đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
Nguyễn Thị ngọc chi Tìm hiểu về đa dạng sinh học và đề xuất
các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học
của thành phố hà nội luận văn thạc sĩ khoa học Hà Nội 2011
đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1. Đa dạng sinh học (ĐDSH) 7
1.1.1. Khái niệm ĐDSH 7
1.1.2. Nội dung của ĐDSH 7
1.2. Công tác bảo tồn ĐDSH 11
1.2.1. Khái niệm bảo tồn ĐDSH 11
1.2.2.Thực trạng bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam 11
1.3. Tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Hà Nội 15
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1. Đối tượng nghiên cứu 17
2.2. Địa điểm nghiên cứu 17
2.3. Thời gian nghiên cứu. 17
2.4. Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1. Phương pháp luận 17
2.4.2. Phương pháp cụ thể 18
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
3.1. Điều kiện tự nhiên của Thành phố Hà Nội 21
3.1.1. Địa hình 21
3
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐDSH:Đa dạng sinh học
ĐVĐ: Động vật đáy
HST: Hệ sinh thái
RĐD: Rừng đặc dụng
VQG: Vƣờn quốc gia DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1: Thành phần các họ côn trùng ở RĐD Hương Sơn 46
Hình 2: Thành phần các loài côn trùng ở RĐD Hương Sơn 46
Hình 3: Thành phần các họ côn trùng ở VQG Ba Vì 56
Hình 4: Thành phần các loài côn trùng ở VQG Ba Vì 56
Hình 5: Tỷ lệ % động vật nổi (Zooplankton) của Hồ Tây 65
Bảng 21: Diện tích rừng nguyên thủy và hiện tại 78 MỞ ĐẦU
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km
2
,
Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới. Đặc điểm về
vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ
sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm
của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc
và Inđo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong
những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với
khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của
thế giới.
ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự
nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của
loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ước tính giá trị
của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000
tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al-1997). Đối với Việt Nam nguồn tài
nguyên ĐDSH trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng
5
năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động ĐDSH
của Việt Nam-1995).
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên
ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều HST và môi trường
sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon loài và dưới loài đang đứng trước
nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Có nhiều nguyên nhân mà
loài người là một nguyên nhân tích cực làm biến đổi và đe dọa các hệ sinh
thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực chính thức từ ngày 1/7/2009.
Hà Nội thủ đô của nước Việt Nam không những giữ vị thế trung tâm
chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế mà còn là nơi
đang hiện hữu nhiều HST độc đáo tiềm ẩn nguồn tài nguyên sinh vật và
ĐDSH phong phú mà ít có Thủ đô nào trên thế giới có được. Hà Nội nằm
trong khu vực nội chí tuyến ở vành đai vĩ độ thấp, là vùng chuyển tiếp giữa
vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ nên Hà Nội không chỉ có các vùng đất
ngập nước rộng lớn mà còn có cả các khu rừng nguyên sinh trên núi Ba Vì,
với đỉnh Tản Viên cao 1.281m so với mặt nước biển, nằm bên cạnh dãy núi
Hương Tích huyện Mỹ Đức và vùng gò đồi Sóc Sơn. Dẫu rằng vùng núi chỉ
chiếm phần nhỏ diện tích tự nhiên của Hà Nội mở rộng, nhưng đó lại là kho
tàng tích lũy nhiều nguồn gen thực vật, động vật, vi sinh vật có giá trị kinh tế
và bảo tồn, là hành lang xanh cực kỳ quan trọng không những đối với cộng
đồng sống, làm việc ở Thủ đô mà cả đối với khách vãng lai, khách du lịch
nội địa và quốc tế.
Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng ở Hà Nội như hiện nay, thì việc
bảo tồn các loài động, thực vật là rất cần thiết và quan trọng. Bảo tồn ĐDSH
tại Hà Nội này không chỉ tạo cảnh quan cho môi trường đô thị mà còn duy trì
và phát triển các loài có nguy cơ tuyệt diệt, bên cạnh đó giáo dục cho người
dân về vai trò của ĐDSH cũng như ý thức về bảo vệ các loài động, thực vật
và môi trường sống.
