Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH THÚY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT
Ở VƢỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY - NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Sinh Thái Học
Mã số: 60.42.01.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐINH THỊ PHƢỢNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học Cao học.
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh
phí cũng nhƣ trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà
khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp mới của luận văn 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm có liên quan 4
1.1.1. Đa dạng sinh học 4
2.2.5.Phương pháp xử lý số liệu 25
Chƣơng 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU . 26
3.1. Điều kiện tự nhiên 26
3.1.1. Vị trí địa lý 26
3.1.2. Địa hình 27
3.1.3. Khí hậu - Thuỷ văn 28
3.1.3.1. Khí hậu 28
3.1.3.2. Thuỷ văn 30
3.1.4. Địa chất và thổ nhưỡng 31
3.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu 32
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1. Phân loại thảm thực vật tại VQG Xuân Thủy 33
4.1.1. Quần xã Cỏ cáy - Cỏ ngạn .35
4.1.2. Quần xã Vạng hôi - Tra - Giá 36
4.1.3. Quần xã Cà độc dược - Thầu dầu 36
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
4.1.4. Quần xã Phi lao – Quan âm 37
4.1.5. Quần xã Cỏ lông chông – Muống biển 38
4.1.6. Quần xã Cỏ xoan – Cỏ xoan nhỏ – Rong xương cá 38
4.1.7. Quần xã Cói - Sậy trong các đầm nuôi thủy sản 39
4.1.8. Quần xã Sú + Bần + Mắm + Ô rô 39
4.1.9. Quần xã rừng trồng .39
4.2. Những đặc trƣng cơ bản của khu hệ thực vật tại VQG Xuân Thủy 40
4.2.1. Sự đa dạng của các taxon 40
4.2.2. Sự đa dạng về dạng sống của hệ thực vật 46
4.2.3. Sự đa dạng về công dụng 49
4.2.4. Các loài thực vật quý hiếm 51
Natural Resources - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài
nguyên thiên nhiên Quốc tế
FAO
Food and Agriculture Organization of the United Nations -
Tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
RNM
Rừng ngập mặn
MCD
Centre for Marinelife Conservation and Community
Development - Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát
triển cộng đồng
KVNC
Khu vực nghiên cứu
Nxb
Nhà xuất bản
OTC
Ô tiêu chuẩn
ODB
Ô dạng bản
TĐT
Tuyến điều tra
VU
Sẽ nguy cấp
VQG
Vƣờn Quốc Gia
VQG XT
Vƣờn Quốc Gia Xuân Thủy
WCMC
World Conservation Monitoring Centre – Trung tâm giám
sát bảo tồn toàn cầu
Hình 4.3. Tỉ lệ sự phân bố các taxon trong ngành Hạt kín 42
Hình 4.4. Tỉ lệ các họ đa dạng nhất trong hệ thực vật tại VQG Xuân Thuỷ 44
Hình 4.5.Tỉ lệ các dạng sống của hệ thực vật tại VQG Xuân Thủy 47
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Theo quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới, đa dạng sinh học là sự phồn thịnh
cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là
những nguồn gen của chúng và là hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi
trƣờng sống. Đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm
một cách nhanh chóng. Trƣớc tình hình đó thế giới có nhiều nỗ lực nhằm hạn
chế sự suy giảm đó, cụ thể là có nhiều công ƣớc liên quan đến bảo vệ đa dạng
sinh học đã ra đời nhƣ Công ƣớc RAMSAR, Iran (1971), Công ƣớc CITES
(1972), Công ƣớc Paris (1972), Công ƣớc bảo vệ các loài động vật di cƣ, Born
(1979). Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới, hiện tƣợng làm mất các hệ sinh thái
tự nhiên và các loài sinh vật vẫn đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra. Mỗi năm,
trái đất mất đi khoảng 2000 loài động vật, thực vật, nghĩa là mất đi hơn 10% số
loài đã đƣợc mô tả. Nếu nhƣ các thế kỷ trƣớc đây bình quân cứ vài chục năm
mới có một loài bị tuyệt chủng, những năm gần đây, ngƣời ta tính ra rằng cứ
bình quân 7 phút có một loài bị tuyệt chủng.
