Hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên (qua khảo sát một số tác phẩm sử thi Ê Đê, Ba Na, Mơ Nông - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ HOÀNG HIẾU
HÔN NHÂN TRONG SỬ THI TÂY NGUYÊN
(Qua khảo sát một số tác phẩm sử thi
Ê Đê, Ba Na, Mơ Nông) LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. Nguyễn Xuân Kính

24
1.2.2. Hôn nhân ở các dân tộc Tây Nguyên và hôn nhân trong
sử thi Tây Nguyên

30
Chương 2: Những đặc điểm của hôn nhân mẫu hệ và những báo
hiệu của hôn nhân phụ hệ được phản ánh trong sử thi Tây Nguyên

34
2.1. Những đặc điểm của hôn nhân mẫu hệ
34
2.1.1. Sự chủ động của người phụ nữ trong hôn nhân
35
2.1.2. Hình thái hôn nhân cư trú bên vợ
39
2.1.3. Uy quyền của người phụ nữ trong đời sống hôn nhân -
gia đình

41
2.1.4. Chuê nuê - một tập tục độc đáo trong văn hoá mẫu hệ Ê Đê
44
2.2. Những báo hiệu của hôn nhân phụ hệ
46
2.2.1. Sự chủ động của người đàn ông trong hôn nhân
46
2.2.2. Những dấu hiệu của hôn nhân đa thê
49
2.2.3. Hình thái hôn nhân cư trú không hoàn toàn theo bên vợ
53
2.3. Hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên - nấc thang quá độ từ

82
4.1. Hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên: hôn nhân đối ngẫu
82
4.1.1. Sự có mặt và dấu ấn của tình yêu trong hôn nhân
82
4.1.2. Sự sở hữu và tính ghen tuông
85
4.1.3. Hiện tượng hôn nhân cướp đoạt
89
4.1.4. Sự tính toán lợi - hại và hiện tượng mua bán trong hôn
nhân
90
4.2. Bức tranh xã hội Tây Nguyên trong ánh hồi quang của
thời đại sử thi

95
Kết luận
101
Tài liệu tham khảo
104
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giở trang sách đầu tiên để bước vào thế giới của Ramayana và
Mahabharata, người đọc sẽ bắt gặp một câu nói nổi tiếng của người Ấn - mà
cùng với thời gian - đã được "đóng đinh" như một chân lí:
"Cái gì không có ở trong đó thì cũng không có ở bất kì nơi nào trên

Sử thi Tây Nguyên là một kho báu, nhưng trong một thời gian dài,
kho báu ấy đã tồn tại âm thầm trong sự thờ ơ của người đời. Người mở
đường cho công việc sưu tầm, giới thiệu sử thi Tây Nguyên là Leopold
Sabatier, với sự kiện lần đầu tiên nhà nghiên cứu người Pháp công bố sử thi
Đam Săn (Dăm Săn) vào năm 1927. Kể từ đó, nhiều công trình sưu tầm sử
thi Tây Nguyên do người Việt Nam thực hiện đã có mặt: Trường ca Tây
Nguyên, Trường ca Xing Chi Ôn, Cây nêu thần, trường ca Mnông, Giông
nghèo tám vợ, Tre vắt ghen ghét Giông, Dyông Dư, Bia Brâu,…
Từ năm 2001, Dự án “Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất
bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” được triển khai đã kéo dài danh sách các
tác phẩm sử thi Tây Nguyên.
Hơn nửa thế kỉ sau khi kiệt tác Dăm Săn được giới thiệu, những công
trình nghiên cứu đích thực về sử thi Tây Nguyên mới xuất hiện.
Trước hết, phải kể đến tác giả Võ Quang Nhơn (1981) với luận án phó
tiến sĩ Về thể loại sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên. Sự quan tâm
của tác giả này đối với sử thi Tây Nguyên còn được thể hiện trong công trình
Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (1983). Một năm sau khi
PGS. Võ Quang Nhơn qua đời, năm 1996, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho in
cuốn sách Sử thi anh hùng Tây Nguyên - nội dung cuốn sách dựa trên phần
lớn nội dung luận án phó tiến sĩ của ông.

