NGHIÊN CỨU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN HỆ THỰC VẬT RỪNG NGẬP MẶN Ở THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

TRẦN NGỌC YẾN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN HỆ THỰC VẬT RỪNG
NGẬP MẶN Ở THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN

HÀ NỘI, NĂM 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

TRẦN NGỌC YẾN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN HỆ THỰC VẬT RỪNG
NGẬP MẶN Ở THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ
XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN

Ngành

: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Mã ngành: D580102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN THẾ HƯNG


Hợp tác xã
Khu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Rừng ngập mặn
Rist Quotient
Tài nguyên Môi trường
Thành phố
Thành phố Cẩm Phả
Thực vật ngập mặn
Ủy ban nhân dân


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Nghiên cứu những đặc trưng cơ bản hệ thực
vật rừng ngập mặn ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các
biện pháp bảo tồn” Là kết quả nghiên cứu của bản thân. Những phần sử dụng tài
liệu tham khảo trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra.
Hà nội, ngày 1 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện

Trần Ngọc Yến


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm nhiệt tình từ tập thể, cá nhân trong và
ngoài trường.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc tới các thầy,
cô giáo của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung và các
thầy cô giáo trong khoa Môi trường nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho

Theo tài liệu điều tra nông hóa; thổ nhưỡng tỉnh Quảng Ninh năm 2004, trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh có loại đất sau (bảng 2.1):...................................................23
Các khu vực vùng sâu vùng xa và hải đảo cũng được tạo điều kiện xây dựng
các công trình trường học chắc chắn, đảm bảo an sinh xã hội cho những
người miền núi và người dân tộc........................................................................29
3.2.3. Y tế..............................................................................................................29
4.2. Những hạn chế...............................................................................................30


DANH MỤC BẢNG

1.4.3.1. Bảo tồn nguyên vị (in- situ)..........................................................................17
2.2.4. Khí hậu.......................................................................................................21
Khí hậu Quảng Ninh mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi phía bắc Vi ệt
Nam và có yếu tố riêng của một tỉnh ven biển, những quần đảo ở huy ện Cô Tô
và Vân Đồn...là đặc trưng của khí hậu đại dương. .............................................21
Đặc điểm chính của khí hậu Quảng Ninh như sau:..............................................21
2.2.5. Thủy văn......................................................................................................22
2.2.6. Đất đai.............................................................................................................23
Theo tài liệu điều tra nông hóa; thổ nhưỡng tỉnh Quảng Ninh năm 2004, trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh có loại đất sau (bảng 2.1):...................................................23
Các khu vực vùng sâu vùng xa và hải đảo cũng được tạo điều kiện xây dựng
các công trình trường học chắc chắn, đảm bảo an sinh xã hội cho những
người miền núi và người dân tộc........................................................................29
3.2.3. Y tế..............................................................................................................29
4.2. Những hạn chế...............................................................................................30


DANH MỤC HÌNH ẢNH
1.4.3.1. Bảo tồn nguyên vị (in- situ)..........................................................................17

chất thải rắn trôi ra biển, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi sống của người dân ven
biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng.
Tuy nhiên, thảm thực vật RNM ở Việt Nam đã bị suy thoái nghiêm trọng.
Cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ (1962 - 1971) đã phá hủy nhiều khu RNM ven
biển Nam Bộ, nơi có rừng tốt nhất, nhiều loài cây nhất ở Việt Nam. Sau chiến tranh,
do sức ép về dân số và kinh tế, RNM tiếp tục bị suy giảm mạnh về diện tích, cấu
trúc và chất lượng.
Tình trạng khai thác bừa bãi, phá rừng lấy đất xây dựng đô thị, cảng, sản xuất
nông nghiệp, làm ruộng muối, đặc biệt là việc phá rừng, kể cả rừng phòng hộ ven
biển, làm đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ đã và đang là một hiểm họa to lớn đối
với tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Hậu quả là diện tích đất thoái hóa ngày càng tăng; khí hậu đang diễn biến theo
chiều hướng xấu đi rõ rệt, nước mặn lấn sâu vào nội địa làm giảm năng suất cây
nông nghiệp; nguồn giống tôm, cua, cá giảm; nhiều loài hải sản mất nơi sống, một
số loài cá, ốc, sò mất bãi đẻ; hiện tượng xói lở bờ sông, bờ biển diễn ra hàng ngày
do mất rừng; gió bão phá hoại đê điều, đồng ruộng và nhà cửa; đời sống của người
dân nghèo ven biển bị đe dọa.