Theo báo cáo về quan trắc môi trƣờng nƣớc của Ngân hàng Thế giới,
Việt Nam là một trong số 10 quốc gia giàu đa dạng sinh học nhất trên thế giới,
cảnh, bao gồm các sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nhân tạo (Pedersen và
Nguyễn Huy Thắng 1996). Sinh cảnh có giá trị đa dạng sinh học cao nhất là các
bãi bồi và rừng ngập mặn tự nhiên ít bị tác động. Trong những năm gần đây
việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội dẫn đến nhiều diện tích rừng ngập mặn nguyên sinh bị suy thoái, làm cho
năng suất, sản lƣợng và chủng loại các loài, cá thể sinh vật trong vùng giảm
nhanh, đến nay có những khu vực đã bộc lộ sự suy thoái rõ rệt, nhiều loài thực
vật bản địa đang có nguy cơ biến mất. Hơn nữa, các đảo cát trong Vƣờn có các
đầm nƣớc mặn và các đụn cát cũng đang đƣợc trồng loài phi lao nhập nội sẽ
làm thu hẹp các sinh cảnh tự nhiên trong khu vực. Các nhân tố khác ảnh hƣởng
tới công tác bảo tồn ở Xuân Thuỷ là việc tăng cƣờng đắp các đầm nuôi trồng
thuỷ sản có thể làm chết các loài thực vật hiện có.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng
và đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc Gia
Xuân Thủy -Nam Định”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân loại thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng và những đặc trƣng cơ bản của thảm thực vật tại
khu vực nghiên cứu: Thành phần loài, dạng sống, công dụng và các loài thực
vật quý hiếm
- Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính đa dạng thực vật ở KVNC
- Đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển thực vật trong khu vực
nghiên cứu.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài đƣợc thực hiện từ năm 2013 đến năm 2014 tại khu vực VQG
Xuân Thủy -Nam Định.
sinh thái (số lƣợng các loài trong một quần xã sinh vật). Nay có ít nhất 25 định
nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học. Định nghĩa đƣợc đƣa ở trên là định
nghĩa đƣợc dùng trong Công ƣớc Đa dạng sinh học.[64]
Ở Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [34] đã định nghĩa “ĐDSH là
toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, gồm các sinh vật
phân cắt đến động - thực vật ở trên cạn cũng nhƣ dƣới nƣớc, từ mức độ phân tử
AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài ngƣời. Khoa học nghiên cứu
về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”. Ở đây, ĐDSH đƣợc hiểu theo 3 khía cạnh: đa
dạng ở mức độ di truyền, đa dạng mức độ loài, đa dạng ở mức độ sinh thái.
* Đa dạng loài
Là số lƣợng và sự đa dạng của các loài đƣợc tìm thấy tại một khu vục
nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay
nhiều quần thể của một loài cũng nhƣ đối với các quần thể khác nhau. Theo Lê
Trọng Cúc, đa dạng sinh học đƣợc sử dụng đồng nghĩa với đa dạng loài, vì
nghiên cứu đa dạng sinh học chủ yếu đề cập đến số lƣợng các loài.[11]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
* Đa dạng sinh thái
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau
ở cạn cũng nhƣ ở nƣớc tạo một vùng nào đó [67]. Sự đa dạng này đƣợc phản
ánh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các
quá trình sinh thái trong sinh quyển.
1.1.2. Thảm thực vật
Có nhiều khái niệm về thảm thực vật đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra:
Theo J. Schmithusen (1976), “Thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các
bộ phận hợp thành khác nhau của nó” [30]. Thái Văn Trừng (1978) đã định
nghĩa “Thảm thực vật gồm các quần thể phủ trên mặt đất nhƣ một tấm thảm
xanh” [46]. Còn theo Trần Đình Lý (1998) thì “Thảm thực vật là lớp phủ thực
phía nam Australia (38043’ Nam). Ở những vùng này do khí hậu mùa đông
lạnh nên thƣờng chỉ có loài mắm biển sinh trƣởng. Chúng phân bố ở vùng nhiệt
đới và á nhiệt đới trên hầu hết các loại đất từ bùn đất, bùn sét đến cả các rạn san
hô (Tomlinson, 1986) [61].