8
Năm 1989, luận án tiến sĩ Những đặc điểm cơ bản của sử thi khan ở
Việt Nam của Phan Đăng Nhật được bảo vệ. Năm 1991, nội dung bản luận
án được tóm tắt và soạn thành sách Sử thi Ê Đê. Tác giả này còn có hai công
trình quan trọng khác là Vùng sử thi Tây Nguyên (1999) và Nghiên cứu sử
thi Việt Nam (2001).
Năm 2006, Buôn Krông Thị Tuyết Nhung - một người con của Tây
Nguyên - đã hoàn thành luận án tiến sĩ ngữ văn, đề tài Văn hoá mẫu hệ trong
sử thi Ê Đê.

mạnh nhưng đã bắt đầu lung lay và một bên là thế lực người đàn ông, tuy có
vẻ lẻ loi, nhưng tràn đầy sức mạnh tươi trẻ, đang trỗi dậy mạnh mẽ thông
qua việc phân tích thái độ, hành động của Dăm Săn trong cuộc hôn nhân
“nối nòi” với Hơ Nhí… Như vậy, tác giả Võ Quang Nhơn đã chỉ ra một vài
khía cạnh xung quanh vấn đề hôn nhân, tuy nhiên, sự trình bày ấy chưa đủ
để chúng ta hình dung ra một bức tranh tổng thể về đời sống hôn nhân được
phản ánh trong sử thi Tây Nguyên.
Trong các công trình của mình, tác giả Phan Đăng Nhật cũng đã phần
nào đề cập đến vấn đề hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên. Trong phần viết
về “Nội dung, đề tài của sử thi Tây Nguyên” thuộc cuốn sách Vùng sử thi
Tây Nguyên (1999), ông đã trình bày về vấn đề lấy vợ của người anh hùng
sử thi Tây Nguyên. Đề tài ấy - theo ông - thể hiện qua ba điểm đáng chú ý:
anh hùng cướp người đẹp về làm vợ, anh hùng giành lại người vợ bị cướp,
anh hùng cứu người đẹp và lấy làm vợ. Viết về đề tài đánh giặc của người
anh hùng, Phan Đăng Nhật đã chỉ ra ba mục đích của việc “đánh giặc” là đòi

10
vợ, trả thù và lấy vợ. Như vậy, bằng cách đó, tác giả đã cho ta thấy mối quan
hệ giữa hôn nhân - chiến tranh được phản ánh trong sử thi Tây Nguyên, tuy
nhiên, do đây là một công trình mang tính “đại cương” về sử thi Tây
Nguyên, nên tác phẩm không đi sâu vào phân tích kĩ mối quan hệ đó.
Trong luận án của mình, Buôn Krông Thị Tuyết Nhung đã dành một
phần để viết về văn hoá mẫu hệ Ê Đê qua đề tài hôn nhân. Tuy nhiên, do
giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, phần viết đó chưa mang đến cho
người đọc một cái nhìn bao quát về hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên.
Ngoài ra, có thể kể đến một số bài viết đề cập đến những khía cạnh
khác nhau xung quanh vấn đề hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên như: “Cuộc
cầu hôn anh hùng trong sử thi Ê Đê và Mã Lai” của N. Niculin, “Chân dung
chế độ mẫu hệ trong sử thi Dăm Săn” của Chu Thái Sơn trong cuốn sách Sử
thi Tây Nguyên (1998); các ý kiến của các tác giả L. Sabatier, G.

+ Dăm Săn
* bản 1: Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Hữu Thấu, Hà Công Tài
biên dịch, giới thiệu in trong sách Đam Săn sử thi Ê Đê.
* bản 2: Y Nuh Niê (nghệ nhân hát kể); Đỗ Hồng Kỳ, Y Wơn
Kna (sưu tầm); Y Wơn Kna (phiên âm); Y Wơn Kna, Y Jek Niê
Kdăm, Y Kô Niê Kdăm (dịch sang tiếng Việt); Đỗ Hồng Kỳ
(biên tập văn học) (thuộc bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên).
+ Mdrong Dăm Y Nuh Niê (nghệ nhân hát kể); Đỗ Hồng Kỳ, Y Wơn,
Nguyễn Thanh Đỉnh (sưu tầm); Ama Bik (phiên âm); Y Điêng (dịch sang
tiếng Việt), Đỗ Hồng Kỳ (biên tập văn học), (thuộc bộ Kho tàng sử thi Tây
Nguyên)
+ Chàng Mơ Hiêng: Bùi Khắc Trường, Y Thi sưu tầm

