Ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thẩm mỹ của ảnh nghệ thuật
Khi phân tích lý luận ảnh nghệ thuật, có lẽ nên đề cập đến cả vị trí của
ảnh nghệ thuật trong nền văn hóa hiện đại và vai trò của nó trong việc
phát triển thẩm mỹ của xã hội.
Hai điều sau đây có lẽ đều có một ý nghĩa nhất định. Một là, ảnh nghệ
thuật là một loại hình nghệ thuật duy nhất được hình thành trên cơ sở
phối hợp gốc tài liệu - tạo hình với gốc nghệ thuật. Hai là, sau mấy
chục năm tồn tại, nghệ thuật nhiếp ảnh đã trở thành một trong những
hình thức hoạt động nghệ thuật có tính chất quần chúng rộng rãi nhất.
Cả hai điều này không thể không có những kết quả cực kỳ quan trọng
và rất phong phú chứa đựng tính chất của nền văn hóa chung, tính chất
tâm lý xã hội, tính chất tư tưởng và đặc biệt là tính chất thẩm mỹ.
Để làm sáng tỏ những kết quả này, trước hết chúng ta thấy rằng hình
tượng chứa đựng tài liệu lấy từ cuộc sống thực tế do con người bắt lấy
được nhờ kỹ thuật nhiếp ảnh đã không ngừng nâng cao vai trò thông tin
chính xác trong mọi phạm vi tiếp xúc của con người. Trong hoạt động
của con người, mặc dù ấn tượng do con mắt để lại thật vô cùng lớn (để
chứng minh có thể dẫn ra đây nhiều tài liệu thú vị có tính chất tâm sinh
lý, và có thể làm nhớ lại câu ngạn ngữ “trăm nghe không bằng một
thấy”). Song khả năng ghi nhận tin tức, và truyền đạt tin tức trong cả
một kỷ nguyên trước khi nhiếp ảnh ra đời xem ra thật vô cùng ít ỏi.
Nguyên nhân của tình trạng này không phải chỉ vì việc vẽ, khắc họa
hoặc nặn có lắm thứ thủ tục kỹ thuật phức tạp, mà chủ yếu là vì mọi
phương pháp diễn tả cuộc sống “bằng tay” đều mất đi tính chính xác.
Bởi lẽ chúng ta không thể biết được bức vẽ, bức khắc chạm, bức tranh,
bức tượng tái hiện lại hình thù đối tượng chính xác đến mức nào, bởi lẽ
chúng ta không bao giờ biết được những tác phẩm ấy thoát ly thực tế,
xuyên tạc thực tế và bịa đặt thêm đến mức nào…
Đúng là sự giới hạn này của 0những phương tiện tạo hình cũ đã được
khắc phục bởi nhiếp ảnh. Bức ảnh trình bày trước mắt chúng ta là một
hình không phải là quan hệ cạnh tranh mà là quan hệ hợp tác nhằm giải
quyết các nhiệm vụ chung: nâng cao hiệu quả công tác thông tin bằng
mắt trong đời sống tinh thần của con người hiện đại, và trong việc biến
công tác này thành tài sản của đông đảo quần chúng nhân dân.
Tất cả những điều nói trên có lẽ liên quan tới nhiếp ảnh nói chung chứ
không riêng ảnh nghệ thuật. Ý nghĩa có tính chất đặc trưng của ảnh
nghệ thuật là ở chỗ nó kết hợp tài trí nghệ thuật với việc phản ánh thế
giới hiện thực một cách chính xác về tài liệu. Tức là sau khi rút ngắn
khoảng cách giữa nghệ thuật và thực tế, ảnh nghệ thuật bắt đầu nâng
cao ý thức thẩm mỹ của con người ngày nay bằng cách ghi lại một cách
có nghệ thuật các sự kiện có thực trong đời sống.
Khuynh hướng này xuất hiện trong thời đại chúng ta và trở thành phổ
biến đến mức nên coi đó như là một hiện tượng tâm lý – xã hội độc
đáo. Ở phần trước chúng tôi đã dẫn ra mỗi ví dụ chứng minh cho sự ra
đời của một số thể loại có tính chất tài liệu trong văn học hiện đại,
trong điện ảnh, trong sân khấu ngày nay. Những ví dụ do có lẽ nói lên
rằng trong thời đại chúng ta, con người luôn luôn đòi hỏi được hiểu biết
chính xác cái gì đang xảy ra trên thế giới; đòi hỏi có quyền không tin
bất cứ sự bịa đặt nào, bất cứ sự tưởng tượng nào không dựa trên tài liệu
chính xác của sự kiện. Tất nhiên không phải ảnh nghệ thuật “xúi dục”
người ta đòi hỏi như vậy, nhưng chính ảnh nghệ thuật là “kẻ đầu trò”
kích thích, củng cố và phát triển những đòi hỏi đó.
Để đánh giá vai trò của nghệ thuật nhiếp ảnh trong việc làm cho sự
thống nhất tính nghệ thuật với tính tài liệu phù hợp với nhu cầu xã hội,
cần phải tính tới sức nặng của cái ấn tượng do ảnh gây ra trong toàn bộ
kinh nghiệm thẩm mỹ bằng mắt của chúng ta. Bởi vì nếu như trong nền
văn hóa trước đây, sự cảm thụ bằng mắt được nuôi dưỡng từ lúc ấu thơ
bằng những bức tranh, bức họa trong an-bum gia đình, hoặc bằng
những tiểu phẩm chân dung, và nếu như trong thời cổ xưa, sự cảm thụ
bằng mắt được nuôi dưỡng từ lúc ấu thơ bằng những bức tranh thánh
dựng cũng của chính tác giả đó, thì họ sẽ bắt đầu tự nhận ra và đánh giá
được về mặt thẩm mỹ những cấu trúc nhịp nhàng tương tự trong thiên
nhiên và trong hoạt động sống của con người. Nhờ cách cảm thụ của
ảnh nghệ thuật dẫn dắt, con mắt ta bắt đầu tìm kiếm một cách tự giác
hoặc không tự giác những cấu trúc nhịp nhàng, đẹp đẽ và hấp dẫn. Do
ảnh hưởng của nghệ thuật nhiếp ảnh, cái nhìn trở nên tích cực hơn, có
khuynh hướng thẩm mỹ rõ ràng hơn và cuối cùng, con mắt người do
cái máy ảnh chỉ huy ở một mức độ nào đó, gần giống cái nhìn của
người nghệ sĩ. Nghệ thuật nhiếp ảnh có khả năng dậy cho rất nhiều
người cách nhìn thế giới bằng đôi mắt của người nghệ sĩ.
