ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYÔN THÞ MINH T¢M
PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH NGỮ NGHĨA
CỦA MỘT SỐ NHÓM DANH TỪ ĐA NGHĨA
TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI 2007
HÀ NỘI 2007 i MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài
1
2
Mục đích nghiên cứu
2
3
Tƣ liệu nghiên cứu
3
4
Phƣơng pháp nghiên cứu
3
5
Bố cục của luận văn
15
1.4.
Tiểu kết
16
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐA NGHĨA DANH TỪ
ANH-VIỆT TỪ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỐI CHIẾU
ĐỊNH LƢỢNG
2.1.
Đặt vấn đề
18
2.2.
Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Anh, tiếng Việt
19
2.2.1.
Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Anh
19
2.2.2.
Sự phân bố đa nghĩa trong danh từ tiếng Việt
21
2.2.3.
Nhận xét
23 ii
2.3.
Sự phân bố đa nghĩa danh từ tiếng Anh, tiếng Việt xét
trên phƣơng diện cấu tạo từ
38
3.2.2.
Tuyến dẫn xuất, phái sinh nghĩa của từ đa nghĩa
43
3.3.
Hƣớng dẫn xuất trong các nhóm danh từ Anh - Việt
46
3.3.1.
Cơ sở phân loại chung của danh từ tiếng Anh và
tiếng Việt
46
3.3.2.
Hƣớng dẫn xuất của danh từ cụ thể và trừu tƣợng
Anh -Việt
48
3.3.2.1.
Nhóm danh từ cụ thể
49
3.3.2.2
Nhóm danh từ trừu tượng
56
3.3.
Nhận xét chung về tuyến dẫn xuất trong hai ngôn ngữ
61
3.4.
Giải pháp đề xuất chuyển dịch danh từ đa nghĩa
Anh -Việt
62
3.4.1.
Đặt vấn đề
cái biểu hiện và cái đƣợc biểu hiện. Hệ quả của hiện tƣợng này làm nên tính
đồng âm đồng nghĩa và tính đa nghĩa của từ vựng. Nhƣ vậy, đa nghĩa là một
hiện tƣợng có tính quy luật của ngôn ngữ. Nó là hệ quả, là sản phẩm tất yếu của
tính không đối xứng, không đồng hình của tín hiệu ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ,
đa nghĩa biểu hiện một cách điển hình ở cấp độ từ vựng – ngữ nghĩa thông qua
các từ đa nghĩa. Từ đa nghĩa có vị trí quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt trong
cấu tạo, hoạt động của hệ thống từ vựng ngữ nghĩa. Đồng thời, từ đa nghĩa có
các mối quan hệ đặc biệt với văn hoá, lịch sử, với quá trình sử dụng ngôn ngữ.
Trƣớc hết phải thừa nhận rằng, từ đa nghĩa là từ có kết cấu nghĩa khá phức
tạp. Tổng thể các nghĩa của từ đa nghĩa tạo thành một hệ thống con của các
biến thể từ vựng - ngữ nghĩa, các biến thể này đƣợc tổ hợp trên cơ sở một vài
nét nghĩa chung và loại biệt. Mối quan hệ giữa các nghĩa nằm trong tƣơng quan
dẫn xuất phái sinh, là kết quả của việc sử dụng và phát triển lịch đại ngữ nghĩa.
Các nghĩa của từ đa nghĩa đƣợc nhìn nhận từ góc độ biểu vật trong quá trình ký
hiệu hiện thực, nhƣng lại đƣợc định hình nhƣ một đơn vị, một cấu tạo từ góc độ
biểu niệm. Nhƣ vậy, nội dung đa nghĩa của từ là một thế giới riêng, một thế
giới khác biệt nhiều hơn là đồng nhất. Điều này càng làm nên tính đặc trƣng,
tính loại biệt khi nhìn từ bình diện so sánh đối chiếu các ngôn ngữ.