1.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới
1.2.1.1. Những nghiên cứu về đa dạng thảm thực vật nói chung
Trên thế giới, đa dạng sinh học đã đƣợc nghiên cứu từ lâu, nhƣng phải
đến những năm 1990 của thế kỉ XX thì vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết
và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học ở nhiều quốc gia. Ở
đây, tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu có giá trị nhƣ: Thực vật chí
Hồng Kông, 1861; Thực vật chí Australia, 1866; Thực vật chí vùng tây Bắc và
trung tâm Ấn Độ, 1874; Thực vật chí Ấn Độ (1872-1897); Thực vật chí Miến
Điện, 1877; Thực vật chí Malaixia, 1892 - 1925; Thực vật chí Hải Nam, 1972-
1977; Thực vật chí Vân Nam, 1977 (dẫn theo Từ Minh Tiệp,[51]).
Theo Tolmachev.I [59] “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để
có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân
hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, và ông cũng đã đƣa ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng
là 1500-2000 loài.
Năm 1965, Al. A. Phêđôrốp đã dự đoán thế giới có khoảng: 300.000 loài
thực vật hạt kín; 5.000 -7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 -10.000 loài quyết
thực vật; 14.000 -18.000 loài rêu; 19.000 -40.000 loài tảo; 15.000 -20.000 loài
địa y; 85.000 -100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác.
Đối với từng châu lục, G. N. Slucop (1962) đƣa ra số lƣợng các loài
thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục nhƣ sau [54]:
Nấm
100.800
5,80
Bryophyta
Ngành Rêu
15.000
0,90
Lycopodiophyta
Ngành Thông đất
1.275
0,07
Polypodiophyta
Ngành Dƣơng xỉ
9.500
0,50
Pinophyta
Ngành Thông
601
0,03
Magnoliophyta
Ngành Ngọc lan
233.885
13,40
(Nguồn: Giáo trình đa dạng sinh học, Đại học Huế, 2007)[31]
Giáo sƣ Tôn Thất Pháp đã thống kê lại số loài thực vật đƣợc mô tả nhƣ sau
Bảng 1.2. Số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới
Nhóm
Số loài mô tả
Nguồn
Vi khuẩn và tảo lam
Năm 1936, khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện, H.G.
Champion đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới,
á nhiệt đới, ôn đới và núi cao [58].
Đến năm 1938, J. Beard đƣa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp,
quần hệ và loạt quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt
quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thƣờng xanh; loạt quần hệ miền
núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo
Đào Ngọc Tú,[50]).
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dƣơng đã chia thảm
thực vật Đông Dƣơng thành 3 vùng: Bắc Đông Dƣơng, Nam Đông Dƣơng và
vùng trung gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó
[55].
Segova (1957) lại phân chia thảm thực vật theo vành đai: vành đai biển
bùn lầy, vành đai núi thấp dƣới 800 m -1000 m và vành đai cao hơn.
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế
giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế giới
thành 5 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thƣa, lớp quần hệ
cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo [63].
1.2.1.2. Những nghiên cứu về đa dạng thảm thực vật ngập mặn
Về đa dạng rừng ngập mặn trên thế giới cũng đƣợc quan tâm nghiên cứu
từ khá lâu. Theo Tomlinson, (1986), các hệ sinh thái rừng nƣớc mặn rất đa
dạng về thành phần thực vật, cấu trúc rừng và tỉ lệ tăng trƣởng với trên 80 loài
thực vật trong 30 chi thuộc hơn 20 họ [61]. Odum (1975) khẳng định “Rừng
ngập mặn có năng suất sinh học cao hơn các hệ sinh thái khác” [56], và Rao
(1986) cho rằng, rừng ngập mặn là một trong những vùng giàu nhất và có năng
suất sinh học cao nhất, tạo thành chuỗi thức ăn cơ bản ở vùng ven biển [57].
Rừng ngập mặn là dạng cấu trúc thực vật đặc trƣng của vùng ven biển nhiệt đới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
.
1.2.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam
1.2.2.1. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật
Ở Việt Nam, trƣớc những năm 1960 những công trình nghiên cứu về đa
dạng thực vật chủ yếu do các tác giả nƣớc ngoài thực hiện nhƣ: Loureiro
(1790), Pierre (1879 - 1907), Lecomte (1907 - 1937) ….Trong cuốn “ Thực vật
chí Đại cương Đông Dương” và các tập bổ sung tiếp theo, H. Lecomte đã mô
tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có
mạch trên toàn bộ lãnh Đông Dƣơng [52].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Phan Kế Lộc (1970) đƣa ra con số hệ thực vật miền bắc Việt Nam có
5.609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [23]. Đến năm 1978, Thái Văn Trừng
thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc
1850 chi, 289 họ [46].
