Giao tiếp vợ chồng trong gia đình quan lại địa chủ phong kiến giai đoạn 1930 1945 ( qua tư liệu một số tác phẩm văn học) - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
====== PHẠM THỊ TRANG GIAO TIẾP VỢ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH
QUAN LẠI ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
(QUA TƢ LIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI - 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======

hoàn thiện hơn.
Hà Nội tháng 05/ 2014
Sinh viên

Phạm Thị Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đƣợc trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi dƣới sự hƣớng dẫn của cô
giáo Khuất Thị Lan.
Tôi xin khẳng định kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong khóa luận
tốt nghiệp “Giao tiếp vợ chồng trong gia đình quan lại địa chủ phong kiến
giai đoạn 1930-1945 (Qua tư liệu một số tác phẩm văn học)” là của riêng
tôi. Nội dung của khóa luận không trùng với bất kỳ đề tài nào khác. Nếu sai
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội tháng 05/ 2014
Sinh viên
Phạm Thị Trang

1. Lý do chọn đề tài. 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu. 5
6. Bố cục khóa luận. 5
NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1. Một số vấn đề giao tiếp. 6
1.1.1. Khái niệm về giao tiếp 6
1.1.2. Các nhân tố hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt 6
1.1.3. Các quy tắc hội thoại. 11
1.2. Lý thuyết về giới. 15
1.2.1. Khái niệm về giới. 15
1.2.2. Những nghiên cứu về ngôn ngữ và giới của LaKoff. 15
1.2.3. Sự khác nhau về ngôn ngữ của mỗi giới. 17
CHƢƠNG 2: GIAO TIẾP VỢ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH QUAN 20
LẠI ĐỊA CHỦ PHONG KIẾN. 20
2.1. Giao tiếp vợ chồng. 20
2.1.1. Khái niệm giao tiếp vợ chồng 20
2.1.2. Đặc điểm của giao tiếp vợ chồng. 20
2.2. Khảo sát chủ đề giao tiếp trong giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong
kiến. 20
2.2.1. Tình cảm vợ chồng 21
2.2.2. Những sự kiện trong gia đình 23 2.2.3. Những vấn đề của con cái trong gia đình 25
2.2.4. Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày 26
2.2.5. Các mối quan hệ xung quanh. 27

loại hình giao tiếp giữa những ngƣời khác giới, đã trƣởng thành và trong cùng
một môi trƣờng giao tiếp. Chính sự đặc biệt đó đã đem lại sự sinh động và
hấp dẫn trong thực tế giao tiếp cũng nhƣ trong văn chƣơng.
Giao tiếp vợ chồng đã đƣợc phản ánh ở nhiều giai đoạn văn học cũng nhƣ
trong nhiều tác phẩm văn chƣơng của nhiều tác giả. Song trong luận văn này,
chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề: “Giao tiếp vợ chồng trong gia đình
quan lại địa chủ phong kiến giai đoạn 1930–1945”. Thông qua việc nghiên
cứu này, chúng tôi mong muốn có thể tìm hiểu đƣợc những đặc trƣng riêng
của giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến, đóng góp thêm những
hiểu biết nhất định vào bức tranh giao tiếp vợ chồng giai đoạn 1930–1945 nói
chung.
Từ những lý do trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Giao tiếp vợ chồng trong gia đình quan lại địa chủ phong kiến giai đoạn
1930–1945 (Qua tư liệu một số tác phẩm văn học)”.

2

2. Lịch sử vấn đề
Giao tiếp là một hoạt động mang tính đặc thù của con ngƣời. Nó xuất
hiện cùng với sự hình thành xã hội loài ngƣời rồi từ đó góp phần vào công
cuộc tạo lập và thúc đẩy các mối quan hệ của con ngƣời. Cũng nằm trong các
hoạt động giao tiếp của con ngƣời, giao tiếp vợ chồng đƣợc xem là một hoạt
động giao tiếp có tính văn hóa cao và có vai trò quan trọng trong việc tạo nên
nền tảng tế bào của xã hội.
Giao tiếp vợ chồng đã từng đƣợc nghiên cứu qua hai bài khóa luận tốt
nghiệp của các sinh viên trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2:
Vũ Thị Tuyết (2011) “Giao tiếp vợ chồng nhìn từ góc độ các phương

