2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ ÁNH TUYẾT
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH
CÂU HỎI CHÍNH DANH ANH- VIỆT VỀ MẶT
CẤU TRÚC-NGỮ NGHĨA
( TRÊN CƠ SỞ TƯ LIỆU LOẠI CÂU HỎI CÓ TỪ HỎI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội-2010
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ ÁNH TUYẾT
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ về câu hỏi 9
1.1.1.Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ nước ngoài về câu hỏi trong
tiếng Anh 10
1.1.2. Quan điểm của các nhà ngôn ngữ Việt Nam về câu hỏi 11
1.2. Câu hỏi có từ hỏi 14
1.2.1. Câu hỏi có từ hỏi trong tiếng Anh 14
1.2.1.1. Tác tử hỏi 14
1.2.1.2 Sự hình thành câu hỏi có từ hỏi 16
1.2.1.3. Đặc điểm của câu hỏi có từ hỏi 18
1.2.2. Câu hỏi có từ hỏi trong tiếng Việt 22
1.3. Câu hỏi chính danh có từ hỏi 25
4
1.4. Khái niệm cấu trúc-ngữ nghĩa của câu 27
1.5. Câu hỏi chính danh có từ hỏi trên bình diện phân tích đối chiếu 29
1.6. Cách tiếp cận nghiên cứu câu hỏi trong luận văn 32
1.7. Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC-NGỮ NGHĨA
CÂU HỎI CHÍNH DANH CÓ TỪ HỎI ANH- VIỆT
2.1 . Cấu trúc- ngữ nghĩa câu hỏi chính danh có từ hỏi tiếng Anh 38
2.1.1. Khuôn hỏi chứa từ hỏi WHAT 38
2.1.1.1.WHAT có chức năng chủ ngữ 38
2.1.1.2. WHAT có chức năng bổ ngữ 39
2.1.2 . Khuôn hỏi có từ hỏi WHICH 42
2.1.3. Khuôn hỏi có chứa từ hỏi WHY 44
2.1.4. Khuôn hỏi chứa từ hỏi WHERE 44
2.1.5. Khuôn hỏi chứa từ hỏi WHEN 46
3.2.2.3. Chuyển dịch bằng cách thay đổi cấu trúc ngữ pháp từ ngôn
ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích 80
3.2.2.4. Chuyển dịch bằng cách lược bỏ bớt 81
3.2.2.5. Chuyển dịch bằng cách thêm từ 82
3.2.2.6. Chuyển dạng câu hỏi 83
3.2.2.7. Thay thế toàn bộ 83
3.2.2.8. Chuyển cấu trúc bị động thành chủ động 84
6
3.2.2.9. Dịch tương đương văn hóa 84
3.3. Tiểu kết 85
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
7
trình nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch về cấu trúc- ngữ nghĩa của câu hỏi có từ
hỏi một cách hệ thống để giúp cho người Việt nam học tiếng Anh và người nước
ngoài học tiếng Việt. Chúng tôi chọn đề tài này mong góp thêm một tiếng nói
vào việc tháo gỡ vấn đề này.
Bằng việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch kiểu loại câu hỏi chính danh
có từ hỏi tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu trúc-ngữ nghĩa, luận văn sẽ
cung cấp các đặc trưng cấu trúc – ngữ nghĩa cơ bản của kiểu loại câu hỏi này
trong hai thứ tiếng. Việc nắm vững các đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa của từng
loại câu hỏi sẽ giúp cho các bên tham gia hội thoại chủ động, tự tin hơn và kết
quả của cuộc thoại thành công hơn.
Kết quả này sẽ đem lại một nhận thức đầy đủ hơn về hệ thống câu hỏi
chính danh, và với hy vọng những vấn đề nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc dịch
thuật, dạy tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài nói
tiếng Anh. Về phía chúng tôi, với tư cách là một người làm công tác giảng dạy
tiếng Anh và nghiên cứu ngôn ngữ thì việc thực hiện đề tài nghiên cứu đối chiếu
chuyển dịch tiếng Anh với tiếng mẹ đẻ sẽ giúp chúng tôi có thêm những hiểu
biết để hoàn thành tốt công việc chuyên môn của mình.