Hơn nữa, từ đa nghĩa có thể xem nhƣ là một vốn tích luỹ, nhƣ là một tài
sản liên quan đến hoạt động của ngôn ngữ cho nên nó là hiện tƣợng ngôn ngữ
và cũng là hiện tƣợng văn hoá. Từ đa nghĩa là kết quả của sự phát triển lịch sử
nghĩa của từ trong quá trình tồn tại và sử dụng; là sản phẩm của sự phát triển
ngôn ngữ văn hoá, sự giàu có, phong phú tƣ duy và kinh nghiệm của cộng đồng 2
ngƣời nói một thứ tiếng nhất định. Có thể nói, nằm trong nội dung từ đa nghĩa
là chiều sâu tinh tế, tính dân tộc sâu sắc và biểu hiện của sự phát triển tƣ duy và
giao tiếp sáng tạo của chủ nhân các ngôn ngữ.
Trong quá trình học tập và giảng dạy tiếng Anh chúng tôi gặp một số
3. Tƣ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu này dựa trên kết quả phân tích nghĩa của các nhà nghiên cứu
ngữ nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Đồng thời, chúng tôi có sử dụng kết
quả phân tích nghĩa của từ trong các cuốn từ điển có uy tín để lấy ra những tƣ
liệu mà các nhà chuyên môn đã phân tích, tổng hợp trong hai ngôn ngữ Anh,
Việt. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đối chiếu, chúng tôi tiến hành phân
tích bổ sung những hiểu biết của mình với những tƣ liệu cần thiết.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này là các phƣơng
pháp thƣờng đƣợc dùng trong khoa học ngôn ngữ. Cụ thể là các phƣơng pháp sau:
Phƣơng pháp thống kê, định lƣợng: thông qua các nguồn tài liệu tin
cậy, chúng tôi tiến hành tập hợp, thống kê các nét nghĩa, kiểu nghĩa của các
nhóm danh từ đa nghĩa trên vốn tƣ liệu khảo sát trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Phƣơng pháp phân tích thành tố: nói chung phƣơng pháp phân tích
thành tố nghĩa có thể đƣợc hiểu là phƣơng pháp nghiên cứu mặt nội dung các
đơn vị có nghĩa, đƣợc khởi thảo ra trong phạm vi ngữ nghĩa học cấu trúc và có
mục đích là phân giải ý nghĩa ra thành các thành phần ngữ nghĩa tối thiểu là các
nghĩa hoặc các nghĩa vị (các ý niệm sơ đẳng, các nhân tử ngữ nghĩa, các đặc
trƣng ngữ nghĩa). Đối tƣợng phân tích bằng phƣơng pháp này giả định là một
tổng thể các nghĩa liên quan với nhau về ngữ nghĩa trong cấu tạo và hoạt động
của chúng.
Phƣơng pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu là phƣơng pháp nghiên cứu
dựa trên sự so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ về cấu trúc, chức năng và hoạt
động của các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc nghiên cứu để tìm ra những giống 4
nhau, khác nhau hoặc tìm giải pháp chuyển dịch từ ngôn ngữ nguồn ra ngôn
ngữ đích một cách tƣơng ứng, chính xác.
5. Bố cục của luận văn
điểm này là A.I. Smirnitcki. V.M. Solncev Những ngƣời theo quan điểm này
cho rằng nghĩa của từ là khái niệm, biểu tƣợng, tức là nghĩa của từ gắn liền với
tƣ tƣởng của ngƣời nói và nghĩa đƣợc xem là toàn bộ các nội dung biểu tƣợng
đƣợc biểu hiện bằng hình thức ngữ âm của từ.
Cách hiểu thứ ba về nghĩa của từ là quy nó về mối quan hệ giữa từ và đối
tƣợng. Theo V.A. Arlomov: “nghĩa của từ là sự lệ thuộc của nó với sự vật, hiện
tƣợng của thế giới hiện thực”. [1,216]. Tƣơng tự nhƣ thế, A.C. Chikobava định
nghĩa: “nghĩa của từ là mối liên hệ giữa từ với sự vật của thực tế”. [10, 120]. 6
Quan điểm thứ tƣ cũng cho nghĩa của từ là quan hệ nhƣng không phải quan
hệ giữa từ và đối tƣợng mà là quan hệ giữa từ và khái niệm, biểu tƣợng. P.A.