tác giả đã khái quát những cặp, hệ xƣng hô tiêu biểu trong giao tiếp vợ chồng.
Bùi Minh Yến (1996) trong bài “Xưng hô trong gia đình người Việt” đã
tiến hành khảo sát ba trƣờng hợp: xƣng hô vợ chồng trong hoàn cảnh bình
thƣờng; giao tiếp với ngƣời thứ ba có nhắc đến vợ chồng mình; xƣng hô vợ
chồng thuộc các lứa tuổi khác nhau.
Có thể thấy rằng: giao tiếp vợ chồng có vai trò quan trọng và chiếm vị thế
đặc biệt trong xã hội. Mặc dù có tầm quan trọng nhƣ vậy nhƣng cho đến nay
hầu nhƣ chƣa có công trình nào chuyên nghiên cứu về loại hình giao tiếp đặc
biệt này. Các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu riêng lẻ
chƣa đi sâu tìm hiểu một cách khái quát cao về giao tiếp vợ chồng. Kế thừa và
tiếp thu những kết quả những nghiên cứu trƣớc đó, chúng tôi tập trung đi vào
nghiên cứu đề tài: “Giao tiếp vợ chồng trong gia đình quan lại địa chủ
phong kiến (Qua tư liệu một số tác phẩm văn học)”, từ đó giúp ngƣời đọc có
cái nhìn cụ thể hơn về giao tiếp vợ chồng nói chung và giao tiếp vợ chồng
quan lại địa chủ phong kiến nói riêng.

4

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích.
Củng cố và nâng cao những kiến thức về lý thuyết giao tiếp vợ chồng nói
chung và giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến nói riêng.
Xác định đặc điểm, mô tả các phƣơng diện cụ thể của giao tiếp, tìm hiểu
sự tác động và chi phối của những nhân tố giao tiếp đối với giao tiếp vợ
chồng quan lại địa chủ phong kiến. Từ đó, thấy đƣợc sự phong phú của giao
tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến trong bức tranh giao tiếp vợ chồng.
Xác định đặc trƣng của giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến
trong các tác phẩm văn học, giúp ngƣời đọc hiểu hơn về mối quan hệ vợ
chồng quan lại địa chủ lúc bấy giờ, cùng những vấn đề về thời đại lịch sử xã
hội đƣợc in dấu trong tác phẩm văn học giai đoạn 1930–1945.

các cách xƣng hô đƣợc sử dụng trong các cuộc hội thoại của vợ chồng quan
lại địa chủ phong kiến và lý giải nguyên nhân sự xuất hiện của các hiện tƣợng
đó trong giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến. Đồng thời, phân tích
sự tác động của ngôn ngữ, văn hóa, xã hội tới giao tiếp vợ chồng quan lại địa
chủ phong kiến. Qua đó, chúng ta thấy đƣợc sự biến tấu linh hoạt trong giao
tiếp vợ chồng, đặc biệt là giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong kiến.
6. Bố cục khóa luận.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn sẽ gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận.
Chƣơng 2: Giao tiếp vợ chồng trong gia đình quan lại địa chủ phong kiến.
Ngoài hai phần chính luận văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo
và tƣ liệu trích dẫn, nguồn dẫn.
6

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề giao tiếp.
1.1.1. Khái niệm về giao tiếp
“Giao tiếp là một hoạt động tương tác để đạt được sự hiểu nhau hoặc sự
thay đổi giữa hai hoặc nhiều người”[ />tong-quan-ve-ky-nang-giao-tiep.html]. Nhờ lời nói, trong giao tiếp con ngƣời
có thể biểu đạt ý nghĩ, tình cảm của mình và đi kèm với đó là cử chỉ, nét mặt,
hành động nhằm truyền đạt thông tin một cách trọn vẹn nhất.
1.1.2. Các nhân tố hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt
Tham gia vào hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt có nhiều nhân tố. Mỗi
nhân tố có vai trò và ảnh hƣởng nhất định tới giao tiếp. Nó trực tiếp chi phối
diễn ngôn cả nội dung và hình thức. Cụ thể phải kể đến ba nhân tố tiêu biểu:
1.1.2.1. Ngữ cảnh
“Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài
diễn ngôn” [2, 15]. Tức là bối cảnh mà con ngƣời và sự việc đƣợc xảy ra, nhờ
đó con ngƣời có thể hiểu đƣợc nội dung và tác động của các yếu tố xung

cá nhân chi phối tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn.
1.1.2.2. Hiện thực ngoài diễn ngôn
Theo GS. TS. Đỗ Hữu Châu trong quyển “Đại cương ngữ dụng học, tập
2” thì hiện thực ngoài diễn ngôn là tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn
hóa (trừ nhân vật giao tiếp) có tính cảm tính và những nội dung tƣơng ứng
không đƣợc nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp.
Hiện thực ngoài diễn ngôn gồm bốn bộ phận sau:
8