Chính vì những lẽ trên mà chúng tôi lựa chọn đề tài : Phân tích đối chiếu
chuyển dịch câu hỏi chính danh Anh- Việt về mặt cấu trúc- ngữ nghĩa (Trên
cơ sở tư liệu loại câu hỏi có từ hỏi) 9
2 . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tập trung vào việc đối chiếu chuyển
dịch câu hỏi chính danh có từ hỏi Anh –Việt trên bình diện cấu trúc- ngữ nghĩa.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cấu trúc- ngữ nghĩa của câu hỏi
chính danh có từ hỏi nhằm mục đích chuyển dịch chứ không chứ không phải là
ngữ nghĩa hay các lớp nghĩa của câu hỏi. Luận văn sẽ phân tích sự biểu hiện
nghĩa của câu hỏi qua các phương tiện ngữ pháp, từ vựng có sẵn trong câu hỏi.
4. Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo gồm có 3
chương :
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận
CHƯƠNG 2: Phân tích đối chiếu cấu trúc- ngữ nghĩa câu hỏi chính danh có từ
hỏi Anh- Việt
CHƯƠNG 3: Phương thức chuyển dịch câu hỏi chính danh có từ hỏi Anh -Việt 11
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ về câu hỏi
1.1.1. Một số quan điểm của các nhà ngôn ngữ nước ngoài về
câu hỏi trong tiếng Anh
Hỏi đã được xác định là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến, là thành tố
thường xuyên tham gia trong giao tiếp và trong nhận thức của con người. Câu
hỏi được tiếp cận từ nhiều quan điểm khác nhau và bổ sung nhau của các nhà
ngôn ngữ học Anh, Mỹ và nước ngoài. Wallace L. Chafe trong cuốn Ý nghĩa và
cấu trúc của ngôn ngữ (1998) đã tiếp thu quan điểm cấu trúc cú pháp của N.
Chomski cho rằng trong các ngôn ngữ có hàng loạt những hiện tượng khác loại
được thống nhất bằng một tên chung là “câu hỏi” (questions). Tuy nhiên câu hỏi
có phản ứng đáp lại nào đó. “ Câu hỏi là biểu thức ngôn ngữ mà qua đó người
nói có thể đưa ra tín hiệu và muốn nhận một phản hồi bằng lời thích hợp của
người nghe.” [22, tr. 284]. Các kiểu câu hỏi có thể phân biệt theo loại thông tin
được hỏi và kiểu trả lời có thể áp dụng cho câu hỏi. Những câu hỏi có từ hỏi có
mối quan hệ với các động từ hạn định theo kiểu chúng có thể được hiểu theo
13
nghĩa của một hoạt động cấu trúc của câu hỏi này, có thể là cấu trúc trung tâm,
trong đó thành tố nghi vấn trong câu hỏi có từ hỏi mang chức năng chính, xét về
bản chất. “Câu hỏi có từ hỏi bộc lộ được những đặc tính nổi bật nhất, cụ thể là
trong mối tương quan, một mặt với động từ hạn định, còn mặt khác với các cấu
trúc khuyết, có thể tách ra được….” [25-tr.258].
Roderick A. Jacobs trong cuốn “English syntax- A grammar for English
language professionals”(1995) đề cập đến một số chức năng của câu hỏi. Theo
tác giả, câu hỏi trước hết có một chức năng phổ quát là yêu cầu cung cấp thông
tin mà nó đòi hỏi. Bên cạnh đó, câu hỏi còn có thể thể hiện một lời yêu cầu, một
lời mời hoặc một sự đe dọa. Tác giả chia câu hỏi làm ba loại:
- Câu hỏi lựa chọn
- Câu hỏi đuôi
- Câu hỏi có từ hỏi
Quirk, R. và Greenbaum, trong cuốn “A university grammar of English”
(1985) dựa trên cơ sở nhận định về mối tương quan một đối một của truyền
thống giữa nội dung và hình thức, đã có cách nhìn khá đơn giản về câu hỏi. Câu
hỏi là những câu được đánh dấu bằng một trong ba tiêu chí sau :
- Vị trí trước chủ ngữ của tác tử:
Did you go to shool yesterday?
Have you got any brothers or sisters?
- Vị trí đầu câu của từ nghi vấn hay từ hỏi:
Ví dụ:
Where was she born?
Trước đây, trong các sách ngữ pháp, khi nghiên cứu về câu hỏi , các tác
giả thường ít chú ý đến xây dựng một định nghĩa chính xác và đầy đủ về câu hỏi
trong tiếng Việt mà chỉ xét câu hỏi như một hiện tượng thực tế của tiếng Việt.
