Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ THÀNH CHUNG
CÚ PHÂN TỪ ĐỊNH NGỮ, TRẠNG NGỮ TIẾNG ANH
VÀ CÁC KẾT CẤU TƢƠNG ĐƢƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62. 22. 01. 01 LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC


1.3.4. Quan điểm ngữ pháp chức năng của Halliday về cú pháp …………… 45
1.3.5. Khái niệm về cận cảnh-hậu cảnh …………………………………… 49
1.3.6. Quan điểm của Givón về mạch lạc liên cú ………………………… 51
1.3.7. Quan điểm ngữ dụng học về quy chiếu của G. Yule và G. M. Green 55
1.3.8. Mô hình đánh giá chất lượng bản dịch của House …………………… 57
1.4. Tiểu kết ……………… ……………………………………………… 60
Chương 2: CÚ PHÂN TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ
NGỮ ĐỘNG TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG VIỆT
2.1. Cú phân từ định ngữ tiếng Anh ……………………………………… 62
2.1.1. Khái niệm, vị trí và cấu tạo ………………………………………… 62
2.1.2. Cú phân từ định ngữ và cú quan hệ ………………………………… 63
2.1.3. Phân loại cú phân từ định ngữ ……………………………………… 64
2.1.4. Đặc điểm kết học …………………………………………………… 66
2.1.4.1. Đặc điểm cấu trúc của CPTĐN ………………………………… 66
2.1.4.2. Khả năng kết hợp của CPTĐN với danh từ trung tâm …………… 67

3

2.1.4.3. Khả năng rút gọn của CQH thành CPTĐN ……………………… 70
2.1.5. Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng ……………………………………. 81
2.1.5.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ trung tâm………………………… 81
2.1.5.2. Đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của danh từ trung tâm ………… 83
2.1.5.3. Đặc điểm ngữ nghĩa liên cú ……………………………………… 87
2.1.5.4. Cú phân từ định ngữ trong các loại văn phong khác nhau ………. 89
2.2. Ngữ động từ định ngữ trong tiếng Việt ……………………………… 91
2.2.1. Khái niệm và tiêu chí nhận diện …………………………………… 91
2.2.2. Phân loại …………………………………………………………… 95
2.2.3. Đặc điểm kết học …………………………………………………… 96
2.2.3.1. Đặc điểm cấu trúc của NĐTĐN ……………………………………. 96
2.2.3.2. Khả năng kết hợp giữa danh từ và NĐTĐN ……………………… 98

3.2.4.1. Mối liên kết ngữ nghĩa với cú chính ……………………………… 166
3.2.4.2. Mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa ………………………………………. 172
3.2.4.3. Mạch lạc quy chiếu và mạch lạc thời thể ………………………… 172
3.2.4.4. NĐTTN và trong các loại văn phong khác nhau ………………… 176
3.4. Tiểu kết ………………………………………………………………… 179
Chương 4: CÁCH DỊCH CÚ PHÂN TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT
4.1. Một số nhận xét về cách dịch CPT trong các tác phẩm văn học ………. 182
4.2. Các cách dịch CPTĐN …………………………………………………. 186
4.2.1. Cách dịch CPTĐN không hạn định ………………………………… 186
4.2.2. Cách dịch CPTĐN chủ động hạn định …………………………… 188
4.2.3. Các cách dịch CPTĐN bị động hạn định …………………………… 190
4.3. Các cách dịch CPTTN ……………………………………………… 197
4.3.1. CPTTN đứng trước cú chính ………………………………………. 197
4.3.1.1. CPTTN bị động …………………………………………………… 199
4.3.1.2. CPTTN chủ động diễn tiến ………………………………………… 200
4.3.1.3. CPTTN chủ động hoàn thành ……………………………………. 202
4.3.2. CPTTN đứng sau cú chính ……………………………………………205
4.3.3. Cách dịch các động từ có liên quan đến bộ phận cơ thể …………… 208
4.3.4. Cách dịch CPTTN trong các câu dẫn hội thoại ……………………. 210
4.4. Tiểu kết ………………………………………………………………… 216
KẾT LUẬN ……………………………………………………………… 219
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ……………….224
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………… 225
5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Bảng 3.2: Những dấu hiệu chính của các cú tăng cường phụ thuộc……… 142
Bảng 3.3: Phân bố CPTTN trong các loại ngôn bản khác nhau………… 155
Bảng 3.4: CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ ………………… 156
Bảng 3.5: Phân bố các loại CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ 157
Bảng 3.6: Thống kê NĐTTN trong các tác phẩm văn học …………………. 177
Bảng 3.7: NĐTTN trong các văn phong khác nhau ……………………… 177
Bảng 3.8: So sánh tần số xuất hiện của NĐTTN và CPTTN ………………. 177
Bảng 3.9: NĐTTN trong các tác phẩm văn học Việt Nam ………………… 178
Bảng 3.10: Các mối liên kết ngữ nghĩa…………………………………… 181
Sơ đồ 2: Các cách dịch CPTĐN và CPTTN sang tiếng Việt ………………. 218 7