Budagov phát biểu: “Nghĩa của từ là mối liên hệ đƣợc hình thành về mặt lịch sử
giữa âm thanh của từ và sự phản ánh của sự vật hoặc hiện tƣợng, sự phản ánh đó
nảy sinh trong nhận thức của chúng ta” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [20, 120]).
B.N. Golovin cũng có cái nhìn tƣơng tự: “ sự thống nhất của sự phản ánh vỏ vật
chất của từ và sự vật tƣơng ứng chúng tôi gọi là nghĩa”(Dẫn theo Nguyễn Thiện
Giáp, [20, 120]). Quan niệm này bắt nguồn từ học thuyết của F. de Saussure. Ông
cho rằng nghĩa là quan hệ giữa cái biểu hiện (significant) và cái đƣợc biểu hiện
(signifié). Trên cơ sở đó, St. Ullman – nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Pháp nổi
tiếng lí giải nghĩa của từ chính là mối liên hệ liên tƣởng giữa âm thanh của từ
(name) và nội dung khái niệm(sense) của nó.
Cùng với sự ra đời của chủ nghĩa cấu trúc hiện đại, nghĩa của từ lại đƣợc
quan niệm là mối quan hệ giữa các từ với nhau. Theo Ju. D. Apresjan, “ Nội
dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân. Nó hoàn toàn đƣợc quy
định bởi nhƣng mối quan hệ đƣợc hình thành trong hệ thống những sự đối lập
của từ này với từ khác cũng thuộc trƣờng từ ấy”. [33, 53]. Những nhà ngôn ngữ
học mô tả Mĩ quan niệm “phân bố theo nghĩa rộng” chính là nghĩa của từ. Họ
xem nhƣ miêu tả nghĩa của từ thực chất là miêu tả sự phân bố của nó. Trong
những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệ với cấu
trúc nội tại, cũng nhƣ trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những
nghĩa từ khác trong ngữ, trong câu, trong lời” [36].
Cũng có những điểm tƣơng đồng nhƣ Hoàng Phê trong cách nhìn nhận về
nghĩa, Lê Quang Thiêm cho rằng nghĩa của ngôn ngữ thể hiện trong mọi hình
thức tồn tại của tín hiệu nên ngữ nghĩa học và nghĩa của tín hiệu phải đƣợc xem
xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu. Nghĩa có đƣợc là do con ngƣời, con
ngƣời cấu tạo và sử dụng nhƣ một loại phƣơng tiện, công cụ nên quan điểm
chức năng phải đƣợc xem là nòng cốt trung tâm của kiến giải nghĩa. Hơn nữa, 8
mỗi loại nghĩa đều thể hiện trong quan hệ với chức năng và toàn bộ các loại
nghĩa thuộc các loại hình thức của biểu thức trong ngôn ngữ.
Từ đó, ông đã đề xuất một cách hiểu về nghĩa: “Nghĩa là một thực thể tinh
thần trừu tƣợng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ thực hiện chức
năng công cụ của giao tiếp và tƣ duy cũng nhƣ mọi loại chức năng cụ thể đa dạng
khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, trong diễn ngôn” [46, 19].
Nhìn chung, để chọn cơ sở làm việc chúng tôi chấp nhận nghĩa của từ có
thể đƣợc hiểu một cách khái quát nhƣ sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần
mà từ biểu hiện, nó đƣợc hình thành do sự kết hợp của nhiều nhân tố. Trong số
đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn
ngữ. Nhân tố ngoài ngôn ngữ nhƣ sự vật, hiện tƣợng trong thực tế khách quan,
tƣ duy và ngƣời sử dụng. Nhân tố trong ngôn ngữ nhƣ chức năng tín hiệu học,
hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ.
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể xác lập, phân tích, xác định nội dung, dung
lƣợng, kiểu loại nghĩa của từ và nhờ đó ta có thể so sánh đối chiếu nghĩa của từ
trong ngôn ngữ này với từ tƣơng ứng trong ngôn ngữ khác để tìm ra sự tƣơng
đồng, dị biệt, cũng nhƣ chuyển dịch tƣơng ứng.
