 trong danh mục những giáo trình
tiếng Việt cho người nước ngoài được khảo sát.
Đ Đáp
H Hỏi
PN Phát ngôn
Q Quyển
TQ Tổng quát
TTTT Tiểu từ tình thái
hình đất nước, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam.
Chính vì lẽ đó mà Việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ở Việt Nam
cũng như ở nhiều nước trên thế giới ngày càng được mở rộng. Nhu cầu học
tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng nhiều. Để đáp ứng với nhu cầu
của xã hội và yêu cầu của công tác dạy tiếng, nhiều giáo trình dạy tiếng Việt
cho người nước ngoài đã được biên soạn. Các giáo trình được biên soạn, (xuất
bản ở trong và ngoài nước ) thời kỳ đầu những năm 70, 80 của thế kỷ XX, nói
chung nặng về cung cấp những kiến thức lý thuyết . Nhưng những giáo trình
xuất bản trong những năm gần đây dần dần đã có sự thay đổi theo hướng
nhấn mạnh giao tiếp. Chẳng hạn như: trong mỗi giáo trình đều thiết kế nhiều
bài hội thoại, bài luyện, bài tập cho phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, Và mỗi
bài đều gắn với những tình huống cụ thể hơn.
Có thể nói, đối với việc dạy tiếng nói chung và dạy tiếng Việt cho người
nước ngoài nói riêng, giáo trình được coi là tài liệu cần thiết cho việc lên
chương trình đào tạo. Có giáo trình thì cả người học lẫn người dạy sẽ lên
được kế hoạch một cách cụ thể hơn trong việc dạy cũng như việc học. Một
giáo trình tốt, thiết thực sẽ góp phần mang lại hiệu quả học tập cao. Để làm
nên một giáo trình như thế thì phải xây dựng rất nhiều phần như hội thoại, từ
vựng, ngữ pháp, bài tập, bài luyện…
2
Với mong muốn là có thể đóng góp một phần trong việc xây dựng giáo
trình giao tiếp tiếng Việt hiệu quả hơn cho người nước ngoài. Luận văn muốn
tập trung vào khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp. Để từ đó rút ra những gì chung
nhất, cụ thể nhất cho việc xây dựng và phát triển hội thoại. Đây chính là lý do
mà tôi chọn đề tài này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên thực tế, qua quá trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và
đã sử dụng rất nhiều giáo trình khác nhau, tôi nhận thấy: Cấu trúc của một
giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, trên đại thể có bốn phần chính là
quả hơn.
Luận văn sẽ khảo sát hành vi hỏi cũng như hành vi trả lời trong các cặp
thoại. Sau đó tiến hành phân loại các hành vi hỏi và hành vi trả lời về mặt
hình thức và chức năng. Sau quá trình phân loại sẽ nhận xét, đánh giá hiện
trạng phân bố của các hành vi này theo trình độ của giáo trình cũng như theo
cấu trúc của giáo trình. Quá trình này có mục đích cơ bản là tìm ra những
cách thức chung nhất, những cái nhìn tổng quan nhất về quá trình phát triển,
ứng dụng những phương pháp biên soạn hội thoại trong các sách dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài. Ngoài ra, luận văn cũng hy vọng sẽ tìm ra những
điểm mạnh cũng như những điểm hạn chế của từng giáo trình, từng giai đoạn.
Qua đó có thể phát huy hay khắc phục những hạn chế vào việc biên soạn giáo
trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Để ngày càng có nhiều giáo trình
mang tính ứng dụng cao, thiết thực với việc dạy và học.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là:
- phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
4
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp so sánh
5. Tư liệu
Luận văn tiến hành khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy
tiếng Việt cho người nước ngoài được xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80
của thế kỷ XX trở lại đây. Bao gồm một số giáo trình sau:
1. Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (I), Trường Đại học Tổng hợp,
Hà Nội 1980.
2. Tiếng Việt cho người nước ngoài, Bùi Phụng, Nxb Đại học &Trung
học chuyên nghiệp, 1992.
3. Tiếng Việt cơ sở, Vũ Văn Thi, Nxb KHXH, 1996.
3.2. Đặc điểm của các PN đáp trong các cặp thoại không chính danh
3.3. Sự tương hợp về mặt hình thức và nội dung của cặp thoại hỏi – đáp
3.4. Tiểu kết.
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Hội thoại còn là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức mới mẻ ở Việt Nam,
mới mẻ cả về nội dung lẫn phương pháp nghiên cứu. Việc xây dựng một lý
thuyết hoàn chỉnh về lĩnh vực này là một mục tiêu của ngữ dụng học. Vì vậy
việc đưa ra một khái niệm chính xác về hội thoại là điều rất khó. Tuy nhiên,
trong một số giáo trình ngữ dụng học, các tác giả cũng đã đưa ra được một số
khái niệm chung nhất.