1


Xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu những đặc trưng
cơ bản hệ thực vật rừng ngập mặn ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh và
đề xuất các biện pháp bảo tồn”.
2.

Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng và đặc điểm hệ thực vật ngập mặn ở thành phố Cẩm

Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ
tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi
tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng
di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa
dạng HST).
- Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen
trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau;
- Đa dạng loài là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau;
- Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác
nhau.
Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ
phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ HST.

3


ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần
cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị
sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ
tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng
của sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng. Đó không chỉ là
tổng số của các HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối
quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau.
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hoá, là sự thể
hiện của xã hội con người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một
nhân tố quan trọng của các HST. Đa dạng văn hoá được thể hiện bằng sự đa dạng
ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, những kinh nghiệm về việc quản lý đất đai, nghệ
thuật, âm nhạc, cấu trúc xã hội, sự lựa chọn những cây trồng, chế độ ăn uống và một
số thuộc tính khác của xã hội loài người. Văn hoá bản địa là một trong những khía
cạnh rất quan trọng của đa dạng văn hoá chính là văn hoá của các dân tộc bản địa.

mặn ven biển trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu giữa vĩ độ 25° Bắc và
25° Nam. Các độ mặn khác nhau tạo ra nhiều loài thay đổi từ nước lợ đến nước
mặn(30 đến 40ppt), đến các môi trường có độ măn lớn hơn gấp 2 lần độ mặn nước
biển (đến 90 ppt), tại đây hàm lượng muối cô đặc bởi sự bốc hơi.
Có một số loài cây gỗ và cây bụy thích nghi với môi trường nước mặn. Không
phải tất cả các loài đều thích nghi, mặc dù thuật ngữ "thực vật ngập mặn" có thể
được dùng để chỉ tất cả chúng, hoặc theo nghĩa hẹp hơn, nó chỉ dùng cho họ thực
vật ngập mặn là Rhizophoraceae(họ Đước), hoặc đặc biệt hơn là chi Rhizophora.
Thực vật ngập mặn hình thành một môi trường sống nước mặn của rừng cây
thân gỗ và rừng cây bụi hay còn gọi là rừng ngập mặn.Rừng ngập mặn thường phân
bố ở vùng ven biển tích tụ các trầm tích hạt mịn và chúng có vai trò bảo vệ các
vùng đất bởi tác động của sóng năng lượng cao. Có thể gặp chúng ở các cửa sông
và dọc theo các bờ biển hở. Thực vật ngập mặn chiếm khoảng 3/4 bờ biển nhiệt đới.
1.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới
1.2.1.1. Những nghiên cứu về đa dạng thảm thực vật nói chung
Trên thế giới, đa dạng sinh học đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng phải đến
những năm 1990 của thế kỉ XX thì vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết và thu
hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học ở nhiều quốc gia. Ở đây, tôi xin
điểm qua những công trình nghiên cứu có giá trị như: Thực vật chí Hồng Kông,
1861; Thực vật chí Australia, 1866; Thực vật chí vùng tây Bắc và trung tâm Ấn Độ,
1874; Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật chí Miến Điện, 1877; Thực vật

5


chí Malaixia, 1892 - 1925; Thực vật chí Hải Nam, 1972-1977; Thực vật chí Vân
Nam, 1977 (dẫn theo Từ Minh Tiệp,).
Theo Tolmachev.I “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao
trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý”.

Bậc phân loại

Tên thường gọi

Số loài mô tả

Fungi
Bryophyta
Lycopodiophyta
Polypodiophyta
Pinophyta
Magnoliophyta

Nấm
Ngành Rêu
Ngành Thông đất
Ngành Dương xỉ
Ngành Thông
Ngành Ngọc lan

100.800
15.000
1.275
9.500
601
233.885

% số loài đã
được mô tả
5,80


Cùng với việc nghiên cứu sự đa dạng về khu hệ thực vật, các nhà khoa học
cũng đưa nhiều cách phân loại thảm thực vật dựa trên những cơ sở khác nhau: I. K.
Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật
rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời
kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và
phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm. Cùng năm đó,
G. N. Vưxôxki chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây
hàng năm.
Năm 1936, khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện,

H.G.