1.1.2.2.1. Hiện thực – đề tài của diễn ngôn. Thế giới khả hữu và hệ quy
chiếu.
GS. TS. Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngữ dụng học, tập 2” đã giới
thiệu rất chi tiết về hiện thực – đề tài diễn ngôn và thế giới khả hữu nhƣ sau:
Hiện thực – đề tài của diễn ngôn là cái đƣợc nói tới trong giao tiếp, khi
các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” về một cái gì đó. Nó
bao hàm các yếu tố: bối cảnh giao tiếp, các yếu tố tác động; các cảm xúc trạng
thái của con ngƣời; ngôn ngữ đƣợc sử dụng và chính cuộc giao tiếp đang diễn
ra mà các nhân vật giao tiếp đã đề cập tới.
Thế giới khả hữu là những dạng thức tồn tại của hiện thực, cùng với thế
giới thực tại của chúng ta đang sống hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn. Đề
tài diễn ngôn là một mảng trong thế giới khả hữu đƣợc chọn làm hệ quy chiếu
cho các diễn ngôn về đề tài đó. Cái thế giới khả hữu trong đó có đề tài diễn
ngôn đƣợc gọi là thế giới diễn ngôn của một cuộc giao tiếp.
1.1.2.2.2. Hoàn cảnh giao tiếp
Còn gọi là hoàn cảnh giao tiếp rộng “(loại trừ thế giới khả hữu – hệ quy
chiếu và hiện thực – đề tài), tất cả những cái trong hiện thực ngoài diễn ngôn
làm nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn” [2, 23].
Hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí,
xã hội, tôn giáo… ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc
giao tiếp. Trong hoàn cảnh giao tiếp cần chú ý tới tính quan yếu của hoàn

ngôn ngữ trong hoàn cảnh khác nhau có những yêu cầu khác đi, vì thế ngôn
ngữ nói và viết có những nét riêng biệt để phù hợp với đối tƣợng phục vụ của
mình mà vẫn có tính độc lập tƣơng đối.

10

1.1.2.3.2. Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể
phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức
năng.
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu chỉ tồn tại và hành chức trong những
biến thể nhất định. “Ngôn ngữ chuẩn mực là một biến thể của những biến thể
đó” [2, 27]. Ngôn ngữ chuẩn mực bao gồm những đơn vị từ vựng, các ngữ cố
định, các kết cấu ngữ pháp… đƣợc cho là đúng, đƣợc xem là cở sở để đánh
giá ngôn ngữ của từng cá nhân, của cả cộng động.
“Phương ngữ địa lí bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và một số
những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định trong
một quốc gia” [2, 27].
Phƣơng ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm các đơn vị từ
vựng và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu đƣợc sử dụng trong cộng đồng
xã hội theo nghề nghiệp, tín ngƣỡng, tôn giáo….
Ngữ vực gồm ba ngữ vực: Ngữ vực quy thức là ngữ vực mà khi chúng ta
dùng khi nói với những ngƣời quen biết rất ít hoặc chƣa hề quen biết; ngữ vực
thân tình là ngữ vực của những cuộc giao tiếp giữa những ngƣời có quan hệ
thân thiết với nhau; ngữ vực phi nghi thức là ngữ vực của những ngƣời tuy có
biết nhau nhƣng không thân thiết. Quyết định ngữ vực là thoại trƣờng và quan
hệ liên cá nhân.
1.1.2.3.3. Loại thể
“Loại thể là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn” [2, 29]. Đối với
ngữ dụng học, các loại thể nhƣ văn xuôi, văn vần, thần thoại…chắc chắn sẽ
quy định hình thức, nội dung các diễn ngôn. Điều quan trọng là các loại thể