Việc khảo sát, thu thập số liệu về tài nguyên ĐDSH tại một địa điểm,
để từ đó tìm ra biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý là một trong những
việc làm thiết thực của công tác bảo tồn ĐDSH. Chính vì vậy, từ việc suy
nghĩ đến hành động để bảo tồn phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật
7
và ĐDSH ở Hà Nội là góp phần bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi
trường cho một trung tâm đầu não về chính trị văn hoá, khoa học - kỹ thuật
và quốc phòng. Chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Tìm hiểu về Đa dạng Sinh
một khu vực nhất định tại một vùng nào đó.
Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của
một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau.
ĐDSH toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm
phân loại khác nhau trên toàn cầu. Ước tính đến thời điểm này đã có khoảng
1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào
khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu. Theo như ước tính của công tác bảo tồn, có
khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất. Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn
thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật.
Bảng 1: Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam
Nhóm sinh vật
Số loài đã đƣợc
xác định ở Việt
Nam (VN)
Số loài có
trên thế giới
(TG)
Tỷ lệ
(%) giữa
VN/TG
1. Vi tảo (Micro-algae)
Nước ngọt
1.438
15.000
9,6%
Biển
537
19.000
2,8%
5. Động vật không xƣơng sống
ở đất (Soil invertebrate)
Khoảng 1.000
30.000
3,3%
6. Giun sán ký sinh ở gia súc
161
1.600
10%
7. Côn trùng
7.750
250.000
3,1%
9
8. Cá (Fish)
Nước ngọt
Trên 700
19.000
13%
Biển
2.458 9. Bò sát
296
6.300
tiến hoá của quần thể. Như vậy, tầm quan trọng của biến dị gen là rất rõ
ràng: Nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo.
Ước tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen
không có đóng góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền. Đặc biệt, những gen
kiểm soát quá trình sinh hóa cơ bản, được duy trì bền vững ở các đơn vị phân
loại khác nhau và thường ít có biến dị, mặc dù những biến dị này nếu có sẽ
ảnh hưởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật. Đối với các gen duy trì sự
tồn tại của các gen khác cũng tương tự như vậy. Hơn nữa, một số lớn các
10
biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú được quy định
bởi một số lượng nhỏ các gen di truyền.
1.1.2.3. Đa dạng HST
Đa dạng HST là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá
trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng HST.
Đa dạng HST thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành
viên. Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của các loài
khác nhau cũng như các kiểu dạng của loài. Trong trường hợp thứ nhất, các
loài khác nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đa
dạng. Trong trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng loài trong
các lớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau, hoặc trong
các nhóm phân loại khác nhau.
Bảng 2 : Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam
HST
Đặc điểm ĐDSH
Hệ sinh thái trên cạn
Rừng nguyên sinh
ĐDSH giàu, hệ sinh thái bền vững
Rừng thứ sinh
Biển ven bờ
ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động
Thuỷ vực ngầm, hang động
ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005- chuyên đề ĐDSH)
1.2. Công tác bảo tồn ĐDSH
1.2.1. Khái niệm bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên
quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường
xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc
đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loa
̀
i thuộc d anh mục loài nguy cấp,
quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, lưu giư
̃
va
̀
ba
̉
o qua
̉
n lâu da
̀
i ca
́
c mâ
̃
u vâ
̣
t di
nông thôn đang quản lý 128 KBT (đã được Chính phủ công nhận)
- Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất 15 KBT
- Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất 68
KBT
- Các KBT đất ngập nước và trên biển hiện mới chỉ mới đề xuất, nhưng chưa
có quyết định phê duyệt chính thức.
Ngoài các KBT, các hình thức bảo tồn dưới đây cũng đã được công
nhận ở Việt Nam.
- 5 khu Dự trữ sinh quyển quốc gia được UNESCO công nhận: khu Cần giờ
(Tp. Hồ Chí Minh), khu Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước),
khu Cát Bà (Tp. Hải Phòng), khu ven biển Đồng bằng Sông Hồng (Nam
Định và Thái Bình) và khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang.