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Trong tiếng Anh, cú phân từ (CPT) là một kết cấu có động từ ở dạng phân từ
làm trung tâm, thường được dùng làm thành tố phụ của một câu phức. Với tư cách
là thành tố phụ, CPT thường có các chức năng ngữ pháp khác nhau như làm chủ
ngữ, bổ ngữ, định ngữ cho một danh từ trung tâm hay làm trạng ngữ cho động từ vị
ngữ của câu chính. Mặc dù được dùng khá phổ biến trong tiếng Anh (trong các bài
viết có phong cách trang trọng, mang tính học thuật, hoặc trong các tác phẩm văn
học), nhưng cho đến nay các CPT vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ
thống, đặc biệt là từ góc độ lý thuyết.
Qua tham khảo các tài liệu nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy loại cú này chủ
yếu được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh nói chung
hoặc các sách dạy tiếng Anh cho người nước ngoài như “A Comprehensive
Grammar of the English Language” của R. Quirk và một số tác giả khác,
“Advanced Grammar in Use” của Martin Hewings, “Longman English Grammar”

thực tế dịch thuật và giảng dạy môn thực hành dịch trong trường đại học cho thấy
nguời học và người dịch gặp không ít khó khăn khi xử lý các văn bản có sử dụng
CPT. Việc hiểu chính xác nghĩa của các CPT tiếng Anh trong các trường hợp cụ thể
đã khó, nhưng chuyển tải các kết cấu này sang tiếng Việt như thế nào cho hiệu quả
còn khó hơn nhiều. Người học tiếng Anh như một ngoại ngữ thường hay lúng túng
khi gặp các cấu trúc này, đặc biệt là khi họ cố gắng dịch CPT sang tiếng Việt.
Ví dụ: trong câu “ any further attempts to prevent voices of concern from
making themselves heard by negotiators” người học do nhiều lý do có thể dịch cú
phân từ định ngữ „heard by negotiators‟ thành „được nghe bởi các nhà thương
thuyết‟, một hình thức dịch khó có thể được chấp nhận trong tiếng Việt. Việc tìm ra
một phương án dịch tối ưu là không đơn giản. Để có được đáp án dịch thuần Việt
chúng ta phải tìm đến những phương tiện biểu thị khác, chẳng hạn có thể dịch là “
bất kỳ một nỗ lực tiếp theo nào nhằm ngăn không cho các tiếng nói bày tỏ mối quan
ngại đến được tai các nhà thương thuyết”.

9

Qua nghiên cứu bản dịch các tác phẩm văn học bằng tiếng Anh sang tiếng
Việt đã được ấn hành trong những năm gần đây, chúng tôi còn nhận thấy rằng việc
xử lý các câu có chứa CPT của các dịch giả nhiều khi chưa thỏa đáng. Chính vì vậy,
ngoài việc nghiên cứu các đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa - chức năng và ngữ dụng
của các CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, chúng tôi thấy
cần thiết phải khảo sát cả cách dịch các cú này từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Việc
làm này sẽ giúp ích rất nhiều cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ cũng như
cho các dịch giả.
2. Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là CPT tiếng Anh và các kết cấu tương
đương trong tiếng Việt, được khảo sát theo 3 hướng chủ đạo:
- Mô tả đồng đại

mạch lạc liên cú.
- Quan điểm ngữ dụng học về cận cảnh - hậu cảnh của P. Hopper.
- Quan điểm ngữ dụng học về quy chiếu (reference) của George Yule (1996)
và Georgia M. Green (1989)
- Lý luận về dịch thuật, chủ yếu là về các phương pháp dịch và cách đánh giá
bản dịch của các nhà lý luận dịch thuật nổi tiếng như Peter Newmark (1984, 1988),
Wolfram Wills (1982), Juliane House (1981).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: Trong quá trình viết luận án này, chúng tôi đã áp
dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phƣơng pháp thống kê
Thống kê là phương pháp “tập hợp có hệ thống các hiện tượng riêng lẻ để so
sánh, phân loại và nhận định về tình hình chung” [131, tr. 791]. CPT được sử dụng
rất rộng rãi trong các tác phẩm văn học nên chúng tôi đã thống kê tần xuất sử dụng
của các cấu trúc này trong các tác phẩm văn học Anh và Mỹ ở các thời kỳ khác
nhau của các tác giả khác nhau để có được những nhận định về cách sử dụng các
kết cấu này. Chúng tôi cũng thống kê cách các CPT này được dịch sang tiếng Việt
như thế nào để có thể đưa ra được những phương án dịch tối ưu nhất.

11

4.2. Phƣơng pháp miêu tả
Miêu tả trong ngôn ngữ học là phương pháp nghiên cứu một hay nhiều ngôn
ngữ ở một giai đoạn phát triển nhất định, chủ yếu tập trung vào phân tích ngữ pháp.
“Phương pháp miêu tả nhìn nhận ngôn ngữ như một hệ thống cấu trúc” [11, tr. 68].
Trong luận án này, chúng tôi miêu tả đồng đại hai ngôn ngữ, hai hệ thống cấu trúc
trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Trước hết, chúng tôi tiến hành
miêu tả đầy đủ và phân tích chi tiết CPT tiếng Anh và các cấu trúc tương đương
tiếng Việt. Những miêu tả và phân tích này đều dựa trên những cơ sở lý thuyết của
ngữ pháp hiện đại. Kết quả mô tả sẽ là cơ sở để chúng tôi so sánh đối chiếu, tìm ra
những sự giống nhau và khác nhau của các cấu trúc này trong hai ngôn ngữ, sau đó

nhà Việt ngữ học về các vấn đề lý luận có liên quan đến CPT tiếng Anh và các kết
cấu tương đương trong tiếng Việt dựa trên các nguồn tư liệu gốc thu thập được.
Trên cơ sở đó tìm hiểu các đặc trưng về cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các kết
cấu này và đưa ra những kiến giải mới, đóng góp vào việc nghiên cứu vấn đề này
cùng với các nhà Anh ngữ và Việt ngữ học.
- Thông qua việc so sánh đối chiếu CPT tiếng Anh và các kết cấu tương
đương tiếng Việt, chỉ ra những điểm giống nhau và những đặc thù riêng của từng
ngôn ngữ trong việc cấu tạo và sử dụng các kết cấu trên.
- Áp dụng lý luận hiện đại về dịch thuật để đánh giá cách dịch các CPT tiếng
Anh trong các tác phẩm văn học sang tiếng Việt của các dịch giả Việt Nam, phát
hiện những vấn đề còn tồn tại và đề xuất các giải pháp hữu hiệu.
6.2. Về thực tiễn
- Kết quả của nghiên cứu sẽ được áp dụng vào việc giảng dạy tiếng Anh như
một ngoại ngữ cho người Việt, chủ yếu là trong giảng dạy môn Lý thuyết dịch và
Thực hành dịch cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh năm thứ 3 và thứ 4, nâng cao
thêm chất lượng dạy và học tiếng Anh tại Đại học Ngoại ngữ Quân sự.
- Kết quả nghiên cứu cũng sẽ được áp dụng vào việc dịch các tác phẩm văn
học viết bằng tiếng Anh sang tiếng Việt, góp phần làm cho các bản dịch vừa đạt độ
chính xác cao, vừa có cách diễn đạt rõ ràng, trong sáng và thuần Việt mà vẫn giữ
được những nét phong cách đặc trưng của nguyên tác. 13

7. Cấu trúc của luận án
Luận án được chia làm 4 chương. Trong chương 1, chúng tôi nêu lên lịch sử
vấn đề và trình bày những cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài. Chương 2 nghiên
cứu kỹ về cú phân từ định ngữ và đối chiếu chúng với các kết cấu tương đương
tiếng Việt là ngữ động từ định ngữ. Chương 3 nghiên cứu về cú phân từ trạng ngữ
tiếng Anh và đối chiếu chúng với ngữ động từ trạng ngữ tiếng Việt. Chương 4 khảo

c) Her first job had been selling computers.
d) His current research, investigating attitudes to racial stereotypes, takes up
most of his time.
e) They are busy preparing a barbecue.

15

f) I‟m responsible for drawing up the budget. [110, tr. 1063]
g) Having established the direction of the line, we now wish to find some
point on the line.
h) The man making the bogus collections was described as middle aged.
[157, tr. 200]
Cú -ed (-ed clause) hay CPT quá khứ có chức năng cú pháp hẹp hơn so với
CPT hiện tại. Chúng chỉ có thể đóng vai trò làm bổ ngữ trực tiếp (2a), trạng ngữ
(2b) hay định ngữ (2c). Ví dụ:
(2) a) Two-year-old Constantin will have his cleft palate repaired.
b) Taken in the order shown they provide propulsive jets increasing mass
flow and increasing jet velocity.
c) There wasn‟t a scrap of evidence to link him with the body found on the
Thames foreshore at low tide. [157, tr. 200]
Ở đây cần bàn thêm về thuật ngữ clause và cách dịch nó sang tiếng Việt. Từ
“clause” được “Oxford Advanced Learner‟s Dictionary” định nghĩa là “một nhóm
từ gồm chủ ngữ, động từ tạo thành một câu hoặc phần của một câu” (a group of
words that includes a subject and a verb, and forms a sentence or part of a
sentence). Trong các từ điển song ngữ hiện đang lưu hành tại Việt Nam, “clause”
được dịch là mệnh đề “với sự ngầm định rằng đó là mệnh đề dùng trong ngôn ngữ”
[6, tr. 15]. Cách gọi này có phần hơi bất tiện vì cần phải phân biệt nó với khái niệm
“mệnh đề” của lôgic. Chính vì vậy, chúng tôi chọn cách dịch “clause” là “cú”, một
khái niệm được hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đề xuất
dùng thay cho “mệnh đề ngôn ngữ” và được sử dụng ngày càng rộng rãi trong giới

trên nhất thiết sẽ tạo nên một cụm chủ vị. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi dịch
câu trên sang tiếng Việt.
(4) {Ông trưởng khoa quay phắt người và đi ra, chiếc áo choàng tung bay thành
vệt thẫm sau lưng}
Chính vì có sự khác biệt cơ bản trên nên trong khuôn khổ luận án này, chúng
tôi chỉ xem xét các CPTTN có một thành phần chính là động từ làm trung tâm và lấy
chúng làm đối tượng để nghiên cứu và so sánh đối chiếu với các kết cấu tương đương
cũng chỉ có một thành phần duy nhất là động từ làm trung tâm trong tiếng Việt.

17

Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có các kết cấu vắng chủ ngữ, có phân từ làm
trung tâm mà L.G. Alexander (1992) gọi là kết cấu phân từ (participle construction).
Đó là 1) các kết cấu có phân từ đứng sau liên từ (5a,b); 2) các kết cấu có phân từ
đứng sau giới từ như after, before, since, on và in (5c,d); 3) các kết cấu phân từ có it
và there (5e,f); 4) các kết cấu phân từ đứng sau with/without (5g,h). Ví dụ:
(5) a) Although built before the war, the engine is still in perfect order.
b) If travelling north, you must change at Leeds.
c) After/On being informed the fight would be delayed, we made other
arrangements.
d) Since phoning you this morning, I have changed my plans.
e) It being a bank holiday, all the shops were shut.
f) There being no further business, I declare the meeting closed.
g) With the crowds cheering, the royal party drove to the palace.
h) They debated for hours without a decision being taken. [58, tr. 31-33]
Trong các câu loại 1), nghĩa của các kết cấu phân từ phụ thuộc một phần lớn
vào các liên từ như although, if, unless Người ta không thể lược bỏ các liên từ
này đi được. Còn các kết cấu có cú trong các câu loại 2) là những cụm giới từ và
nghĩa của các câu này phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa ngữ pháp của các giới từ như
after, on, since, Trong các kết cấu có phân từ của các câu loại 3) và 4) có mặt cả

nó] mở mắt ra (3‟c) và John kiếm việc làm thêm [vì anh ta] phải đối mặt với cái
hóa đơn 10.000 đô la (3‟d).
Như vậy, có thể định nghĩa CPT như sau:
CPT định ngữ và trạng ngữ là các kết cấu cú có chủ ngữ ẩn, chỉ hiển ngôn
phần động từ ở dạng phân từ, đóng vai trò làm định ngữ hay trạng ngữ trong câu.
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể nhận diện được CPT định ngữ và trạng
ngữ dựa trên ba tiêu chí như sau:
- Về hình thái: CPTĐN/TN có động từ ở dạng phân từ hiện tại -ing hay phân
từ quá khứ làm trung tâm.
- Về cấu trúc: CPTĐN/TN có chủ ngữ ẩn và chủ ngữ ẩn này có thể phục
nguyên được.

19

- Về chức năng: CPTĐN/TN có thể đóng vai trò làm định ngữ hay trạng ngữ
trong câu.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu CPTĐN và CPTTN tiếng Anh
1.1.2.1. Cú phân từ định ngữ (adjectival participle clause)
CPTĐN là một hiện tượng ngữ pháp không gây nhiều tranh luận trong Anh
ngữ học. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí cho rằng CPTĐN hạn định là dạng rút gọn
của cú quan hệ (CQH) (reduced relative clause). Xét về khả năng hạn định cho danh
từ, có hai loại CPTĐN là hạn định và không hạn định. CPTĐN không hạn định
được tách khỏi cú chính bằng các dấu phẩy trên văn bản. Trong một số trường hợp,
chúng có mối liên kết ngữ nghĩa nhất định với cú chính và có chức năng gần giống
như trạng ngữ. CPTĐN hạn định có chức năng làm hậu bổ tố (postmodifier) trong
cụm danh từ phức (complex noun phrase). Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ
học thuộc trường phái ngữ pháp cải biến-tạo sinh (Fillmore 1963, Katz và Postal
1964, Chomsky 1965), các kết cấu này được gọi là các bổ tố chêm (embedded
modifiers). Thuật ngữ này ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi trong giới Anh ngữ
học.

CQH và CPTĐN, nguyên nhân gì dẫn đến sự rút gọn của CQH thành CPTĐN. Thứ
hai là trong những trường hợp nào CQH có thể rút gọn thành CPTĐN và trong
trường hợp nào không xảy ra hiện tượng trên. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ những
vấn đề này trong chương 2.
1.1.2.2. Cú phân từ trạng ngữ (adverbial participle clause)
CPTTN là một hiện tượng ngữ pháp khá đặc biệt. Mặc dù có rất nhiều vấn đề
cần bàn liên quan đến kết cấu này, cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, CPTTN
hoàn toàn chỉ được nghiên cứu trong khuôn khổ của ngữ pháp truyền thống. Phải
mãi đến những năm 1980, chúng mới được các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh
chú trọng một cách thỏa đáng trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Những khảo sát đầu tiên về CPTTN xuất hiện vào những năm 1930-1940,
trong các công trình nghiên cứu của O. Jespersen (1931, 1954), E. Kruisinga (1932)
và G.O. Curme (1947). Vào thời gian này, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung
miêu tả cấu trúc của các kết cấu nói trên và sự khác biệt trong các quan điểm mà họ
đưa ra về cơ bản chỉ liên quan đến tên gọi của chúng. CPTTN được gọi theo hai

21

cách khác nhau. E. Kruisinga (1932) thì coi CPTTN là một dạng của trạng ngữ tự
do (free adjunct). Còn các nhà nghiên cứu khác như O. Jespersen và G.O. Curme
(1947) thì gọi chúng là phân từ đồng vị ngữ (predicate appositive/appositional
participles), là dạng rút gọn của cú trạng ngữ. Các cú trạng ngữ có thể rút gọn thành
phân từ đồng vị ngữ là cú thời gian, phương thức, cảnh huống, nguyên nhân, điều
kiện và phương tiện [67, tr. 179-192].
Những người có đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu CPTTN theo quan
điểm của ngữ pháp truyền thống là Quirk và các tác giả của “A Grammar of
Contemporary English” (1972) và “A Comprehensive Grammar of the English
Language” (1985). Họ gọi CPTTN là các cú bổ sung vô chủ (subjectless
supplementive clause). Có thể nói họ là những tác giả duy nhất của ngữ pháp truyền
thống thảo luận khá chi tiết vấn đề kiểm soát (problem of control), hay nói cách