tiếp chịu sự tác động của nhiều yếu tố.
12

Với các điều khoản trên, quy tắc điều hành luân phiên lƣợt lời đã bao quát
và điều hành đƣợc các lƣợt lời của các nhân vật giao tiếp, tránh hiện tƣợng
giao tiếp dẫm đạp lên nhau hay ngừng nghỉ lâu.
1.1.3.2. Quy tắc điều hành nội dung hội thoại.
Cuộc hội thoại sẽ diễn ra nhƣ thế nào nếu nhƣ quy tắc luân phiên lƣợt lời
đƣợc tuân thủ chặt chẽ, nhƣng các nguyên tắc lại giao tiếp với nhau theo kiểu
“đầu Ngô mình Sở”. Vì thế cần có một quy tắc điều hành nội dung hội thoại.
Quy tắc này gồm hai nguyên tắc:
1.1.3.2.1. Nguyên tắc cộng tác
H.P. Grice là tác giả của nguyên tắc này. Nguyên tắc hội thoại đƣợc Grice
tổng quát nhƣ sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội
thoại – ĐHC) đúng như nó đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại – ĐHC)
mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà
anh chị đã chấp nhận tham gia vào” [2, 229].
Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là phạm trù
lƣợng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức (theo tinh thần
các phạm trù của nhà triết học Kant). Tƣơng ứng với mỗi phạm trù là một
phƣơng châm. Vậy nên có:
Phƣơng châm về chất
Phƣơng châm về lƣợng
Phƣơng châm cách thức
Phƣơng châm quan hệ
1.1.3.2.2. Lí thuyết quan yếu
Wilson và Sperber không cần bốn phƣơng châm mà chỉ cần một nguyên
tắc quan yếu của Grice có thể bao quát toàn bộ giao tiếp và sự tri nhận của
con ngƣời. Quan yếu theo Sperber và Wilsion là tính chất của bản thân một
thông tin đối với tri nhận của ngƣời tham gia hội thoại. Nó là tính tự có của

3. Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè. Theo quy tắc này thì “đã là bạn
bè với nhau thì không có gì cần phải giấu diếm nhau” và đi kèm với đó là sự
quan tâm, săn sóc, thổ lộ mọi điều… nó trái ngƣợc với quy tắc lịch sự.
b. Theo Leech
“Phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham gia mà chúng ta
có thể gọi là ta và người”
Quy tắc lịch sự của Leech đƣợc xây dựng dựa trên khái niệm “lợi ích và
tổn thất” và đƣợc cụ thể bằng các phƣơng châm sau:
1. Phương châm khéo léo: Giảm thiểu tổn thất cho ngƣời. Tăng tối đa
lợi ích cho ngƣời
2. Phương châm rộng rãi: Giảm tối thiểu lợi ích cho ta. Tăng tối đa tổn
thất cho ta.
3. Phương châm tán thưởng: Giảm tối thiểu chê bai đối với ngƣời. Tăng
tối đa khen ngƣời.
4. Phương châm khiêm tốn: Giảm thiểu khen ngợi ta. Tăng tối đa sự chê
bai ta.
5. Phương châm tán đồng: Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và ngƣời. Tăng
tối đa sự đồng ý giữa ta và ngƣời.
6. Phương châm thiện cảm: Giảm thiểu ác cảm giữa ta và ngƣời. Tăng tối
đa thiện cảm giữa ta và ngƣời.
c. Theo P. Brown và S. Levinson
Brown và Levinson xây dựng lên lí thuyết lịch sự dựa trên khái niệm “thể
diện” với các nội dung sau:
1. Phép lịch sự đƣợc xây dựng xoay quanh khái niệm thể diện: thể diện
dƣơng tính và thể diện âm tính. Trong đó, lịch sự dƣơng tính là lịch sự hƣớng
tới sự tôn vinh thể diện của ngƣời nghe và lịch sự âm tính là lịch sự hƣớng
vào việc không xâm phạm lãnh địa riêng của ngƣời nghe.
15

2. Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, các hành động giao tiếp luôn có nguy