Có thể đưa ra đây một số khái niệm như: “ Hội thoại là hình thức giao
tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của
mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [7, tr.201]. Hay theo Nguyễn Đức Dân thì: “
ẩn đằng sau các lời thoại, thể hiện qua những hành vi tại lời hay qua những
hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Ví dụ khi mua bán, hỏi đường đi, hỏi thời
gian……mục đích được thể hiện tại lời. Mục đích của cuộc thoại cũng có thể
nằm ở ngoài lời. Chẳng hạn những lời bắt chuyện, làm quen, làm lành, hỏi để
thể hiện tình cảm nhằm đạt tới những mục đích khác nhau… “Các cuộc hội
thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích” [7, tr.228]. Những cuộc
hội thoại như thương thuyết ngoại giao hay hội thảo khoa học có đích được
xác định trước rõ ràng. Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích. Tuy
nhiên, do hoạt động của con người thì tự chúng đã có đích cho nên nói hội
thoại có đích hướng ngoại, phân biệt với hội thoại có đích hướng nội hơn là
nói hội thoại có đích hay là không có đích.
Bên cạnh những đặc điểm nội tại, Nguyễn Đức Dân còn đưa ra những
đặc điểm bên ngoài và thể hiện trên ba phương diện: số lượng, quan hệ và chu
8
cảnh. Về số lượng hội thoại thì mỗi cuộc hội thoại đều có giới hạn ở một số
lượng người nhất định tham dự, tạo thuận tiện cho sự trao đổi. Số lượng nhân
vật hội thoại thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc hội thoại
tay đôi hay còn gọi là song thoại, tay ba ( trilogue), tay tư hoặc nhiều hơn nữa
(đa thoại – polylogue). Những cuộc hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ
học, một cuộc mít tinh v.v… thì số lượng nhân vật không thể cố định được.
Về quan hệ giữa những người tham dự: Trong hội thoại không cần trước
một quan hệ cá nhân. Nghĩa là trong hội thoại đã giả định một quan hệ bình đẳng
giữa những người tham dự. Một khi đã có sẵn một quan hệ cá nhân giữa những
người tham dự, thì quan hệ này có vai trò không nhỏ đến quá trình hội thoại.
Về chu cảnh của những cuộc thoại, có hai phương diện chính là thời gian
và không gian. Về thời gian, những người tham dự có cùng một thời lượng.
Không thể nói trước được một cuộc thoại sẽ kéo dài bao lâu, tối thiểu cũng
như tối đa. Tuy nhiên có những cuộc thoại mà thời lượng đã được ngầm xác
định từ trước. Ví dụ: có những cuộc trao đổi trên bến xe, thang máy, phòng
chúng vẫn có những cái gì chung về cấu trúc. Có ba trường phái có quan điểm
khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là trường phái phân tích hội thoại ở
Mĩ (conversation analysis), thứ hai là trường phái phân tích diễn ngôn
(discourse analysis) ở Anh và thứ ba là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy
sĩ và Pháp.
a. Theo trường phái phân tích hội thoại thì cấu trúc của hội thoại
bao gồm:
- Đơn vị hội thoại
- Cặp kế cận
- Cấu trúc được ưa thích
- Cặp chêm xen
10
b. Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn gồm có
- Cấu trúc bậc của hội thoại
- Hành vi
- Bước thoại
- Cặp thoại
- Đoạn thoại và bài học
c. Cấu trúc hội thoại theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp gồm các loại
- Các đơn vị hội thoại
- Cuộc thoại
- Đoạn thoại
- Cặp trao đáp (cặp thoại)
- Tham thoại
- Hành vi ngôn ngữ
Có thể thấy rằng các nhà hội thoại học Thụy Sĩ và Pháp đã tổng hợp và
phát triển theo cách riêng của mình từ những thành tựu của lý thuyết phân
tích hội thoại và phân tích diễn ngôn, từ đó xây dựng nên một quan niệm về
cấu trúc hội thoại khá toàn diện. Dựa trên sự phân chia của lý thuyết hội thoại
vai trò mà các đơn vị hội thoại đảm nhiệm trong diễn tiến của cuộc thoại. Cụ
thể là các chức năng sau:
1.1.4.1. Chức năng dẫn nhập và hồi đáp
“ Giữa các tham thoại trong cặp thoại có chức năng dẫn nhập và hồi
đáp. Cần chú ý trong cặp thoại ba tham thoại, chỉ tham thoại thứ nhất mới có
chức năng dẫn nhập và tham thoại thứ ba kết thúc mới có chức năng hồi đáp.