- 2 khu di sản thiên nhiên thế giới: khu Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và khu
Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình);
- 4 khu di sản thiên nhiên của Asean là 4 VQG: Ba bể (Bắc Cạn), Hoàng
Liên, (Lào Cai), Chư Mom Rây (Kon Tum) và Kon Ka Kinh (Gia Lai)
- 2 khu Ramsar: Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) và VQG Cát Tiên.
1.2.2.2. Bảo tồn ngoại vi (Ex- situ) ở Việt Nam
Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các
bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt
13
giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Các biện pháp gồm di dời các loài
cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng.
Các khu rừng thực nghiệm
Trong hệ thống phân loại mới của nghiên cứu khoa học rừng thực
nghiệm được xếp thành một hạng nằm trong hệ thống quản lý các KBT. Kết
quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng năm 2006 đã xác định có 17 khu rừng thực
nghiệm với diện tích 8.516 ha. Các khu rừng thực nghiệm bao gồm các vườn
cây gỗ, vườn thực vật, vườn sưu tập cây rừng và các lâm phần bảo tồn nguồn
một số cơ sở nghiên cứu. Hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam có 4 cơ
quan có kho bảo quản lạnh: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam,
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Trường Đại học Cần Thơ
và Viện Cây lương thực và Thực phẩm. Các kho lạnh đều quy mô nhỏ, công
nghệ lạc hậu, mới đạt yêu cầu bảo quản ngắn hạn và trung hạn, chưa có kho
đạt tiêu chuẩn bảo quản dài hạn.
Theo thống kê của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam
(2005), đến nay, ngân hàng gen cây trồng quốc gia đang bảo quản tại kho
hơn 14.300 giống của 115 loài, gồm 3 ngân hàng gen:
- Ngân hàng gen hạt giống: 12.500 giống của 83 loài cây có hạt.
- Ngân hàng gen đồng ruộng: 1.720 giống của 32 loài cây sinh sản vô tính.
- Ngân hàng gen in vitro: bảo quản 102 giống khoai môn - sọ.
Tại 19 cơ quan mạng lưới của hệ thống bảo tồn quỹ gen cây trồng
đang bảo tồn 5000 giống của 50 loài cây trồng và 3.340 kiểu gen
(Genotype), 200 tiêu bản hạt của cây cao su. Đang xây dựng tập đoàn 300
kiểu gen, tư liệu hoá 2.000 kiểu gen cây cao su.
1.3. Tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Hà Nội
Từ nhiều năm nay, công tác nghiên cứu ĐDSH của thủ đô Hà Nội đã
được một số cơ sở thực hiện. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn tản
mạn, chưa hoàn chỉnh, nhiều tài liệu chưa đủ tin cậy. Đặc biệt, việc nâng cao
nhận thức cho cộng đồng về Bảo tồn ĐDSH ở Hà Nội có thể nói là mới bắt
đầu và làm lẻ tẻ. Trong thời gian qua, đã có thực hiện một số nghiên cứu về
ĐDSH của Hà Nội, nhưng còn sơ sài và tập trung tại các HST cụ thể như
vùng núi Sóc Sơn, Vườn Quốc gia Ba Vì, RĐD Hương Sơn, Hồ Tây, Sông
Hồng, Đất ngập nước Thanh Trì…Các nghiên cứu này đã được nghiên cứu
từ rất lâu, các dẫn liệu khoa học chưa đầy đủ.
Trong các nghiên cứu, khảo sát, lĩnh vực nghiên cứu về đa dạng thủy
sinh vật của loại hình thủy vực dạng hồ ở Hà Nội được thực hiện nhiều hơn
16
- VQG Ba Vì
- RĐD Hương Sơn
- HST Hồ Tây
- HST Sông Hồng
2.3. Thời gian nghiên cứu.
Quá trình làm luận văn tốt nghiệp được tiến hành từ tháng 6/2010 đến
tháng 12/2011.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp luận
Bảo tồn ĐDSH có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu
cực do các hoạt động của con người gây ra đối với các loài, quần xã và các
hệ sinh thái, hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt
diệt của các loài và nếu có thể được, cứu các loài đang bị đe doạ bằng cách
đưa chúng hội nhập trở lại các hệ sinh thái đang còn phù hợp đối với chúng.