Trần Trọng Kim trong cuốn “Việt Nam văn phạm” (1943) phân biệt câu hoài
nghi và câu nghi vấn, nhưng chỉ xét đến câu nghi vấn đại danh từ. Tác giả không
đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về câu hỏi mà chỉ viết: “ Câu hoài nghi biểu
diễn cái ý ngờ, không chắc hẳn.” “ Câu nghi vấn đại danh từ dùng để hỏi cho biết
là người nào hay vật gì đứng là chủ từ hay túc từ.” [21, tr.34]
Nguyễn Kim Thản trong cuốn “ Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt”
(1964) dùng thuật ngữ “câu nghi vấn” và cho rằng “ Câu nghi vấn nhằm mục
đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói chung đòi người nghe tường thuật
về đối tượng hay đặc trưng của đối tượng. Nó không chứa đựng phán đoán vì nó
chưa khẳng định hay phủ định gì cả, nó không thật mà cũng không giả”. Tác giả
đã phân câu nghi vấn tiếng Việt thành bốn loại:
- Câu nghi vấn chân chính
- Câu tự vấn
- Câu hỏi dồn
- Câu hỏi xác nhận
Hoàng Trọng Phiến khẳng định rằng “cho dù ở dưới dạng nào, trong nội
dung câu hỏi cũng làm nổi rõ một ‘cái không rõ’ mà câu hỏi cần hướng tới.”
[17, tr. 343]. Tác giả còn đưa ra một loại câu hỏi không cần có câu trả lời mà
nhằm đạt đến sự đồng tình của người nghe. Loại câu hỏi đó là câu hỏi tu từ.
16
Diệp Quang Ban định nghĩa về câu nghi vấn như sau: “ Câu nghi vấn
thường được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi sự trả
lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó, và về mặt hình thức câu nghi vấn cũng
có dấu hiệu đặc trưng nhất định” [1, tr.226]. Dựa vào phương thức cấu tạo nên
câu nghi vấn( trong sự đối chiếu với câu tường thuật), ông cho rằng tiếng Việt có
các loại câu hỏi sau:
các mệnh đề nghi vấn và phủ định có động từ chia theo ngôi và số đều cần một
động từ có chức năng như một tác tử trong bộ phận biến đổi để trở thành câu hỏi
chính thức. Trong ngữ pháp hóa câu hỏi tiếng Anh, các tác tử có nguồn gốc từ
loại động từ ba chức năng sau:
Thứ nhất, trong các dạng câu phủ định, loại động từ này đứng trước NOT
hoặc kết hợp với NOT nhằm thể hiện ý nghĩa phủ định.
Ví dụ:
I don’t like tea.
She isn’t watching TV at the moment.
Thứ hai, trong dạng câu hỏi yes/no (có/không), loại động từ này có khả
năng chuyển dịch quanh chủ ngữ và đứng đầu câu.
Ví dụ:
Do you /t/ like tea?
Is she/t/ watching TV at the moment?
18
/t/ dùng để chỉ vị trí trống của tác tử trước khi chuyển dịch về vị trí đầu
tiên trong câu khi trở thành câu hỏi.
Thứ ba, động từ với tư cách là một tác tử có thể xuất hiện ở phần đuôi của
câu hỏi tag questions ( câu hỏi đuôi).
Ví dụ:
You like tea, don’t you?
She isn’t watching TV at the moment, is she?
Tiếng Anh có hai loại tác tử sau:
(1) Tác tử thuần túy mang nghĩa cấu trúc- ngữ pháp ( primary
auxiliaries as operators): DO, HAVE, BE ở các dạng thời -thể
khác nhau như DO, DID, HAVE, HAD, AM, IS, ARE, WAS,
WERE …
Ví dụ:
What did you do yesterday?
Để xem xét một câu hỏi có từ hỏi được hình thành thế nào, trước tiên
chúng ta hãy xem xét câu kể: Joseph will bring Stella’s mother from Spain. Giả
sử người hỏi không biết Joseph sẽ mang ai đến, vậy sẽ có một câu hỏi được hình
thành để hỏi về thông tin này. Câu hỏi thỏa mãn nhu cầu thông tin này cần một
20
từ hỏi dạng –wh. Thủ tục tiếp theo là thay thế vị trí của Stella’s mother trong câu
gốc bằng who hoặc whom. Như vậy ta có :
Joseph will bring who (hoặc whom) from Spain.
Như đã nói ở phần trên, điều kiện để hình thành một câu hỏi nói chung là
cần phải có một tác tử. Trong ví dụ này, ta thấy động từ tình thái will có chức
năng là một tác tử. Bởi vậy will sẽ chuyển dịch quanh chủ ngữ.
Will Joseph [t] bring who (m) from Spain?
Nhưng câu này vẫn chưa đủ điều kiện để tạo thành một câu hỏi có từ hỏi
thông thường. Bước tiếp theo là cho từ hỏi dạng –wh di chuyển đến vị trí trống
của bổ tố (complementizer). Bước này được gọi là bước chuyển dịch từ hỏi dạng
–wh. Kết quả nhận được câu:
Who(m) will Joseph [t] bring[t] from Spain?