1.1.2. Các kiểu loại nghĩa từ vựng trong từ
vào chức năng định danh mà ông chƣa quan tâm nhiều tới tính cấu trúc hệ
thống. Trong nghiên cứu của mình ông quan tâm chú ý nhiều phân tích nghĩa
của từ, song chủ yếu chỉ là thực từ (từ miêu tả) và có thể nói nghĩa từ vựng ở
đây chỉ giới hạn ở nghĩa miêu tả.
Một cách nhìn khác hơn, sâu hơn về nghĩa của từ là dựa trên nhân tố các
mối quan hệ của nó để phân loại nghĩa của từ. Nguyễn Thiện Giáp đồng quan
điểm với nhiều nhà nghiên cứu, cho rằng nghĩa của từ là một loạt các quan hệ của từ
với các hiện tƣợng khác. Trƣớc hết, nghĩa của từ là quan hệ của từ với đối tƣợng mà
nó biểu thị đó là các sự vật, quá trình, tính chất. Hơn nữa, nghĩa của từ là quan hệ của
từ với các biểu tƣợng, khái niệm. Nghĩa của từ là quan hệ của một từ với các từ khác
trong cùng một hệ thống từ vựng và còn là quan hệ của từ với ngƣời sử dụng nó. Nhƣ 10
vậy, từ có quan hệ rất đa dạng với các hiện tƣợng cho nên nghĩa của từ cũng là đối
tƣợng không kém phần phức tạp. Ông phân chia nghĩa của từ thành 4 loại:
• Nghĩa sở chỉ là quan hệ của từ với đối tƣợng mà từ biểu thị. Đối tƣợng mà từ
biểu thị là các sự vật, các quá trình, tính chất hoặc hiện tƣợng thực tế nào đó đƣợc gọi
là cái sở chỉ của từ. Cái sở chỉ có thể bao gồm các đối tƣợng trong ngôn ngữ lẫn các
đối tƣợng ngoài ngôn ngữ .
• Nghĩa sở biểu là quan hệ của từ với biểu tƣợng, khái niệm. Khái niệm hoặc
biểu tƣợng có quan hệ với từ gọi là cái sở biểu và quan hệ giữa từ khái niệm hoặc
biểu tƣợng là nghĩa sở biểu.
• Nghĩa sở dụng là quan hệ của từ với ngƣời sử dụng (ngƣời nói, ngƣời viết,
ngƣời nghe, ngƣời đọc). Ngƣời sử dụng ngôn ngữ bộc lộ thái độ chủ quan của mình
đối với từ ngữ và qua đó tới cái sở biểu và sở chỉ của từ ngữ.
• Nghĩa kết cấu: Mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng, có quan hệ
đa dạng và phức tạp với những từ khác. Quan hệ giữa từ với những từ khác
trong hệ thống từ vựng đƣợc gọi là nghĩa kết cấu của từ.
Tuy nhiên việc phân tích đối chiếu đa nghĩa trong luận văn này chúng tôi
càng trở nên phong phú. Những cái mới nảy sinh trong thiên nhiên, xã hội và
con ngƣời đòi hỏi phải đƣợc biểu hiện trong ngôn ngữ.
Một nguyên nhân làm cho nghĩa của từ phát triển nữa là sự phát triển của
nhận thức. Đồng thời với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con ngƣời
cũng ngày một nâng cao. Vẫn những sự vật, hiện tƣợng hay quan hệ ấy nhƣng
càng ngày ngƣời ta càng nhận thức sâu sắc hơn. Nhiều thuộc tính của sự vật
trƣớc đây bị che mờ thì bây giờ đƣợc phát hiện. Do đó, ý nghĩa không thể
không thay đổi theo sự phát triển của nhận thức.
Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ (với tƣ cách là nhân tố
bên trong) cũng ảnh hƣởng tới kết cấu ý nghĩa của từ. Với thời gian, ngôn ngữ
cũng đƣợc bổ sung thêm nhiều yếu tố mới, đồng thời yếu tố cũ không thông
dụng nữa. Do đó mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ cùng với kết cấu
chung của nó bị thay đổi. Điều này cũng làm cho từ có thêm nghĩa mới. 12
Nhƣ vậy, sự phát triển từ đa nghĩa liên quan đến sự phát triển xã hội và sự
phát triển của ngôn ngữ. Các ngôn ngữ gắn liền với văn hoá thành văn, nền văn
minh tiên tiến thƣờng phát triển với tỷ lệ cao những từ đa nghĩa bởi lẽ đa nghĩa
liên quan đến trình độ, đến sự sáng tạo của cả một dân tộc.