Phát âm của phụ nữ chuẩn hơn nam giới, chẳng hạn nhƣ các âm (g).
Phụ nữ thƣờng sử dụng khá cao độ và ngữ điệu trong phát ngôn, họ cũng
sử dụng những cách thể hiện sự cƣờng điệu hóa, dùng trong đánh dấu “…”
mà Lakoff gọi là cách nói nhấn âm.
Phụ nữ hay lên giọng ở cuối câu. Đó là việc phụ nữ thiên về sử dụng ngữ
điệu lên giọng tạo thành câu hỏi cho những phát ngôn tƣờng thuật.
Phụ nữ thích sử dụng ngôn điệu khi nói các câu trần thuật.
1.2.2.2. Thứ hai, về từ vựng, ngôn ngữ của phụ nữ thƣờng là:
Phụ nữ dùng từ chỉ màu sắc nhiều và chính xác hơn nam giới.
Phụ nữ có vốn từ vựng phong phú hơn trong một số lĩnh vực phù hợp với
phụ nữ nhƣ nấu nƣớng, may vá….
Phụ nữ thƣờng dùng các từ do dự: tôi nghĩ, tôi đoán… còn đàn ông lại có
câu trả lời dứt khoát.
Phụ nữ thƣờng dùng các từ tăng cƣờng để nhấn mạnh nhƣ: rất tốt, thực
sự… còn đàn ông ít khi dùng các từ bộc lộ cảm xúc nhƣ vậy.
Phụ nữ thƣờng dùng các thiên về bộc lộ cảm xúc hơn là cung cấp thông
tin, phụ nữ thƣờng sử dụng một số từ nghe có vẻ “dịu dàng”. Còn đàn ông
thƣờng là sự truyền đạt thông tin và cách nói vấn đề thƣờng mạnh mẽ.
1.2.2.3. Thứ ba, về ngữ pháp, cách giao tiếp, ngôn ngữ của phụ nữ có
những đặc điểm sau:
Phụ nữ ƣa sử dụng câu hỏi đính kèm nhằm thuyết phục và “mềm hóa”
phát ngôn, theo kiểu “lạt mềm buộc chặt”. Ví dụ: “Chiến tranh ở Việt Nam rất
khủng khiếp, có phải không?” với mục đích yêu cầu ngƣời khác thừa nhận
Phụ nữ thƣờng đƣa ra những yêu cầu ở dạng kết hợp và gián tiếp để thể
hiện tính lịch sự.
17

Phụ nữ thƣờng sử dụng một số từ và cấu trúc: Ồ! Bạn biết… nghe có vẻ
nhƣ lời phân trần, một hành vi rào đón để làm giảm áp lực của thông tin.
Phụ nữ dùng nhiều cách nói mang tính nghi lễ nhƣ làm ơn, cảm ơn… và

các ngành nghề, điển hình nhƣ ngành giáo viên, du lịch….
Nam và nữ cũng có cách phát âm khác nhau đối với một số âm. Điều này
phụ thuộc vào tiếng nói của từng dân tộc. Trong giao tiếp, mũi âm còn đƣợc
“pha” thêm yết hầu cũng làm tăng thêm cảm giác tín nhiệm và thân thiện.
Theo Chen Songling, trong cách phát âm một số âm tiết, đặc điểm giới còn
xuất hiện hiện tƣợng “nữ quốc âm”, là kiểu khi phát âm một phụ âm mặt lƣỡi
thì bộ phát âm tự đƣa ra phía trƣớc và nó thƣờng xuất hiện ở nữ giới tuổi từ
15-18. Còn nam giới lại thích sử dụng âm tiết khinh thanh và chuyển đầu lƣỡi
thanh nguyên âm cuối lƣỡi.
1.2.3.2. Ngôn ngữ nói về mỗi giới
Trong mỗi ngôn ngữ đều có những từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà
không thể dùng cho giới khác, biểu hiện rõ nhất là ở hình thức cấu tạo từ ngữ
trong các ngôn ngữ. Đó là dựa vào các tiêu chí đặc trƣng để phân biệt nam và
nữ trong các danh từ, đại từ,… ví dụ trong tiếng Việt có sự phân biệt giữa
giống đực và giống cái là: nam - nữ, trai/giai - gái, ông - bà, anh - chị….
Nhƣng rõ hơn cả là sự phân định ranh giới ở động từ, tính từ chuyên dùng cho
mỗi giới, chỉ đích danh giới đó, chẳng hạn nam sẽ là anh ta có cái nhìn cƣơng
nghị, một khí phách hiên ngang… còn nữ sẽ là một dáng đi yểu điệu, một lời
nói dịu dàng….
1.2.3.3. Phong cách ngôn ngữ của mỗi giới
Sự phân biệt giới trong sử dụng ngôn ngữ bắt đầu từ lứa tuổi 5-7 tuổi,
trƣớc đó cả nam lẫn nữ giới thƣờng mang phong cách ngôn ngữ nữ tính. Bởi

Trích đoạn Các mối quan hệ xung quanh Xƣng hô thể hiện mức độ tình cảm thân mật, lịch sự Xƣng hô thể hiện mức độ tình cảm không thân mật, thiếu lịch sự Sự tác động của ngôn ngữ tới giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong Sự tác động của văn hóa tới giao tiếp vợ chồng quan lại địa chủ phong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status