12
+ Dăm Tiông: Trương Bi, Kna Y Wơn sưu tầm, biên soạn
- Sử thi Ba Na:
+ Đăm Noi: Đinh Văn Mơl kể, Phạm Thị Hà dịch
+ Giông đạp đổ núi đá cao ngất: A Lưu (nghệ nhân hát kể); Võ
Quang Trọng (sưu tầm); A Tưr (phiên âm tiếng Ba Na); A Jar, Y Kiưch
(dịch sang tiếng Việt); Võ Quang Trọng (biên tập văn học), (thuộc bộ Kho
tàng sử thi Tây Nguyên)
+ Giông cứu nàng Rang Hu: A Hon (nghệ nhân hát kể); Phạm Cao
Đạt, Võ Quang Trọng (sưu tầm); A Jar (phiên âm và dịch sang tiếng Việt);
Võ Quang Trọng (biên tập văn học), (thuộc bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên)
+ Giông đi tìm vợ: A Đen (nghệ nhân hát kể); Võ Quang Trọng, Phạm
Cao Đạt (sưu tầm); A Thút, A Jar (phiên âm và dịch sang tiếng Việt); Võ
Quang Trọng (biên tập văn học), (thuộc bộ Kho tàng sử thi Tây Nguyên)
- Sử thi Mơ Nông:
+ Tiăng cướp Djăn, Dje: Điểu Klung (nghệ nhân hát kể); Đỗ Hồng
Kỳ, Vũ Đức Cường (sưu tầm); Điểu Kâu (phiên âm, dịch sang tiếng Việt);

Nguyên
Chương 4: Vấn đề hôn nhân đối ngẫu và bức tranh xã hội Tây Nguyên
trong ánh hồi quang của thời đại sử thi
14 15
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỂ LOẠI SỬ THI VÀ VẤN ĐỀ HÔN NHÂN
1.1. Sử thi và sử thi Tây Nguyên
1.1.1. Sử thi
1.1.1.1. Thuật ngữ “sử thi”
a. “Sử thi” là thuật ngữ tương đương với épopée (tiếng Pháp) và epic
(tiếng Anh). Theo Bách khoa toàn thư Mĩ [79], “sử thi” bắt nguồn từ từ epos
(tiếng Hy Lạp), mà ban đầu có nghĩa là “từ” (word), sau đó là “bài diễn văn”
(speech) hoặc “bài hát” (song), và cuối cùng là “áng thơ” ca ngợi sức mạnh,
lòng quả cảm và sự nghiệp phi thường của những anh hùng.
Theo GS. Đinh Gia Khánh, sử thi bắt nguồn từ từ nguyên tiếng Hy
Lạp là epopoiia, mà người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là nhà triết học
Arixtốt. Với nghĩa là kể chuyện, tự sự; phạm vi của thuật ngữ epopoiia bao
trùm tất cả các loại truyện nói chung - văn xuôi cũng như văn vần. Nhưng ở
thời Arixtốt, thì epopoiia trước hết được dùng để nói về các tác phẩm thơ ca
trường thiên rất nổi tiếng Iliat và Ôđixê.[72, 33]
Cũng xuất phát từ đó mà người đời sau thường gọi các tác phẩm đồng

loại hình văn học - đơn vị cao nhất, bao trùm nhất: sử thi, trữ tình và kịch.
Thuật ngữ “sử thi” này tương đương với thuật ngữ “tự sự”. Trong cách hiểu
thứ hai, “sử thi” được dùng để chỉ một thể loại văn học xác định, tồn tại một
cách lịch sử - cụ thể. Trong cách hiểu thứ ba, “sử thi” được hiểu như là một