Giá trị đặc biệt của ảnh nghệ thuật - một vũ khí giáo dục thẩm mỹ -
chính là ở chỗ dường như hầu hết quần chúng đều ưa thích nó. Ngày
nay thật khó hình dung ra tờ báo hoặc tạp chí nào lại không giới thiệu
trên những trang của mình, những tác phẩm ảnh nghệ thuật. Chúng ta
nhìn thấy ảnh hàng ngày không phải chỉ trong nhà ta ở mà cả trong
những lĩnh vực khác nhau của xã hội, tại các tủ trưng bày và các phòng
triển lãm, trên các áp-phích và bảng quảng cáo, trong các sách in và an-
bum, cuối cùng là trong các cuộc triển lãm nghề nghiệp và các sách báo
nghiệp vụ. Như vậy, nghệ thuật nhiếp ảnh giúp vào việc giáo dục thẩm
mỹ cho tất cả mọi người trong xã hội, nhưng trong xã hội chủ nghĩa cần
được đánh giá đặc biệt cao.
Cùng với việc đó, có một vấn đề rất trọng yếu nữa là tính quần chúng
của ảnh không phải chỉ biểu hiện ở chỗ nó dễ hiểu, mà còn biểu hiện ở
chỗ nó dễ làm. Trong tuyệt đại đa số trường hợp, hầu như ngày nay mỗi
người sử dụng máy ảnh đều đặt ra cho mình nhiệm vụ vừa có tính chất
tài liệu, vừa có tính chất nghệ thuật, chứ không phải chỉ làm nhiệm vụ
tài liệu đơn thuần. Tất nhiên là mức độ giác ngộ về mục đích nghệ thuật
và hơn thế nữa, kết quả của việc thực hiện những ý đồ nghệ thuật đó ở
những người chụp ảnh không chuyên nghiệp còn rất khác nhau. Cũng
như trong bất cứ lĩnh vực hoạt động sáng tác nghệ thuật nao, tất cả đều
nghĩa cộng sản cũng đặt ra cho mình, nhiệm vụ này. Sự phát triển rất
rộng tất cả các ngành nghệ thuật hoạt động độc lập ở nước ta nói lên
rằng nhiệm vụ này đã được đặt ra và đã được thực hiện.
Đó đây người ta đã huy động mọi khả năng tiềm tàng của nghệ thuật
nhiếp ảnh. Nếu như nhà trường cũng đưa nhiếp ảnh vào chương trình
giảng dạy của mình, coi đó như là một vũ khí cần phải nắm vững để thu
lượn tin tức, thông tin khoa học và thông tin nghệ thuật thì nhà trường
sẽ đóng vai trò đặc biệt to lớn trong việc giáo dục thẩm mỹ cho nhân
dân hơn là vai trò của nó có hiện nay trong việc phát triển khả năng
sáng tác nghệ thuật ở tất cả mọi người, ở mỗi thành viên của xã hội. Và
điều đó tất nhiên cũng góp phần xác định vị trí và vai trò của nghệ thuật
nhiếp ảnh trong việc phát triển nghệ thuật của loài người.
Cuối cùng, ảnh nghệ thuật có ý nghĩa tư tưởng rất lớn. Nó thực sự “mở
mắt cho mọi người” nhìn thấy giá trị tinh thần và xã hội nằm trong các
sự kiện đời sống mà con người chứng kiến rõ ràng qua ảnh.
Ảnh nghệ thuật phụ thuộc vào việc người nghệ sĩ nhiếp ảnh hướng sự
chú ý của người xem vào những cảnh ngộ nào, sự kiện nào, hiện tượng
nào: phụ thuộc và việc anh ta buộc người xem phải cảm xúc, đánh giá
và suy nghĩ như thế nào về những cái mà anh ta giới thiệu với họ; phụ
thuộc vào việc anh ta đặt ra cho người xem lập trường tư tưởng – tâm
lý nào thể hiện trong cái mà anh ta chọn đưa vào bức ảnh, phụ thuộc
vào vào việc anh ta đem lại cho người xem tin tức về một trạng thái
tinh thần nào thông qua những tác phẩm của mình. Phụ thuộc vào tất cả
những cái đó, ảnh nghệ thuật chứa đựng một nội du ng tư tưởng nhất
định nào đó, rất gần gũi với các phạm trù đạo đức, chính trị và tư
tưởng, và đã trở thành một vũ khí đấu tranh tư tưởng. Tuỳ ở tư tưởng
giai cấp của người chụp, ảnh nghệ thuật có thể nhân đạo hoặc vô nhân
đạo, có thể thiện hoặc ác, có thể khám phá ra sự thật cho con người,
hoặc lại nói dối người ta thông qua tính tài liệu, có thể giáo dục cho con
người lòng tự hào hoặc sự khinh bỉ lẫn nhau, có thể chứa đựng đạo đức