Còn tham thoại ở giữa vừa có chức năng hồi đáp vừa có chức năng dẫn
nhập.” [6, tr.125].
12
Ví dụ:
- Sp1a: Thế nào? Khỏe ra chứ?
- Sp2a: Cảm ơn thày, em đỡ rồi ạ.
- Sp1b: Trông anh gầy đi nhiều đấ
[Q6, tr.131]
Tham thoại Sp2a vừa hồi đáp cho Sp1a, vừa dẫn nhập cho Sp1b. Nhìn
chung, khi cuộc thoại diễn tiến không ngắt quãng, các tham thoại thường đảm
nhiệm cả hai chức năng hồi đáp và dẫn nhập nếu người thoại không đưa ra
một tham thoại dẫn nhập mới.
1.1.4.2. Chức năng triển khai cuộc thoại
Mở thoại, kết thoại, triển khai thân thoại, tiền dẫn nhập là những chức
năng của tham thoại và của cặp thoại trong cuộc thoại.
Trong một cuộc nói chuyện, người ta có thể trao đổi hết vấn đề này sang
vấn đề khác. Nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Chúng làm
nên ranh giới của một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn
do một bên chủ động. Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra, gọi là kết
thoại. giữa phần mở thoại và phần kết thoại là phần trung tâm của cuộc thoại
gọi là phần thân thoại.
1.1.4.3. Chức năng điều chỉnh
Điều chỉnh là chức năng của tham thoại và của cặp thoại có tác dụng
hồi đáp, thỏa mãn các đặc trưng tuyến tính, đặc trưng kế cận và đặc trưng tích
cực/tiêu cực. Cụ thể các đặc trưng như sau:
1.2.2.1. Đặc trưng tuyến tính
Trong hội thoại, tuyến tính được quan niệm không chỉ là sự kế tiếp trong
thời gian của các đơn vị trong diễn ngôn, mà còn là sự luân phiên, nghĩa là
chúng bị quy ước bởi các quy tắc. “Các cặp thoại không phải được nói ra một
14
cách ngẫu nhiên, tùy tiện. Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy tắc
chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại, việc gì sẽ dẫn tới việc gì,
ai nói và sẽ nói khi nào.” [9, tr. 96]
Đặc điểm chung của quan hệ trao đáp trước hết phản ánh quan hệ tuyến
tính trong cặp thoại. Trong cặp thoại, tham thoại dẫn nhập phải có trước tham
thoại hồi đáp. Dẫn nhập có chức năng định hướng cho hồi đáp, hồi đáp có
chức năng giả định cho dẫn nhập, đó cũng chính là cái lõi của hội thoại.
1.2.2.2. Tính kế cận
“Hai tham thoại tương tác với nhau làm thành cặp kế cận. Tính kế cận
được hiểu là sự tương thích của các tham thoại trong quan hệ trao đáp và là
một thuộc tính phổ biến của mọi cặp thoại” [30, tr. 71]. Như vậy, tính kế cận
ở đây có thể hiểu được là mức độ tương ứng giữa các hiệu lực dẫn nhập và
hồi đáp. Cần phân biệt tính kế cận với tính chất tuyến tính. Tính kế cận không
đồng nhất với tính chất tuyến tính. Các tham thoại ở những vị trí liền nhau tức
là có sự kế tiếp từ dẫn nhập sang hồi đáp sẽ làm thành cặp kế cận, nhưng
không phải cặp thoại nào cũng đều có sự liền kề của các tham thoại.