17
phẩm chất, một thuộc tính, một đặc điểm của nền văn hóa mới, chủ yếu là
văn học hiện thực chủ nghĩa, hoặc một trình độ, một cấp bậc của tư duy nghệ
thuật, một phương thức tiếp cận, khai thác đối tượng. [72, 95 - 97]
Trong đề tài này và kể từ đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ sử thi với
tư cách là một thể loại văn học.
1.1.1.2. Nguồn gốc của sử thi
Trong gần suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của mình, sử
thi đã “thống trị” cả nền văn học và văn hóa. Homer, người xây dựng nên
Iliat và Ôđixê vẫn luôn được tôn vinh là “người-thầy-tối-cao” của nền văn
hóa Hi Lạp cổ đại, còn những tác phẩm vĩ đại của ông vẫn luôn được đánh
giá như một thế giới thu nhỏ của nghệ thuật và tri thức loài người. Sử thi
tiếng Latinh Aeneid - một tác phẩm của Virgil được xem là có tầm ảnh
hưởng lớn thứ hai (sau Kinh Thánh) đối với đời sống văn hóa của con người
thời Phục hưng, còn tác giả của nó thì được công nhận là một hình-mẫu-
kinh-điển cho các thế hệ nhà thơ sau này… Các nhà phê bình và các đại thi
hào thế giới như Dante, Vida, Sidney, Tasso, Dryden và Pop đều “đóng dấu
chứng nhận” sử thi như là một đỉnh cao nghệ thuật.
Vậy, với tư cách là một hệ thống nghệ thuật, sử thi bắt nguồn từ đâu?
Phần lớn giới khoa học đều nhất trí rằng: “Sử thi đã hình thành trên
nền tảng văn hóa văn nghệ dân gian thời sơ sử (protohistoire) và thời cổ đại
(antiquité), trước hết là trên nền tảng thần thoại” [72, 34]. Điều đó có nghĩa
là giữa sử thi và thần thoại có không ít phần giao thoa và chính vùng giao
thoa ấy đã khiến cho thần thoại và những hình thức ban đầu của sử thi
1

Nhân vật chính trong thần thoại - tất nhiên là các vị thần. Nhưng cùng
với thời gian, nhân vật anh hùng đã dần thay thế thần linh, và các câu

2
Nội dung chủ yếu của thần thoại không phải là hiện thực nghệ thuật mà là nội dung duy
tâm, còn với sử thi, cái chủ yếu là nghệ thuật mà cụ thể hơn là sự chiếm lĩnh hiện thực
khách quan bằng hình tượng.

19
chuyện này được cải biên, được “phối” lại để phù hợp với nhân vật anh
hùng. Trong tác phẩm sử thi cổ nhất trên thế giới Gilgamesh, nhân vật chính,
người hùng Gilgamesh 2/3 là thần, chỉ 1/3 là người. Nhưng đến Iliat và
Ôđixê, Homer đã thực sự nhìn thấy vị trí trung tâm của con người, ở đây,
thần linh chỉ đứng hàng thứ yếu…
Tóm lại, sử thi không thể xuất hiện ở giai đoạn mông muội mà chỉ có
thể “thoát thai” ở giai đoạn dã man. Lúc đó, cùng với sự phát triển của sản
xuất, con người không còn hoà lẫn, lệ thuộc vào thiên nhiên mà đã bắt đầu
tách ra, ý thức về mình. Chính cái “tập thể nguyên thủy” dám “bứt” mình ra
khỏi thiên nhiên ấy đã trở thành nhân vật chân chính, nhân vật đích thực của
sử thi.
1.1.1.3. Sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại
Sử thi được hình thành từ những tiền đề kinh tế - xã hội trong những
giai đoạn lịch sử nhất định; và đến lượt nó, sử thi lại trở thành tấm gương
phản chiếu lịch sử. Học giới phân biệt hai loại sử thi cổ sơ và cổ đại.
Như trên đã nói, “sử thi ra đời trên cơ sở sự đồng hóa và thâm nhập
lẫn nhau giữa các bộ lạc để trở thành liên minh bộ lạc, một tổ chức tiền quốc
gia để rồi sau đó tiến lên hình thành quốc gia cổ đại” [72, 34]. “Tương ứng
với quá trình kết hợp các bộ lạc để trở thành liên minh bộ lạc là quá trình kết
hợp các thần thoại của các bộ lạc ấy để trở thành sử thi cổ sơ. Tương ứng với
quá trình kết hợp các liên minh bộ lạc để trở thành quốc gia cổ đại là quá

Tóm lại, trong đề tài này, khái niệm sử thi được chúng tôi hiểu là một
thể loại tự sự dân gian, xuất hiện sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc;