Đa nghĩa là qui luật chung của ngôn ngữ nhân loại. Việc tìm hiểu những
nét tƣơng đồng và dị biệt trong nội dung từ đa nghĩa của các dân tộc lại liên
quan đến ngôn ngữ và văn hoá của riêng của mỗi quốc gia. Bởi vì đặc điểm đa
nghĩa của mỗi ngôn ngữ nhƣ là sản phẩm sáng tạo, nhƣ là thành tựu đƣợc tập
thể cộng đồng ngôn ngữ ấy xây dựng nên.
1.2.2. Định nghĩa từ đa nghĩa
Theo cách hiểu thông thƣờng và rất đơn giản: từ đa nghĩa là từ có nhiều
hơn một nghĩa. Trong nghiên cứu ngôn ngữ vấn đề lại không phải giản đơn nhƣ
thế. Cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về từ đa nghĩa từ vựng.
Có tác giả cho đa nghĩa là sự thể hiện chức năng định danh của từ. Theo
nghĩa của từ.
Dựa vào tiêu chí nguồn gốc của nghĩa, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai
loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh. Nghĩa gốc là nghĩa đầu tiên, vốn có đối với
một từ nào đó. Vì thế nghĩa gốc thƣờng là nghĩa không giải thích đƣợc lí do và
có thể nhận ra một cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác. Nghĩa phái
sinh là nghĩa có sau đƣợc tạo nên trên cơ sở nghĩa gốc cho nên chúng thƣờng
có lí do và đƣợc nhận ra qua nghĩa gốc của từ. Ví dụ, trong Từ điển tiếng Việt
của Hoàng Phê [35] có định nghĩa từ chân nhƣ sau:
1. Bộ phận dƣới cùng của cơ thể ngƣời và động vật, dùng để đi, đứng,
thƣờng đƣợc coi là biểu tƣợng của hoạt động đi lại của con ngƣời (Què chân;
Vui chân đi quá xa; Nƣớc đến chân mới nhảy). 14
2. Chân của con ngƣời, coi là biểu tƣợng của cƣơng vị, phận sự của một
ngƣời với tƣ cách là thành viên của một tổ chức (có chân trong hội đồng; thiếu
một chân tổ tôm; chân sào).
( )
Nhƣ vậy, trong hai nghĩa trên của từ chân thì nghĩa 1 là nghĩa gốc, nghĩa 2
là nghĩa phái sinh.
Dựa vào khả năng tồn tại độc lập của từ, nghĩa của từ đa nghĩa gồm hai
loại: nghĩa tự do và nghĩa hạn chế. Nghĩa tự do là nghĩa đƣợc bộc lộ trong mọi
hoàn cảnh, không lệ thuộc vào hoàn cảnh bắt buộc nào. Nghĩa hạn chế là nghĩa
chỉ xuất hiện trong một hoàn cảnh nhất định. Ví dụ sắt:
1. Kim loại màu xám xanh, dễ dát mỏng và kéo sợi, dễ bị gỉ trong không
khí ẩm, là thành phần chính của gang và thép.
2. Dùng để ví cái cứng rắn về tinh thần (kỉ luật sắt, dạ sắt gan vàng). [35, 852].
Chúng ta nhận thấy nghĩa 1 của từ sắt là nghĩa tự do, còn nghĩa 2 là nghĩa
hạn chế.
Dựa vào mối quan hệ định danh giữa từ và đối tƣợng, nghĩa của từ đa
1.3. Sơ lƣợc về lịch sử phân tích đối chiếu đa nghĩa trong các ngôn ngữ
Có thể nhận thấy rằng ngôn ngữ học đối chiếu ra khá đời muộn. Vì vậy
các nghiên cứu thuộc bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng nói chung đƣợc chú
ý thì phân tích đối chiếu đa nghĩa từ vựng chƣa có mấy, đặc biệt là đối chiếu
tiếng Anh với tiếng Việt về bình diện này.