1.2.2.3. Đặc trưng tích cực / tiêu cực
Khi một cặp thoại thỏa mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là
một cặp thoại tích cực. Cặp thoại tích cực là những cặp thoại bình thường và
người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó. Còn cặp thoại tiêu cực là khi tham
thoại hồi đáp đi ngược lại với đích của tham thoại dẫn nhập. Cụ thể những
cặp thoại sau đây được coi là tích cực: ra lệnh – tuân lệnh, yêu cầu – chấp
Để cụ thể hóa các cặp thoại thì đã có nhiều nghiên cứu để xây dựng các
mô hình dựa vào các kiểu câu chia theo mục đích phát ngôn. Trong đó có thể
tổng kết thành các loại như: trần thuật – trần thuật, trần thuật – hỏi, hỏi –
mệnh lệnh, hỏi – cảm thán, mệnh lệnh – trần thuật, mệnh lệnh – hỏi v.v…
16
Các mô hình này thực chất là sự cụ thể hóa bằng các đơn vị ngữ pháp
biểu hiện trên bề mặt các phát ngôn. Đây là những cặp thoại hai tham thoại
đơn giản, phổ biến trong thực tế giao tiếp.
Nhưng qua nhiều khảo sát từ các đề tài nghiên cứu về cặp thoại thì tần số
xuất hiện của câu hỏi có vai trò dẫn nhập chiếm tỉ lệ cao nhất trong giao tiếp
hàng ngày. Đây cũng chính là lý do mà luận văn muốn chọn để khảo sát.
1.2.3.3. Cặp thoại ba tham thoại
Thường thì hai tham thoại trong một cặp là đủ. Nghĩa là chỉ cần có tham
thoại dẫn nhập và hồi đáp là đủ. Tuy vậy, mỗi tham thoại hồi đáp đều tiềm
tàng khả năng dẫn nhập mà từ đây hội thoại sẽ được triển khai. Cấu trúc điển
hình của loại này là:
Sp1: Dẫn nhập 1
Sp2: Hồi đáp
Sp1: Dẫn nhập 2
Ví dụ:
Sp1: Hôm nay là thứ mấy?
Sp2: Thứ năm
Sp1: Thứ năm à?
1.2.3.4. Cặp thoại phức tạp
Sự phức tạp ở đây không chỉ là do có nhiều tham thoại mà ngay cả khi
có ít tham thoại nhưng chúng lại có nhiều hành vi với nhiều mối quan hệ
chồng chéo nhau.
Có thể là trong lời dẫn nhập có nhiều tham thoại nhưng trong lời hồi đáp
lại chỉ có một tham thoại
Nói ra điều cần được chỉ dẫn hoặc cần làm sáng tỏ. 2.Yêu cầu được đáp ứng.
3. Kiểm tra kiến thức” [35, tr.728]. Còn khái niệm đáp được giải thích với các
18
nghĩa là: “1. Trả lời. 2. Ủng hộ, đồng tình bằng hành động, việc làm cụ thể”.
[35, tr. 481]
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông [33, tr.400], cũng giải thích hỏi theo
các nghĩa sau: “1. Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu
được trả lời. 2. Nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu
cầu được đáp ứng. 3. Nói lời chào, thăm khi gặp nhau, theo phép xã giao,
chào hỏi”.Còn đáp được giải thích là: “1. Trả lời. 2. biểu thị bằng hành động,
thái độ trước yêu cầu, việc làm hoặc thái độ tốt của người khác.” [33, tr.260]
Như vậy xét về đặc điểm chung của các cách giải thích trên có thể tổng
quát được các cách hiểu như sau: hỏi là đưa ra yêu cầu và cần được đáp ứng,
hoặc trả lời. Còn đáp là trả lời cho những yêu cầu được đưa ra. Như vậy
chúng ta cũng có thể hiểu cặp thoại hỏi đáp là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của
cuộc thoại trong đó lượt lời thứ nhất là đưa ra yêu cầu cần được trả lời, còn
lượt lời thứ hai là trả lời cho những yêu cầu của lượt lời thứ nhất. Trong luận
văn này, chúng tôi cũng thống nhất sử dụng cách dùng phát ngôn hỏi và phát
ngôn đáp để thể hiện sự trao đáp trong giao tiếp thay cho câu hỏi và câu đáp.
Vì phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp.
1.3.2. Đặc điểm
Cặp thoại hỏi – đáp thực chất là một loại của cặp thoại, vì vậy nó cũng
mang đầy đủ các đặc điểm của một cặp thoại như đặc trưng tuyến tính, tính kế
cận, đặc trưng tích cực và tiêu cực. Do đó về những đặc điểm này không cần
phân tích rõ hơn nữa mà trong phần này luận văn sẽ đề cập đến tính chất hỏi
và đáp của cặp thoại.
Hỏi và đáp thực chất là hai mặt của một quá trình thống nhất, nó là tiền
đề tồn tại của nhau. Hỏi và trả lời gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Sự thống nhất
về chức năng của hai mặt hỏi và trả lời trong quá trình giao tiếp nhận thức có