Có thể hình dung thủ tục tạo sinh ra các câu hỏi có từ hỏi khác một cách
tương tự như đã làm với câu hỏi vừa trình bày. Ví dụ, giả sử người hỏi không
biết Joseph đã đưa mẹ của ai từ Tây Ban Nha đến. Chúng ta có thể đưa từ hỏi về
sở hữu whose vào vị trí trống của từ hạn định trong danh ngữ Stella’s mother :
Joseph will bring whose mother from Spain. Tác tử được chuyển vào vị trí trống
trước chủ chủ ngữ Will Joseph [t] bring whose mother from Spain? Sau khi tác
tử được chuyển lên trước, từ hỏi chuyển ra vị trí ngoài của nó nhưng vì nó đang
ở vị trí trống của từ hạn định trong danh ngữ nên toàn bộ danh ngữ phải được
chuyển. Kết quả nhận được :
Whose mother will Joseph[t] bring [t] from Spain?
Trong hai ví dụ trên, vị trí trống là vị trí của bổ ngữ. Nếu vị trí trống là vị
trí chỉ địa điểm thì cụm từ hỏi về địa điểm sẽ được sử dụng. Trong cấu trúc của
Ví dụ:
Who did it?
How far is it from your house to school?
With what shall I mend it?
Theo Huddleston, quy tắc chung cho loại câu hỏi này là:
Bộ phận nghi vấn xuất hiện ở vị trí đầu tiên của câu
Từ nghi vấn đứng ở vị trí đầu tiên của bộ phận nghi vấn
Khi từ hỏi là chủ ngữ thì trật tự loại câu này giống như trật tự của câu kể,
không có đảo vị trí các thành phần câu.
Ví dụ:
Who took that?
Whose car is outside the door?
Trong các trường hợp khác thì trợ động từ phải đảo vị trí lên trước chủ
ngữ và đứng ở vị trí ngay sau từ hỏi. Trật tự câu hỏi là: từ hỏi- trợ động từ - chủ
ngữ.
Ví dụ:
He is working in the garden
=> Is he working in the garden?
Where is he working?
Tuy nhiên chúng ta thấy có ngoại lệ đối với câu hỏi có bổ ngữ giới từ. Đối
với loại câu hỏi này chúng ta có hai lựa chọn: giới từ đứng trước bổ ngữ hoặc bổ
ngữ đứng đầu câu, giới từ giữ nguyên vị trí như trong câu trần thuật.
23
Ví dụ:
To whom are you married?
Who are you married to?
Giới từ thường theo sau từ hỏi trong các câu hỏi ngắn:
Ví dụ:
Where to?
có từ hỏi.
Ví dụ:
Who on earth are you?
What the hell are you doing?
What in heaven’s name is he doing?
Trong các câu hỏi có giới từ đứng trước, phần nghi vấn là một bộ phận của
mệnh đề chính và cũng gián tiếp là bổ ngữ có giới từ nhưng nó cũng là một bộ
phận của định ngữ và định ngữ lại là bộ phận của mệnh đề chính. Chúng ta gọi
đây là thành tố nghi vấn chêm. Những ví dụ có phần nghi vấn được chêm vào
cấu trúc thành tố của câu như sau:
- Phần nghi vấn là bổ ngữ có giới từ trong cụm danh từ
Which professor did he marry the daughter of?
- Phần nghi vấn là phần của mệnh đề danh từ làm bổ ngữ
What do you want me to do?
25
Câu hỏi có từ hỏi là cấu trúc câu dùng để hỏi về những chi tiết cụ thể khi
có sự thiếu hụt thông tin ở một bộ phận nào đó của cấu trúc câu đầy đủ. Trong
thực tế, có thể có sự thiếu hụt thông tin ở nhiều yếu tố trong cấu trúc câu, do vậy
có thể có câu hỏi với nhiều đại từ nghi vấn tương ứng với các yếu tố bị thiếu hụt.
Các đại từ nghi vấn này phải được đặt đúng vị trí mà nó thay thế.
Ví dụ:
Who broke what?
Có một kiểu tổ chức câu hỏi khác là không chuyển dịch đại từ nghi vấn
lên đầu câu mà được đặt ở vị trí thích ứng với yếu tố mà nó thay thế.
Ví dụ:
He will do what?
John has met who? [24, pg. 261]
Có một số loại câu hỏi có từ hỏi nhưng không có hiệu lực hỏi.Chúng có thể là :
+ Câu chào: