1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ HƯƠNG Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU
THUYẾT “TRUYỆN NHÀ KỴ SĨ DON QUJOTE” CỦA
CERVANTESLUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ HƯƠNG
Học viên Lê Thị Hương
4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới các thầy cô khoa Sau đại học, khoa Văn
học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội-
những người đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ tôi trong bốn năm học và đặc biệt là
PGS.TS Phạm Thành Hưng- người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn
thành luận văn này. Với khoảng thời gian không dài cũng như kiến thức và sự
hiểu biết còn hạn hẹp nên luận văn khó tránh được những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn gần xa. Trân trọng cảm ơn!
1.4.1.Bi kịch của Sechxpia- nỗi thất vọng trước thực tại xã hội buổi giao thời
1.4.2. Tiểu thuyết Don Qujote- sự đổ vỡ xuất phát từ xung đột lý tưởng nhân văn
chủ nghĩa và thực tại tư sản hóa.
Chương2. GIÁ TRỊ LỊCH SỬ- TƯ TƯỞNG CỦA TIỂU THUYẾT
“TRUYỆN NHÀ KỴ SĨ DON QUJOTE”
2.1. Don Qujote hình tượng sống động về một thời đại
2.2. Nỗi thất vọng và sự suy xụp của chủ nghĩa lạc quan nhân văn.
2. 2.1. Tiếng cười chua chát trong “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote”
2.2.2. Sự đối lập của hai tính cách: chàng kị sỹ và người hầu Xan-chô Pan-xa.
2. 2.3. Cuộc chiến trường kỳ và tuyệt vọng của chàng kị sỹ Don Qujote
6
2. 3. Don Qujote- một ký thác và biểu tượng của niềm tin xa xôi
2.3.1. Khát vọng giải phóng con người và mơ ước về một xã hội lý tưởng của
Cervantes.
2. 3. 2. Niềm tin của chàng hiệp sĩ.
2. 3.3. Xan-chô- tín hiệu của một lối sống mới.
Chương3. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT “TRUYỆN NHÀ KỴ
SĨ DON QUJOTE”
3.1. “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote”-Lối kết cấu khai sinh cho tiểu thuyết
hiện đại
3.1.1. Khái niệm roman và tiểu thuyết phiêu lưu trinh thám châu Âu trung
cổ
3.1.2. Tính chất giễu nhại (parodie) đầy sáng tạo trong chủ đề và kết cấu
3.2. Giọng điệu trần thuật trong “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote”
3.2.1. Giọng kể trào lộng, châm biếm
3.2.2. Giọng điệu suồng sã, dân dã nhưng giàu tính chiến đấu
3.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.3.1. Lối đặc tả ngoại hình
3.3.2. Tính cách bộc lộ bằng hành động
tiểu thuyết vẫn giành được sự hâm mộ rộng khắp và được công nhận là một
trong những tác phẩm lớn nhất của nhân loại. Pho truyện đã thật sự đi vào quần
chúng. Trong các ngày hội, hay trong các cuộc vui hóa trang của Tây-Ban-Nha,
Bồ-Đào-Nha cũng như nhiều nước châu Âu khác, người ta thường thấy xuất hiện
8
hiệp sĩ Don Qujote và giám mã Xan-chô Pan-xa “hệt như tả trong truyện”. Cuốn
sách được in ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và ngót gần bốn thế kỷ nay,
Don Qujote vẫn là đề tài sân khấu, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, điện ảnh…
Đại thi hào Đức- Henri Heine nói: “Phải suy tôn Cervantes làm người
sáng tạo ra tiểu thuyết cận đại”. Công trình sáng tác của Cervantes đã đánh dấu
một thời đại mới trong văn học phương Tây. Nó có một ý nghĩa, một tác dụng
cách mạng đối với văn học của thời đại. Tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ này
đã nêu rõ dụng ý của mình là: “…định viết một tập truyện hài hước để chế giễu
văn học kỵ sĩ” và “đánh tan sự tín nhiệm của một số người khá đông đối với loại
sách ấy”. Và tác giả khẳng định “tập sách sẽ rất hay, rất hoàn toàn, rất thú vị”.
Và quả thực Cervantes đã thành công vẻ vang về cả hai phương diện phá hoại và
xây dựng. Don Qujote ra đời, tồn tại đã chống chọi được với sự đào thải của thời
gian. Nhân dân Tây- Ban- Nha thừa nhận ngay tập sách đó là một tác phẩm của
dân tộc, của nhân dân. Nhân dân tính chính là một đặc sắc trong nghệ thuật tiểu
thuyết của Cervantes. Nội dung xã hội trong cuốn tiểu thuyết rất dồi dào và sâu
sắc. Chính tác giả đã nêu rõ ý định viết “những mẩu chuyện để tiêu khiển cho kẻ
đa sầu đa cảm, làm vui cho người độc giả vui tính, để cho anh dốt đọc vào không
chán, và cho nhà hiền triết cũng có thể nể nang” [8, 267]. Tuy nhiên, giá trị của
Don Qujote không chỉ khiêm tốn là vậy mà nó còn đặt ra vấn đề có ý nghĩa thời
đại, đó là ý nghĩa tố cáo cả một chế độ xã hội trong đó phê phán chính sách của
vua chúa Tây - Ban- Nha. Tập truyện còn đề cập vấn đề phụ nữ, vấn đề luân lý
gia đình, vấn đề tình yêu nam nữ một cách tinh tế, khéo léo.
Sức sống vĩnh cửu của tiểu thuyết Don Qujote không chỉ bởi những giá trị
về tư tưởng mà còn bởi giá trị nghệ thuật trong việc xây dựng nên nhân vật điển
Hà Nội cũng có một số trang phân tích bối cảnh xã hội Tây-Ban-Nha đương
thời và hình tượng sống động Don Qujote.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, người viết tập trung vào tìm
hiểu, phân tích nội dung phản ánh để từ đó thấy được ý nghĩa lịch sử cũng như
giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote”. Từ đó, người
viết tìm hiểu về những đóng góp của Cervantes trên phương diện nhận thức lịch
sử và xây dựng thể loại tiểu thuyết.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử- xã hội là phương pháp đặt hiện tượng văn học vào
bối cảnh của xã hội để nghiên cứu. Bằng cách đó, hiện tượng văn học sẽ được
nhìn nhận trong những mối quan hệ ngoại sinh, được đánh giá đúng với những
quy luật khách quan của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Việc nghiên cứu tiểu thuyết
Don Qujote không nằm ngoài phương pháp đó nhằm phản ánh đúng bối cảnh xã
hội, bức tranh sinh động của địa phương, thời đại Tây-Ban-Nha thế kỷ XVI.
Cùng với phương pháp lịch sử- xã hội là phương pháp tiếp cận văn hóa
học sẽ được vận dụng trong nghiên cứu về Don Qujote. Phương pháp tiếp cận
văn học từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn
hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm
triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con
người….từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về
các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ,…tức là giải
mã các hình tượng nghê thuật, tìm ra những dấu ấn thời đại của tác phẩm.
Ngoài ra, trong công trình này, phương pháp quan trọng mà chúng tôi vận
dụng đó là phương pháp nghiên cứu nhân vật văn học bởi nhân vật là phương
11
tiện đắc dụng để nhà văn khái quát cuộc sống một cách hình tượng đồng thời thể
hiện sinh động những ý đồ tư tưởng- nghệ thuật của nhà văn. Nhân vật chính
Don Qujote là đối tượng chính của việc nghiên cứu. Tuy nhiên, để làm nổi bật
hoá Phục hưng. Đây được coi là một cuộc vận động tư tưởng và văn hoá rất mực
hào hứng và quyết liệt mà cho đến bấy giờ loài người chưa từng biết tới. Italia
được coi là cái nôi khai sinh ra phong trào, sau đó lan rộng sang các nước Tây
Âu và Trung Âu.
Phong trào văn hoá Phục hưng là một cuộc vận động sôi nổi nhằm làm sống
lại những truyền thống tốt đẹp mà thời cổ đại Hi Lạp và La Mã sáng tạo ra, đã bị
thời Trung cổ phong kiến và Nhà thờ cắt đứt, đồng thời phải phát huy cao hơn
nữa truyền thống đó cho phù hợp với yêu cầu trước mắt. Như vậy, phong trào
văn hoá Phục hưng không chỉ đơn thuần là phong trào phục cổ mà nó còn phải
kế thừa, phát huy cao độ những giá trị nhân bản tốt đẹp của một thời đại hoàng
kim đã chìm sâu vào lịch sử. Vào thời trung cổ, giáo hội và nhà thờ là một thế
lực thống trị hắc ám, tồn tại như một màn đêm đen tối phủ kín bầu trời phương
Tây. Nó ràng buộc con người vào những luật lệ hà khắc, kìm hãm sự phát triển
không cho con người được phát huy hết sức mạnh của mình. Nó truyền bá nhân
sinh quan yếm thế, xem cõi đời là một thung lũng nước mắt, thiên đường mới là
cuộc sống đáng hướng tới. Giá trị và quyền sống của con người bị coi khinh,
nhường chỗ cho những thế lực tôn giáo thần thánh. Vì vậy phong trào văn hoá
Phục hưng dấy lên truyền thống trân trọng, đề cao con người, trái ngược hẳn với
13
thái độ coi rẻ, miệt thị con người thời Trung cổ. Đó là truyền thống đấu tranh cho
tự do của con người, trái ngược với nền chuyên chính, độc tài của phong kiến và
giáo hội. Điều đó đã nói lên nhu cầu, khát vọng của con người mới mong muốn
có một cuộc cách mạng làm thay đổi toàn bộ xã hội đương thời, đưa con người
hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Cuộc vận động tư tưởng và văn
hoá Phục hung là một cuộc cách mạng tinh thần, có ý nghĩa công phá hệ tư
tưởng phong kiến, thần quyền, thiết lập một nền tảng tư tưởng mới mang ý nghĩa
nhân đạo cao cả. Như một cơn mưa gột rửa những tối tăm bụi bặm của thời trung
cổ, cầu vồng đã mọc lên báo hiệu một cuộc sống mới, đầy ánh sáng sắc màu.
Phương tây như một người ngủ say bừng dậy sau đêm trường trung cổ, vững
lang thang tăng lên. Và điều quan trọng là vào thời điểm này người dân Tây-
Ban-Nha không ý thức được sự suy thoái hay thực trạng lịch sử mà họ đang
sống. Người ta chỉ lo sao đừng ốm, thời tiết đừng ảnh hưởng tới mùa màng và
đọc truyện kiếm hiệp giống như thói quen xem truyền hình của chúng ta bây giờ.
Những cuốn sách kiếm hiệp đó trở thành những liều thuốc mê lặng lẽ gặm nhấm
tinh thần con người. Đó là những cuốn sách bịa đặt, giả dối với những nhân vật
hư cấu đến mức vô lý, những cuộc phiêu lưu, những chàng hiệp sĩ đi mây về gió
để cuốn hút cám dỗ độc giả và gây ra những hậu quả hết sức tai hại. Thế giới
quan của độc giả bị biến dạng, bóp méo, hóa thành thiển cận. Bất bình trước
thực tại, Cervantes đã viết cuốn tiểu thuyết Don Qujote nhằm đả kích các sách
kiếm hiệp bằng cách nhại lại bằng chính hình thức tiểu thuyết hiệp sĩ. Từ đây,
15
văn học Tây-Ban-Nha nói riêng và văn học thời Phục hưng nói chung mở ra một
hướng đi mới mẻ và táo bạo.
Trong giai đoạn hậu kỳ Trung cổ, nhiều dòng văn học tiến bộ đã lên tiếng
phê phán nhà thờ, lên án sự ăn bám của giai cấp quí tộc, xây dựng được những
hình tượng chân thực, châm biếm gay gắt các tu sĩ, cố đạo, hiệp sĩ, nhưng không
đủ khả năng vẽ ra bức tranh hiện thực rộng lớn của thực tại trong những mối liên
hệ nội tại của nó. Chủ nghĩa lịch sử và tính biện chứng trong tư duy chưa thâm
nhập vào được trong nền văn học đó. Cho nên, có thể thấy chủ nghĩa hiện thực
của văn học thời Trung cổ rất bị hạn chế. Ở thế kỷ XIV-XVI, hàng loạt những
phát kiến địa lý vĩ đại và những phát minh trong lĩnh vực sản xuất và văn hóa
(sáng chế thuốc súng, máy in, phương pháp luyện kim mới,…) đã kích thích sự
phát triển những quan điểm hoàn toàn mới đối với thế giới. Từ đây, những thay
đổi về mặt tư tưởng đã bắt đầu được nhận ra. Trên cơ sở lịch sử mới, những quan
niệm của chủ nghĩa nhân đạo thời đại Phục hưng ngày càng bộc lộ rõ ràng.
Hướng về con người với lòng tin to lớn, các nhà nhân văn xem con người như là
một kỳ quan của thiên nhiên, như là người điều khiển vũ trụ, khâm phục tài
năng, trí tuệ của nó. Sechxpia đã truyền đạt sự đắm say trước trí lực và vẻ đẹp
xu hướng mô tả đời sống trong tính cụ thể về mặt lịch sử xã hội, trong những
mối liên hệ qua lại phức tạp bên trong của nó.
Xã hội càng phát triển và những mâu thuẫn xã hội càng sâu sắc, thì sáng tác
của các nhà văn càng có tính xã hội và mang tính thời sự hơn. Điều đó không đồng
nghĩa với việc văn học tăng cường phản ánh tính cụ thể trong cuộc sống hàng ngày.
17
Các truyện của Cervantes, Rabole, Sechxpia hay Bôcatsiô lẫn Sôxơ đều cố gắng giải
quyết những vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao. Nếu thời kỳ đầu của thời đại Phục
hưng, văn học hướng tới những say mê lạc thú thì các nhân vật thời Sechsxpia đã trở
thành những con người có trí tuệ, biết suy tư, đấu tranh tích cực với những lý tưởng
nhân đạo (Don Qujote, Păng-ta-gru-yen, Hămlet). Các nhân vật của thời Phục hưng
chín muồi về tư tưởng, bước lên vũ đài rộng lớn của đời sống xã hội, tự cảm thấy
mình có trách nhiệm đối với tương lai của xã hội loài người. Nên điều đó, có thể nhận
thấy ở Don Qujote không phải ngẫu nhiên, chàng quyết tâm rời bỏ quê hương, trải
qua biết bao trận đòn “thập tử nhất sinh”vì nghĩa.
Xây dựng hình tượng của một con người hành động hùng dũng, có những
đắm say mãnh liệt và quan tâm sâu sắc đến những vấn đề xã hội, các nhà nhân
văn đã khái quát hóa những nét điển hình của con người đương thời với mình.
Ăngghen đã giải thích sự toàn vẹn và sức mạnh trong tính cách con người thời
Phục hưng bằng lý do là họ đã sống chính giữa những mối quan tâm của thời đại
và tham gia một cách tích cực vào cuộc đấu tranh thực tiễn.
Nhân vật của thời đại Phục hưng đã mang trong mình ánh sáng phản chiếu
của một thời đại anh hùng, một thời đại đã sinh ra những người khổng lồ, những
cá tính con người sáng chói. Trong họ còn chưa thấy những dấu hiệu của sự tầm
thường nhỏ bé, sự phân đôi về tinh thần, một đặc điểm nổi bật đối với những đại
biểu của xã hội tư sản chín muồi. Cái riêng tư và cái xã hội hòa lẫn với nhau làm
một trong ý thức các nhân vật thời kỳ Phục hưng. Trong tâm hồn họ không có
chỗ cho các cuộc đấu tranh giữa “tình cảm” và “nghĩa vụ” vốn rất điển hình đối
với các nhân vật bi kịch của chủ nghĩa cổ điển sau này. Xã hội không đối lập với
chục năm diễn ra cuộc đấu tranh kịch liệt cho quyền lợi công xã chống phong
kiến. Văn hóa Phục hưng tràn lan trên bán đảo. Nghề in sách vừa phát minh, chỉ
trong nửa thế kỷ đã phát đạt rất mạnh, gieo vào đầu óc lớp thanh niên tri thức
những hạt giống táo bạo của thời đại. Thành phố quê hương của Cervantes là nơi
tập hợp mọi tầng lớp: quý tộc, tư sản, nhà giàu, nhà nghèo, người trong nước hay
người tứ xứ. Ở họ là đủ mọi tính cách mang dấu ấn của thời đại: nóng nảy, ồn ào,
thích học, thích biết và thích cãi vã, gây lộn. Cervantes được chứng kiến khá
nhiều cuộc ẩu đả kịch liệt xảy ra giữa các cậu học sinh đại học, đại biểu cho hai
giai cấp đối địch- tầng lớp quý tộc bảo thủ và những phần tử tư sản tích cực đấu
tranh.
Cervantes trải qua thời thiếu nhi trong cảnh thiếu thốn. Tuy nhiên, việc
học của cậu bé vẫn được duy trì thường xuyên bởi sự quan tâm của ông bố cậu.
Trong thời gian ở Madrid khi 14, 15 tuổi, Cervantes đã học tu từ học (Retovice)
và tiếng Latin. Cậu sớm thể hiện năng khiếu văn chương và trở nên đam mê với
các tên tuổi Virgile, Ovide, Arioste, Boccace và Petarque. Bài thơ đầu tiên của
Cervantes được ra đời nhờ sự giúp đỡ của ông quan thầy Juan Lôpơ -đơ Hoyos.
Trường học của Cervantes chính là trường đời, là những ngày vất vả cực nhọc.
Ngay từ thuở bé, cậu đã thấy bố mẹ chạy vạy, lo toan vì miếng ăn hàng ngày:
bán từng mẩu vườn, cầm cố nữ trang, trốn nợ, tịch thu tài sản,…
Năm 1570 Cervantes vào hải quân và ngày mồng 7 tháng Mười năm 1571
ông tham gia trận đánh ở Lê-pan-tô. Trong trận này, lực lượng đồng minh Ý-
Tây-Ban-Nha đã giáng cho lực lượng hải quân hùng mạnh của Thổ- Nhĩ- Kỳ một
đòn nặng. Trong cuộc chiến này, Cervantes bị hai vết thương vào ngực và tay
trái. Cervantes xuất viện vào tháng tư năm 1572 và tham gia chiến dịch Tuy-ni-
di. Từ cuối năm 1573 đến đầu tháng năm năm 1574 Cervantes ở lại Ý với đơn vị
20
của mình và năm 1575 ông được phép trở về Tổ quốc. Ông rời khỏi Na-plơ,
cùng em trai là Rô-đơ-ri-gô lên đường ra khơi. Ngày 26 tháng 9 năm 1576 chiếc
tuổi. Tác phẩm được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt và “bán chạy như bánh
thánh”. Tác phẩm của ông đã vượt qua lãnh thổ Tây-Ban-Nha sang bên châu Mỹ
và gắn với nó là rất nhiều giai thoại thú vị về sức mê hoặc của cuốn tiểu thuyết
này. Năm 1613 một tập tiểu thuyết mới dưới tên gọi Câu chuyện nhà kỵ sĩ Don
Qujote tiếp theo phần trước ra đời. Trong tay nhà đại văn hào, ngòi bút quả
không biết già.Tác phẩm của ông được cả thế giới hoan nghênh. Tên tuổi nhà
văn sĩ đã sáng tạo chân dung kỵ sĩ Don Qujote và Xan-chô vang lừng khắp Tây
Âu và ông được suy tôn làm người sáng tạo ra tiểu thuyết cận đại. Cho đến nay
tiểu thuyết này được tính là cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế
giới, chỉ sau Kinh Thánh.
Tiểu thuyết “Truyện hiệp sĩ trứ danh Don Qujote thuộc dòng Hi-đan-gô
xứ Măng-sơ” gồm có hai phần: Phần I có 52 chương, phần II có 74 chương có
thể được tóm tắt như sau: Phần I, nội dung kể về một lão quý tộc nghèo ở nông
thông tên là Ki-ha-đa, cao lênh khênh, tuổi quãng năm mươi, vì quá say mê các
truyện hiệp sĩ phiêu lưu nên mụ mẫm cả đầu óc, lúc nào cũng muốn trở thành
hiệp sĩ lang thang để phò nguy cứu khốn, diệt trừ yêu quái và lũ khổng lồ, lập lại
trật tự và công lí. Lão lục những đồ binh giáp đã han gỉ của tổ tiên, đem đánh
bóng và sửa chữa lại để vũ trang cho mình. Lão phong cho con ngựa gầy còm
của lão cái tên chiến mã Rô-xi-nan-tê, còn bản thân lão là nhà hiệp sĩ Don
22
Qujote xứ Măng sơ. Và để đúng “mốt” của một hiệp sĩ lang thang, phải có
người tình xinh đẹp, lão nhớ đến một phụ nữ nông dân lão thầm yêu thời còn trẻ,
và ban cho chị ta cái tên là công nương Đuyn-xi-nê-a. Nhà hiệp sĩ ra đi để làm
lễ thụ phong: quán trọ thành lâu đài, hai ả gái điếm thành hai công nương, gã
chủ quán và cuốn sổ chi tiêu thành lãnh chúa và cuốn Kinh Thánh. Lần ra đi thứ
nhất kết thúc bằng cuộc giao đấu giữa Don Qujote với những người lái buôn, vì
họ không chịu thừa nhận Đuyn-xi-nê-a là đẹp nhất trần gian khi mặt họ chưa
nhìn thấy nàng. Don Qujote bị đánh nhừ tử, may có một bác nông dân cùng làng
đưa về gia đình. Rồi Don Qujote lại ra đi, lần này có thêm một giám mã là bác
bị trêu chọc đủ đường. Cuối cùng, hai thầy trò bỏ tòa lâu đài “mất tự
do” ấy để ra đi. Bước ngoăt của tác phẩm là trận giao đấu giữa hiệp
sĩ Vầng trăng bạc- cậu tú Xam-sơn Ca-ra xcô với Don Qujote. Don
Qujote bị đánh ngã và phải cam kết trở về nhà, từ bỏ một năm cuộc
đời hiệp sĩ lang thang. Cuối cùng, kiệt sức vì những cuộc phiêu lưu
đầy đau buồn, thất vọng, Don Qujote ốm nặng. Đến lúc này, lão mới
nhận ra tai hại của những truyện hiệp sĩ. Lão viết di chúc và qua đời.
Ở tiểu thuyết “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote” nói riêng và những sáng tác
của là Cervantes nói chung, độc giả cảm nhận được một tâm hồn nhân văn chủ
nghĩa.Tác phẩm của ông phản ánh xã hội đương thời sâu sắc qua hệ thống nhân
vật với những nét tính cách điển hình. Người đọc được cười bởi những hành
động “hiệp nghĩa” của Don Qujote nhưng lại khóc trước những suy nghĩ của
chàng khi đã hiểu ra một cách sâu sắc nguyên nhân của những hành động ấy.
24
Hiệu quả nghệ thuật ấy có được là bởi Cervantes từ thuở thiếu thời đã hòa mình
vào cuộc sống của nhân dân với nông dân, thợ thủ công, những người ăn xin và
lang thang, tiếp xúc với ngôn ngữ và những cảnh bần cùng của họ, hiểu sâu sắc
và thông cảm với lòng căm thù của họ đối với những kẻ áp bức. Suốt đời, ông
sống với nhân dân và điều đó giải thích những đặc điểm sáng tác của ông: lòng
thương người rộng lớn, sự căm thù đối với mọi cảnh áp bức, nô lệ và một sự lừa
dối tình yêu tự do say sưa, không bao giờ thỏa hiệp và lòng yêu nước cao cả.
1.3.Cervantes và những nhà văn cùng thời đại
Thời đại Phục hưng có ý nghĩa lịch sử lớn lao vì đó là những thế kỷ có
chức năng chuyển giao giữa thời đại cũ và mới, giữa thời phong kiến và thời chủ
nghĩa tư bản. Đó là thời đại khi mà xã hội tư sản đang hình thành, khi mà những
người tư sản sáng lập xã hội đó còn chưa bị vướng víu bởi những ràng buộc
quyền lợi giai cấp của mình. Họ tự cảm thấy mình là đại biểu cho tất cả nhân loại
đau khổ, khi hiện thực còn mang tính anh hùng và có thể đưa ra những nhân cách
thường xuyên phát triển. Vua Lia và Hăm Lét, Juliet của Sechxpia, Laurenxia,
Phơ rôn đô xô của Lôpê đờ Vê ga đã biến đổi, Don Qujote của Cervantes hoàn
toàn không tĩnh tại. Tính biến động nội tâm của hình tượng đã tăng thêm sức
sống và sức biểu cảm của nghệ thuật của nó.
Châu Âu thế kỷ XVI, những mâu thuẫn của xã hội mới chưa lộ ra một
cách đầy đủ, các nhà văn chưa đủ sức khám phá ra những đặc điểm của một thời