21
nhằm ngợi ca sự nghiệp vĩ đại của những anh hùng, tái dựng một hiện thực
xã hội rộng lớn và sống động mà "điểm nhấn" là những biến cố trọng đại
mang tính bước ngoặt đối với cộng đồng; thường chứa đựng những yếu tố kì
vĩ, phi thường, thấm đẫm màu sắc huyền thoại.
1.1.2. Sử thi Tây Nguyên
1.1.2.1. Vùng sử thi Tây Nguyên
Tây Nguyên là một vùng văn hóa phong phú và độc đáo. Bên cạnh âm
nhạc cồng chiêng, tín ngưỡng và nghi lễ nhà mồ thì sử thi cũng là một di sản
văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất bí ẩn này.
Các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên thuộc về hai nhóm ngôn ngữ - tộc
người là Môn - Khơ Me (như Ba Na, Xơ Đăng, Mơ Nông…) và Nam Đảo
(Ê Đê, Gia Rai…). Kể từ khi kiệt tác Dăm Săn được L. Sabatier công bố vào
năm 1927, cho đến nay đã có hàng trăm tác phẩm sử thi (là con số thống kê
chưa đầy đủ) được tìm thấy ở cả hai nhóm ngôn ngữ - tộc người, trên tất cả
các tỉnh Tây Nguyên: Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng,
Bình Phước, Ninh Thuận, Phú Yên. Bởi vậy, sử thi ở đây là tài sản chung
của một vùng chứ không phải là của riêng dân tộc hay nhóm dân tộc nào.
Thậm chí, nó còn xứng đáng là giá trị văn hóa tiêu biểu và nổi bật của Việt
Nam; bởi sự có mặt của nó đã góp phần làm giàu cho kho tàng sử thi các dân
tộc trên thế giới. Với những lí do ấy, chúng ta hoàn toàn có thể nói đến một
vùng sử thi Tây Nguyên.
1.1.2.2. Sử thi Tây Nguyên là sử thi cổ sơ
Giới nghiên cứu folklore ở Việt Nam nhìn chung đều nhất trí rằng,
theo cách phân loại hiện nay thì sử thi Tây Nguyên thuộc loại sử thi cổ sơ, ra
đời vào thời kì cuối của xã hội tiền giai cấp, tiền nhà nước. Trước Cách


người Mơ Nông là một ví dụ điển hình.
- Phản ánh cuộc “chiến tranh” giữa các thủ lĩnh (Mtao) của các làng,
nhằm khuất phục và xác lập quan hệ phụ thuộc, để tập hợp cư dân và chừng
nào tích lũy của cải. Nó thể hiện một xu hướng phát triển lịch sử - xã hội của
một tộc người ở Tây Nguyên, nhất là qua sử thi khan của người Ê Đê.
- Phản ánh một số quan hệ xã hội, nhất là những xung đột và mâu
thuẫn xã hội của công xã mẫu hệ hậu kì, các phong tục tập quán cổ truyền
của dân tộc. Về phương diện này, chúng ta đều thấy rõ hơn ở loại sử thi anh
hùng - thiết thế xã hội của người Ê Đê” [72, 54].
Thực vậy, sử thi Tây Nguyên xứng đáng là một “cuốn từ điển sống”
về các dân tộc Tây Nguyên. Sử thi đã mở ra một không gian đậm chất Tây
Nguyên với núi đồi bao la, rẫy lớn nương to và những vùng đất đỏ bạt ngàn.
Qua sử thi, con người đương đại sẽ hiểu hơn về những phong tục, tập quán,
tín ngưỡng và những đặc trưng văn hóa của người Tây Nguyên. Chúng ta
biết được cách phục sức của người phụ nữ Ê Đê, của người đàn ông Ba
Na… Chúng ta cũng biết được người Tây Nguyên tiếp đãi khách thế nào, tổ
chức ngày hội ăn năm uống tháng và làm lễ dựng nhà mồ ra sao. Chúng ta
còn bị lôi cuốn bởi nét độc đáo của tục đi rừng, tục chơi quay thả diều hay
tục gái hỏi chồng theo một phong cách rất “Tây Nguyên”. Tóm lại, sử thi
Tây Nguyên là một kho tư liệu sống, là cuốn bách khoa thư chân thực về
cuộc sống của con người trên mảnh đất Tây Nguyên…
1.1.2.4. Sử thi Tây Nguyên là sử thi “sống”

24
Khác với hầu hết các sử thi trên thế giới chỉ tồn tại qua sách vở, sử thi
Tây Nguyên vẫn “sống” trong đời sống cộng đồng - nghĩa là sử thi còn được
lưu truyền, được trình diễn trong một số dịp sinh hoạt cộng đồng nhất định.
“Sử thi đối với đồng bào Tây Nguyên không phải chỉ là một loại hình văn
học dân gian mà nó là một loại hình diễn xướng dân gian, bao gồm cả nghệ
thuật ngôn từ, ca hát âm nhạc và một chút của nghệ thuật sân khấu. Việc

về được và không hạ cánh xuống linh hồn người kể. Và vì thế, hơmon sẽ trở
nên khô cứng, nhợt nhạt, nhợt nhạt như một cây gỗ chết đứng trơ trọi giữa
những gốc cây chưa cháy hết của một mảnh rẫy” [72, 56].
Còn đây là hình thức hát kể hơ m’uan của người Xơ Đăng qua lời
miêu thuật của PGS. Võ Quang Trọng - người sưu tầm sử thi Dăm Duông
hóa cọp: Khi trình diễn hơ m’uan, “tuy nghệ nhân A Ar (người hát kể sử thi
Dăm Duông hóa cọp - VHH) không làm điệu bộ, động tác nhưng qua giọng
điệu chúng ta vẫn dễ dàng cảm nhận ông đang diễn xướng. Trong mỗi câu
chuyện mà ông hơ m’uan, nhiều âm thanh được nghệ nhân diễn tả khá cụ
thể. Đó là tiếng vó ngựa, lục lạc, tiếng gió thổi, tiếng suối reo, tiếng chim hót
ca, tiếng đàn, âm thanh của giông bão, khói lửa, tiếng va chạm của các khí
cụ… Trong lúc nghe hơ m’uan, chúng ta cũng cảm nhận được nhiều cung
bậc tình cảm lúc nhẹ nhàng êm đềm, lúc mạnh mẽ dồn dập…
Người Xơ Đăng hơ m’uan trong những điều kiện khác nhau nhưng tư
thế phổ biến nhất vẫn là nằm và ngồi tựa vào vách khi hát kể. Những nghệ
nhân được chúng tôi hỏi chỉ trả lời đơn giản: Thường câu chuyện dài nên
nằm ngửa, tay vắt lên trán và mắt nhắm là tư thế thoải mái nhất để có thể kể
câu chuyện hết đêm này qua đêm khác”[1, 19 - 20].

26
Tóm lại, là một bộ phận của sử thi thế giới, sử thi Tây Nguyên vừa
mang các thuộc tính cơ bản của thể loại sử thi nói chung lại vừa có những
sắc thái riêng.
1.2. Hôn nhân và hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên
1.2.1. Hôn nhân
1.2.1.1. Thuật ngữ “hôn nhân”
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội.
Cùng với thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự tiến
bộ của nhận thức, ý nghĩa của khái niệm hôn nhân đã có nhiều thay đổi đáng
kể. Hôn nhân, hiểu một cách nôm na, giản dị nhất, là việc nam nữ chính thức

Về hình thái hôn nhân, loài người - vào buổi nguyên sơ nhất - đã sống
trong tình trạng tạp hôn
3
(như động vật). Phải đợi đến lúc con người khôn
ngoan (Homo Sapiens) xuất hiện cách đây 5 - 4 vạn năm, thì loài người mới
sống theo chế độ quần hôn. Các Mác cũng đã từng viết rằng: “Thị tộc tất yếu
xuất hiện từ nhóm người tạp hôn. Chỉ sau khi nội bộ nhóm ấy quan hệ hôn
nhân giữa anh chị em đã bị loại trừ, thì từ trong lòng nó mới có thể hình
thành thị tộc, chứ không sớm hơn” [14, 262].
Hình thái hôn nhân của loài người đã thực sự trải qua từ chế độ quần
hôn qua hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng dừng chân ở chế độ hôn nhân cá
thể. “Quần hôn là hình thái hôn nhân, theo đó một nhóm người đàn ông là
chồng tập thể của một nhóm đàn bà và một nhóm đàn bà là vợ tập thể của

3
Tạp hôn: quan hệ tính giao không hạn chế giữa đàn ông và đàn bà, có trước khi thiết lập
các quy tắc trong hôn nhân và các hình thái gia đình của xã hội loài người.

Trích đoạn Anh hùng chiến đấu với kẻ thù để giữ vợ Anh hùng giành lại người vợ bị cướp Hôn nhâ n cội nguồn của chiến tranh Chiến tranh phương tiện, con đường dẫn đến hôn nhân Hiện tượng hôn nhân cướp đoạt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status