Champion đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á
nhiệt đới, ôn đới và núi cao.
Đến năm 1938, J. Beard đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp,
quần hệ và loạt quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt
quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Đào Ngọc Tú).

7


Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực
vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung
gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó.
Segova (1957) lại phân chia thảm thực vật theo vành đai: vành đai biển bùn
lầy, vành đai núi thấp dưới 800 m – 1000 m và vành đai cao hơn.
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới
dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế giới thành 5 lớp

và phát triển. De Hann (1931) đã chia thực vật ngập mặn thành 2 nhóm: nhóm phát
triển ở độ mặn từ 10 – 300/00 và nhóm phát triển ở độ mặn 0 – 100/00.
1.2.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam
1.2.2.1. Những nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật
Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về đa dạng thực vật trước những
năm 1960 phần lớn do các tác giả nước ngoài thực hiện: Loureiro (1790), Pierre
(1879 - 1907), Lecomte (1907 - 1937) ….Cuốn “ Thực vật chí Đại cương Đông
Dương” của H. Lecomte đã xác định khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực
vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh Đông Dương .
Phan Kế Lộc (1970) đưa ra con số hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5.609
loài thuộc 1660 chi và 240 họ. Đến năm 1978, Thái Văn Trừng thống kê hệ thực vật
Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ.
Theo Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) hệ thực vật ở Việt Nam có 10.500 loài.
Nguyễn Tiến Bân (1997) trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực
vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả khóa phân loại của 265 họ và khoảng 2.300 chi.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực
vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật
bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ.
Mới đây nhất, trong cuốn "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" các nhà
nghiên cứu đã đưa ra số liệu thống kê hệ thực vật Việt Nam gồm 368 loài vi khuẩn
lam (Tiền nhân - Procaryota ), 2.200 loài Nấm (Fungi), 2.176 loài Tảo (Algae), 841
loài Rêu (Bryophyta), 1 loài Khuyết lá thông (Psilotophyta), 53 loài Thông đất
(Lycopodiophyta), 2 loài cỏ Tháp bút (Equisetophyta), 691 loài Dương xỉ
(Polipodiophyta), 69 loài Hạt trần (Gymnospermae), và khoảng 10.000 loài (trên
850 taxon dưới loài-phân loài, thứ, dạng,...) Hạt kín (Angiospermae), đưa tổng số
loài thực vật Việt Nam lên gần 20.000 loài. Cho đến nay, đây là danh lục thực vật
đầy đủ nhất ở Việt Nam đã được cập nhật tên khoa học, tên đồng nghĩa cũng như
phân bố của chúng ở Việt Nam và trên Thế giới.

9

11 kiểu quần xã thực vật khác nhau. Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác
như Trần Đình Lý, Nguyễn Nghĩa Thìn (2006).
1.2.2.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ngập mặn ở Việt Nam

10


Ở Việt Nam trước năm 1943 có 408.500 ha rừng ngập mặn (Maurand, 1943),
nhưng đến nay diện tích rừng ngập mặn đã giảm đi rất nhiều. Năm 1983 còn
252.000 ha, đến năm 1987 chỉ còn 205.000 ha . Rừng ngập mặn ở Việt Nam đã suy
giảm cả về diện tích và chất lượng vì nhiều nguyên nhân như chiến tranh, chất hóa
học, khai thác bừa bãi, phá rừng để sản xuất nông nghiệp, nuôi tôm…(Phan Nguyên
Hồng, 2003) [16]. Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số
03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng
7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn
(RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó diện tích RNM
tự nhiên là 59.732 ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm
61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng đước (Rhizophora
apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại 16.876 ha là rừng trồng trang
(Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loại cây ngập mặn
trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001) .