Công bằng mà nói nếu lấy sản phẩm làm từ điển phiên dịch (song ngữ) là
kết quả phân tích đối chiếu thì ta thấy có nhiều kết quả. Chẳng hạn, lấy vài ví
dụ từ từ điển Anh - Việt [59] ta thấy nhƣ sau:
Ví dụ:
1. box: hộp, thùng, tráp, lô.
2. affair: việc, công việc.
3. chance: sự may rủi, số phận, cơ hội. 16
Kết quả giải quyết thực tế này chƣa làm ta thoả mãn vì còn quá nhiều bỏ
sót. Ví dụ từ box thì các nghĩa nhƣ: khu vực riêng biệt, lều nhỏ hay chỗ (cho
một nục đích nào đó); từ affair thì các nghĩa: sự kiện, biến cố, món đồ, chuyện
tình cảm, không đƣợc chuyển dịch, đối chiếu. Hay từ chance còn có nghĩa nhƣ
sự tình cờ, sự mạo hiểm cũng không đƣợc đề cập. Nguyên nhân có lẽ nhiều.
Ngoài những nguyên nhân khác thì ngƣời làm chƣa có ý thức khai thác, chƣa
có nhận thức lý luận về đa nghĩa Anh ngữ và Việt ngữ.
Xét về lý luận đối chiếu đa nghĩa cũng đã có thể nghiệm. Đó là công trình
của Lê Quang Thiêm từ cuối những năm bảy mƣơi. Nhƣng đó là đối chiếu
tiếng Bungari và tiếng Việt trong luận án Tiến sỹ “Một số vấn đề phân tích dối
chiếu từ đa nghĩa Bun-Việt” (Xôphia 1979).
Nhƣ vậy, dù đã có công trình, có chỉ ra một số cách làm, cách đối chiếu
nhƣng là phân tích đối chiếu loại hình chứ không phải chuyển dịch. Hơn nữa
chƣa đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt. Cho nên công trình của chúng tôi
trong lúc tiếp thu những cách làm và kinh nghiệm đã có sẽ thực hiện đối chiếu
nghĩa có thể đƣợc xem xét dựa trên các đơn vị, thành tố và các số đo nội dung
xác định. Các số đo và các thành tố đo có thể là nghĩa, số lƣợng nghĩa, nét
nghĩa và số lƣợng của chúng. Trong chƣơng này chúng tôi đặc biệt quan tâm
tới dung lƣợng nghĩa của danh từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ Anh - Việt.
Tƣ liệu để thực hiện nghiên cứu này là từ điển giải thích. Chúng tôi sử
dụng hai cuốn từ điển giải thích có dung lƣợng khá tƣơng đƣơng (đều là từ điển
cỡ trung). Đó là cuốn từ điển Larousse Cobuild English learner’s Dictionary
gồm 1204 trang do John Sinclair chủ biên (Nxb Collins, 1992) và cuốn Từ điển
tiếng Việt của Hoàng Phê gồm 1221 trang (Nxb Đà Nẵng, 2004). Chúng tôi
nhận thấy, hai cuốn từ điển này có cách xử lý nghĩa của các đơn vị từ vựng khá
giống nhau. Tác giả của hai cuốn từ điển này đều định nghĩa phân tích, chỉ rõ
nội dung nghĩa của từ ngữ, có khi nêu cả phạm vi sử dụng; giải thích nghĩa của
từ dựa vào từ đồng nghĩa, hoặc từ trái nghĩa. Hơn nữa, các nghĩa của từ đa
nghĩa đƣợc xếp theo thứ tự căn cứ vào vào sự phát triển logic của ngữ nghĩa
hoặc nêu nghĩa cụ thể trƣớc nghĩa trừu tƣợng, nghĩa đen trƣớc nghĩa bóng,
nghĩa thông thƣờng trƣớc nghĩa chuyên môn.
Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát khoảng 14.500 từ
tiếng Anh (từ vần A đến vần G) trong cuốn từ điển Larousse Cobuild English
learner’s Dictionary và số lƣợng từ tƣơng đƣơng tiếng Việt (cũng từ vần A đến
vần G) trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê để tìm ra những danh từ
đa nghĩa trong hai ngôn ngữ. Từ số liệu thu đƣợc chúng tôi tiến hành phân tích
đặc điểm về số lƣợng nghĩa, về sự phân bố đa nghĩa của danh từ đa nghĩa trong 19
tiếng Anh và tiếng Việt. Kết quả thu đƣợc làm cơ sở để đối chiếu về dung
lƣợng nghĩa của từ đa nghĩa trong hai ngôn ngữ. Qua đó, chúng ta có cái nhìn
tổng quan về danh từ đa nghĩa ở hai ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra những đặc điểm
giống, khác nhau về số lƣợng, sự phân bố đa nghĩa của từ đa nghĩa trong hai
ngôn ngữ. Hơn thế nữa, luận văn còn đề cập đến vấn đề sâu xa hơn đó là đặc
Tiếp theo là danh từ đa nghĩa có 3 nghĩa gồm 217 từ, chiếm 16,39% danh
từ đa nghĩa khảo sát.
Ví dụ nhƣ: abuse (sự lạm dụng), accent (trọng âm), adult (thành niên),
back (lƣng), background (nền), custom (phong tục), doctor (bác sỹ), dust (bụi),
energy (năng lƣợng), fashion (thời trang), future (tƣơng lai), gateway (cổng ra
vào), ground (mặt đất),
Chiếm một tỷ lệ áp đảo là danh từ đa nghĩa 2 nghĩa. Danh từ đa nghĩa có 2
nghĩa có số lƣợng từ nhiều nhất, lên đến 974 từ, chiếm 73,57% danh từ đa
nghĩa khảo sát.
Ví dụ: absence (sự vắng mặt), abyss (vực), author (tác giả), baby (trẻ
con), boot (giày ống), beer (bia), businessman (nam thƣơng nhân),
businesswoman (nữ thƣơng nhân), cake (bánh ngọt), chest (ngực), decision (sự
quyết định), destiny (điểm đến), engine (động cơ), elevation (sự nâng lên), fan
(cái quạt), fuse (kíp nổ),
Nhƣ vậy, trong khoảng 1/3 cuốn từ điển tiếng Anh Larousse Cobuild
English learner’s Dictionary này có 1324 danh từ đa nghĩa. Dao động đa nghĩa
nằm ở giới hạn 7 nghĩa và số lƣợng đa nghĩa phân bố không đồng đều. Số
lƣợng nghĩa trong một từ danh từ đa nghĩa tỷ lệ nghịch với số lƣợng từ biểu thị.
Từ có số lƣợng nghĩa càng nhiều thì số lƣợng từ loại ấy càng ít. Từ có số lƣợng
nghĩa càng nhỏ thì số lƣợng càng nhiều. Chúng ta có thể hình dung sự phân bố
đa nghĩa của chúng nhƣ sau: 21
SL nghĩa
2
3
4
5
6
0,14% danh từ đa nghĩa khảo sát. Đó là từ: giống.
Hai con số xấp xỉ nhau là số lƣợng danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa và danh từ
đa nghĩa có 7 nghĩa.
Danh từ đa nghĩa có 7 nghĩa có 5 từ, chiếm 0,07% danh từ đa nghĩa khảo
sát. Đó là các danh từ: bóng, chú, công, điểm, giò.
Danh từ đa nghĩa có 6 nghĩa có 6 từ, chiếm 0,84% danh từ khảo sát. Đó là
các danh từ: bầu, bố, cậu, chân, dòng, đầu mối.
Số lƣợng danh từ đa nghĩa có 5 nghĩa có số lƣợng cao hơn hẳn những
danh từ đa nghĩa có 6, 7 nghĩa. Loại danh từ đa nghĩa này có 19 từ chiếm
2,66% danh từ đa nghĩa khảo sát.
Chẳng hạn nhƣ: bác, bậc, băng, bìa, cảnh, cây, chính trị, dưới, đám, điệu,
đơn vị, gốc,