Người có đóng góp quan trọng nhất, theo chúng tôi, trong việc nghiên cứu
CPTTN là Bernd Kortmann. Ông đã có những nghiên cứu khá chi tiết về CPTTN
trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Các quan điểm của ông được
trình bày trong hai công trình nghiên cứu chính. Thứ nhất là chuyên luận “Trạng
ngữ tự do và cú tuyệt đối trong tiếng Anh” (Free Adjuncts and Absolutes in
English) (1991), được viết trên cơ sở Luận án tiến sỹ bảo vệ tại trường Đại học tổng
hợp Hannover. Thứ hai là bài viết “Cú phân từ trạng ngữ trong tiếng Anh”
(Adverbial Participlial Clauses in English) được in trong kỷ yếu hội thảo quốc tế
Converbs in Cross-Linguistic Perspectives năm 1995.
Đóng góp thứ nhất của Kortmann là ông đã nghiên cứu kỹ chủ ngữ ẩn trong
CPTTN hay theo cách gọi của ông là trạng ngữ tự do. Ông đã xác định các nhóm
CPTTN có chủ ngữ ẩn của hành động không liên quan đến chủ ngữ của cú chính
(unrelated free adjunct), xác định các mức độ không liên quan và có thể chấp nhận
được của các CPTTN này. Trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của
CPTTN, ông đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chủ thể của hành
động trong các kết cấu này.
Đóng góp thứ hai của Kortmann liên quan đến các mối liên kết ngữ nghĩa
giữa CPTTN và cú chính. Ông đã xác định những mối liên kết ngữ nghĩa tồn tại

23

giữa CPTTN và cú chính, trên cơ sở đó đưa những yếu tố cú pháp, ngữ nghĩa và
ngữ dụng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải mã các mối liên kết này.
Một hướng nghiên cứu nữa về ngữ nghĩa của các CPTTN được các nhà ngôn
ngữ học thuộc trường phái ngữ pháp chức năng mà đứng đầu là M.A.K. Halliday
khởi xướng. Trong quá trình xác định mức độ phụ thuộc lẫn nhau cũng như mối
quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa các cú trong câu phức, Halliday đã dành một phần
đáng kể để khảo sát các cú vô định mà CPTTN là một bộ phận cấu thành. Những
nghiên cứu của ông về mối quan hệ lôgic-ngữ nghĩa giữa CPTTN và cú chính có thể
làm cơ sở để xác định mối liên kết ngữ nghĩa giữa các thành phần này của câu phức.

khuôn khổ luận án này, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ ngữ của Nguyễn Tài Cẩn vì đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi chỉ là những kết cấu có quan hệ chính phụ. Có ba
loại tổ hợp từ dạng này. Đó là ngữ danh từ (danh ngữ), ngữ động từ (động ngữ) và
ngữ tính từ (tính ngữ).
Ngữ động từ theo Nguyễn Tài Cẩn là những đoản ngữ có động từ làm trung
tâm. Ngữ động từ ở dạng đầy đủ nhất gồm ba phần là phần trung tâm, phần phụ
trước và phần phụ sau. Ví dụ: đã (phần phụ trước) làm (phần trung tâm) bài tập về
nhà (phần phụ sau).
Ngữ động từ có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác nhau như chủ
ngữ, bổ ngữ, định ngữ hay trạng ngữ trong câu. Trong luận án này, chúng tôi chỉ
quan tâm đến các ngữ động từ định ngữ (NĐTĐN) và ngữ động từ trạng ngữ
(NĐTTN). Ngữ động từ đứng sau và bổ nghĩa cho danh từ được gọi là NĐTĐN, có
cấu tạo chung và chức năng ngữ pháp tương đương với CPTĐN tiếng Anh. Ví dụ:
(8) Người mặc comple còn trẻ nhưng đã sớm có cái dáng oai vệ, … [149, tr.
235]
Ngữ động từ đứng trước nòng cốt câu được gọi là NĐTTN, có cấu tạo chung
và chức năng ngữ pháp tương đương với CPTTN tiếng Anh. Ví dụ
(9) a) Nghe xong, mặt Hai Tính đỏ gằn lên, nói rít qua kẽ răng: [149, tr. 193]
b) Ngồi trong nhà nhìn ra, thoáng thấy ông, tôi không tin. [149, tr. 176]

25

Các ví dụ trên cho thấy việc nhận diện NĐTTN không mấy khó khăn vì
chúng là các kết cấu thường được bắt đầu bằng động từ và có vị trí khá đặc biệt là
đứng ở đầu câu, được tách khỏi nòng cốt câu bằng dấu phẩy.
Việc nhận diện NĐTĐN có phần phức tạp hơn, nhất là đối với các NĐTĐN
bổ nghĩa cho danh từ làm chủ ngữ chính trong câu vì chúng có vị trí hoàn toàn
giống như các NĐT vị ngữ. Tiêu chí để nhận diện là cùng với danh từ chúng chưa
tạo thành một câu hoàn chỉnh. Sự kết hợp giữa danh từ và động từ vẫn chỉ là một
ngữ đoạn dang dở (chúng tôi sẽ đề cập kỹ đến vấn đề này trong chương 2).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status