Nghiên cứu về ĐDSH và bảo tồn ĐDSH cũng như nghiên cứu môi
trường sinh thái là phải nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, yếu tố môi
trường và xã hội tác động đến sự tồn tại và phát triển của chúng.
Đã có rất nhiều các công ước Quốc tế, các nghị định cũng như quy
định về việc bảo tồn tài nguyên ĐDSH, nhưng công tác tìm kiếm, phát hiện
các loài và tổng hợp số lượng các loài có phần hạn chế nên gây cản trở trong
việc đề ra những giải pháp để bảo tồn và phát triển chúng. Do đó, trên cơ sở
khảo sát, tổng hợp số lượng các loài gắn với những điều kiện môi trường
18
sống và những đặc điểm các loài để từ đó đề ra giải pháp thích hợp nhằm
mục đích bảo tồn và phát triển chúng.
2.4.2. Phương pháp cụ thể
2.4.21. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Tham khảo các tài liệu về ĐDSH và bảo tồn ĐDSH học như: Báo cáo
hiện trạng môi trường quốc gia 2005 - Chuyên đề ĐDSH, sách, tạp chí về
- Định loại và phân tích mẫu động vật
+ Định loại thú theo “Mamals of Thailand” của Lekagul et al, 1977;
“Bats of the Indian subcontinet” của Bate P., et al., 1997; “Bats of Vienam
and Adjacent Territories. An identification Manual” của Boissenko A.V., et
al., 2003. Hệ thống phân loại thú theo Corbet G.B., et al., 1992.+ Định loại
chim: Dựa vào tài liệu có hình vẽ màu của Craig Robson (2005) và sách
“Chim Việt Nam” của Nguyễn Cử và cs (2000). Hệ thống phân loại chim
được sắp xếp theo T. Inskipp et al, 1996. Tên phổ thông, tên khoa học theo
Võ Quý (1975,1981), Võ Quý và Nguyễn Cử (1999).
+ Định loại bò sát và ếch nhái theo “Herpetology of China” của Er-
Mizhao et al, 2003; “A photographie Guide to Snake and Other Reptilies of
Peninsular Malaysia, Singapore and Thailand” của Cox et al., 2002 và một
số tài liệu khác. Hệ thống phân loại theo “Danh lục ếch nhái và bò sát Việt
Nam” (Nguyễn Văn Sáng và nnk, 2005).
+ Định loại côn trùng: Đặc điểm của lớp côn trùng là thành phần bộ, họ,
giống, loài rất đa dạng và phong phú. Vì vậy mẫu sau khi được xử lý phải đưa
các chuyên gia sâu từng bộ, họ giám định tên. Tài liệu định tên cũng rất phong
phú nên xin nêu một số tài liệu chính định tên ở các bộ lớn như:
● Homoptera và Heteroptera: Distans W.L, 1902 – 1918: The Fauna of
the Bristish India including Ceylon and Burma, Hsiao T.Y, 1978 – 81A
Handbook for the Determination of the Chinese Hemiptera – Heteroptera…
● Coleoptera: Ochi T et al, 1997 Studies of the Family Scarabaeidac
(Coleoptera); Paulian R., 1959 The Fauna of the Bristish India including
Ceylon and Burma. Vol. I,…
● Hymenoptera: Wu Yanru, 2000. Fauna sinica Insecta Vol. 20 –
20
2.4.2.5. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu được áp dụng nhiều
trong các lĩnh vực khoa học khác nhau. Khi áp dụng phương pháp này, đề tài
phía Bắc. Địa hình thấp đần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông. Phần diện tích đồi núi thuộc các huyện Sóc Sơn (bằng chân núi Tam
Đảo), Ba Vì (núi Ba Vì), Quốc Oai, Mỹ Đức (vùng núi đá vôi chùa Hương).