Năm
Hình 1.1. Diện tích RNM thay đổi qua các năm
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu rừng ngập mặn ở Việt Nam đã
được chú ý trên nhiều lĩnh vực. Công trình nghiên cứu về rừng ngập mặn đầu tiên
của Việt Nam là luận án tiến sĩ của Vũ Văn Cương (1964) về các quần thể thực vật
của rừng Sát – Vũng Tàu. Tác giả chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật

11

nước lợ), điển hình là các loài Bần trắng (Sonneratia alba), Bần Chua (Sonneratia
caseolaris), Vẹt Khang (Bruguiera sexangula), Dừa nước (Nypa fruticans) là những
loài chỉ thị cho môi trường nước lợ.

12


Nguyễn Hoàng Trí (1996), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) cho rằng
Đưng (Rhizophora mucronata) không có ở miền Bắc, chỉ có ở miền Nam và miền
Trung, Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) gặp ở cả 3 miền trên vùng đất cao ngập
triều không thường xuyên, Vẹt đen (Bruguiera sexangula) không có ở miền Bắc,
gặp ở vùng nước lợ ở miền Nam. Trang (Kandelia candel) phân bố từ Bắc vào
Nam, chịu được biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc .
1.3. Những nghiên cứu về dạng sống (life form) của thực vật trên thế giới và ở
Việt Nam
1.3.1. Những nghiên cứu về dạng sống thực vật trên thế giới
Hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó
biểu hiện qua dạng sống của nó, dạng sống của thực vật đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Braun – Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục
hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải
nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn.
Hiện nay, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [10] để sắp xếp
các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống. Cơ sở phân chia
dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời
gian bất lợi trong năm. Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một
dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong
năm. Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1. Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2. Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất

Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc
Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa
van, thảo nguyên .
Hoàng Chung (2008), khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc
Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu
cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật
có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm.
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập
mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân
thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (BS). Áp
dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn
Nghĩa Thìn (1995) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc
Phương là:

14


SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th
Đặng Kim Vui (2002) , nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau
nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật
dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định
được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân
bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi).
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng
thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất
có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất
có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây
chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% .
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh
nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các

giảm sút chỉ còn khoảng dưới 10% (Alexander et all., 2000, Bộ TN&MT, 2005)
Phần thực vật sách đỏ Việt Nam được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm
trong danh mục.Theo kết quả được thống kê trong Sách đỏ Việt Nam (2004) cho
thấy tổng số loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa đã lên đến 857 loài, gồm
407 loài động vật và 450 loài thực vật, tức số loài đang bị đe dọa đã tăng đáng kể.
Sự xuống cấp hay mất đi rừng ngập mặn đã làm suy giảm nguồn lợi tái tạo khác và
sự mất mát đó rất khó có thể định lượng cả về số lượng và giá trị. Một nghiên cứu
mới đây của Vụ nuôi trồng Philipin chỉ ra rằng mất rừng ngập mặn ở đất nước này
đã kèm theo việc mất đi các chức năng về sinh học và sinh thái gây ra thiệt hại rất
lớn, ước tính 242 triệu USD/năm.
Mặc dù có nhiều công trình và chính sách đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn
đa dạng thực vật ở Việt Nam như trong các công trình của Phan Kế Lộc, Phạm
Hoàng Hộ, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Quốc Trị, Nghị
định về bảo tồn đa dạng sinh học… Tuy nhiên sự suy giảm đa dạng nguồn tài
nguyên sinh học vẫn diễn ra, theo phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam
2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại
Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài
thiên nhiên, tăng 167 loài so với thời điểm năm 1992. Trong đó có 116 loài động
vật được coi là “rất nguy cấp” và 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài
thực vật đang“nguy cấp”).
Trong công trình tổng kết của Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến xác
định trong số 1162 loài thực vật bậc cao có mạch thống kê được các tác giả mới chỉ

16


ra có 42 loài được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam với 1 loài đang bị tuyệt chủng,
16 loài sắp bị tuyệt chủng, 14 loài hiếm và 11 loài bị đe dọa tuyệt chủng.
Phan Hoàng Giẻo, Đặng Minh Quân, Nguyễn Nghĩa Thìn (2012), đã xác định
tại núi Hàm Rồng của VQG Phú Quốc có 11 loài cây có tên trong “Sách đỏ Việt



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status