3.1.2. Khí hậu
Hà Nội có các khí hậu đặc trưng của vùng Đồng bằng Sông Hồng có
2 mùa: mùa mưa từ tháng IV đến tháng X, mùa khô từ tháng XI đến tháng
III. Lượng mưa hàng năm vào khoảng 2000mm. Nhiệt độ giao động theo
mùa: mùa nóng (nhiệt độ cao nhất 42
0
C) và mùa lạnh (nhiệt độ thấp nhất
20
0
C), giao động ngày đêm về nhiệt độ 6 – 8
0
C.
3.1.3. Thủy văn
Hà Nội có 2 sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Đà và rất nhiều các
sông nhỏ là các sông Tích, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Đuống, sông Cà Lồ,
sông Tô Lịch…có nhiều hồ đầm ở ven 2 sông lớn và ở các vùng trũng. Để
bảo đảm tưới tiêu cho nông nghiệp, Hà Nội đã cõ một hệ thống các đập
nước, các kênh mương, trạm bơm khá hoàn chỉnh. Ruộng lúa ở Hà Nội đại
bộ phận là ruộng lúa 2 vụ.
3.1.4. Địa chất
Hà Nội có cấu trúc khá phức tạp, phân biệt địa chất vùng đồng bằng
châu thổ và địa chất vùng núi (Ba Vì, Tam Đảo, Mỹ Đức)
3.1.5.Thổ nhưỡng
Hà Nội chủ yếu là đất đồng bằng châu thổ nhưng là đồng bằng châu
thổ được hình thành sớm hơn so với 2 vùng đồng bằng châu thổ còn lại. Đất
chính là đất phù sa.
3.2. Hiện trạng ĐDSH của Thành phố Hà Nội
23
3.2.1.1. HST (cư dân) đô thị/ thị trấn (Urban human settlement Ecosystem).
HST đô thị/ thị trấn được xác định đó là các quận, thị xã, thị trấn, …
nơi sinh sống của người dân mà hoạt động của họ gắn với đô thị/ thị trấn.
HST đô thị/ thị trấn phân bố ở khắp Hà Nội, tập trung ở các quận nội
thành Hà Nội, thị xã Sơn Tây, các thị trấn như các huyện lỵ, các khu công
nghiệp …
HST đô thị/ thị trấn được xếp loại: nhân tạo, trên cạn là nơi cư trú, có
sản xuất (công nghiệp, dịch vụ, thương mại …). Nội thành Hà Nội giữ vai
trò Thủ đô tính đến nay tròn 1000 năm tuổi.
HST đô thị/ thị trấn Hà Nội do được hình thành từ lâu, dân cư đông
đúc là thành phố của nước đang phát triển (nghèo) nên các công viên, cây
xanh ven đường, nghèo. Các ao đầm hồ bị san lấp để lấy đất xây dựng nên
diện tích đã bị thu hẹp rất nhiều. Chất lượng môi trường suy thoái nhanh.
Các hồ, sông … bị ô nhiễm nặng. Trong nội thành ô nhiễm không khí, tiếng
ồn. Giao thông luôn luôn bị tắc nghẽn, nhà ở cư dân chật chội nhất là ở khu
phố cổ, phố cũ, ven đô … vệ sinh môi trường kém, thường bị úng ngập vào
mùa mưa.
Giống như các HST đô thị khác, ĐDSH về thành phần loài của HST
các quận nội thành, các thị trấn, khu công nghiệp nghèo về ĐDSH. Các động
vật, thực vật sinh sống ở HST đô thị có các đặc trưng riêng, được hoạt động
chăm sóc của con người (chó, mèo, vật cảnh) hoặc gây hại cho con người
(ruồi, muỗi, chuột, bọ …)
HST nội thành Hà Nội có nhiều loài có giá trị không dễ gặp ở các đô
thị khác đó là các loài thực vật được trồng từ thời Pháp thuộc (Vườn bách
thảo, khu chủ tịch phủ, dọc ven phố cổ) và các loài động vật đang nuôi ở
vườn Bách thú Hà Nội
HST nội thành Hà Nội có một mạng lưới thủy văn gồm ao, hồ, sông,
mương rất phong phú nên nội thành Hà Nội được gọi là thành phố sông hồ.