Theo Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [13] hệ thực vật ở Việt Nam có
10.500 loài. Nguyễn Tiến Bân (1997) [2] trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và
nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả khóa phân loại của 265
họ và khoảng 2.300 chi. Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình
nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật
bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ.[36]
Mới đây nhất, trong cuốn "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" [3] các
nhà nghiên cứu đã đƣa ra số liệu thống kê hệ thực vật Việt Nam gồm 368 loài
vi khuẩn lam (Tiền nhân - Procaryota ), 2.200 loài Nấm (Fungi), 2.176 loài
Tảo (Algae), 841 loài Rêu (Bryophyta), 1 loài Khuyết lá thông (Psilotophyta),
53 loài Thông đất (Lycopodiophyta), 2 loài cỏ Tháp bút (Equisetophyta), 691
loài Dƣơng xỉ (Polipodiophyta), 69 loài Hạt trần (Gymnospermae), và khoảng
10.000 loài (trên 850 taxon dƣới loài-phân loài, thứ, dạng, ) Hạt kín
xác định đƣợc 554 loài, 334 chi, 124 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch
[39]. Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống
kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,
654 loài [8]. Vũ Thị Liên (2005) nghiên cứu ảnh hƣởng của một số kiểu thảm
thực vật đến biến đổi môi trƣờng đất ở một số khu vực tỉnh Sơn La đã thống kê
trong các trạng thái thảm thực vật đƣợc nghiên cứu có 452 loài thuộc 326 chi
và 103 họ của 3 ngành thực vật bậc cao [22]. Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc
Nguyên (2005), khi nghiên cứu về thảm thực vật Vƣờn quốc gia Ba Vì đã xác
định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau [44]. Ngoài ra, còn nhiều
công trình nghiên cứu khác nhƣ Trần Đình Lý, Nguyễn Nghĩa Thìn
(2006)…[26,37,38].
1.2.2.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ngập mặn ở Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Ở Việt Nam trƣớc năm 1943 có 408.500 ha rừng ngập mặn (Maurand,
1943) [55], nhƣng đến nay diện tích rừng ngập mặn đã giảm đi rất nhiều. Năm
1983 còn 252.000 ha, đến năm 1987 chỉ còn 205.000 ha . Rừng ngập mặn ở
Việt Nam đã suy giảm cả về diện tích và chất lƣợng vì nhiều nguyên nhân nhƣ
chiến tranh, chất hóa học, khai thác bừa bãi, phá rừng để sản xuất nông nghiệp,
nuôi tôm…(Phan Nguyên Hồng, 2003) [16]. Theo kết quả kiểm kê rừng toàn
quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ký ngày
5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành,
diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là
156.608ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 59.732 ha chiếm 38,1% và
diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng
ở Việt Nam, rừng đƣớc (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%),
còn lại 16.876 ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia
caseolaris) và các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy
Vẹt dù, phân bố ở trên nền đá xƣơng xẩu, ít khi ngập triều; Quần xã Côi
(Scyphiphora hydrophyllacea) -Giá (Excoecaria agallocha) -Cóc vàng
(Lumnitzera racemosa) dạng cây bụi trên nền đất bùn hơi cứng, nhiều sỏi hoặc
đất thoái hoá, chỉ ngập triều cao; Quần xã Tra (Hibiscus tiliaceus) - Su ổi
(Xylocarpus granatum) -Hếp (Scaevola taccada) phân bố trên các bờ biển có
đất mặn ít khi ngập triều [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Phan Nguyên Hồng (1999) đã thống kê đƣợc ở Việt Nam có 106 loài
cây ngập mặn, trong đó vùng ven biển Nam Bộ có 100 loài, vùng ven biển
Trung Bộ có 69 loài, ven biển Bắc Bộ có 52 loài, chủ yếu gồm các loài cây
Đƣớc, Vẹt (họ Rhizophoraceae), Mấm (họ Avicenniaceae), Bần (họ
Sonneratiaceae), Dừa nƣớc, Chà là (họ Palmae), Rau sam đỏ (họ Aizoaceae).
Thành phần của thảm thực vật tự nhiên ở vùng cửa sông thƣờng gồm những
loài cây nƣớc lợ (chịu đƣợc môi trƣờng nƣớc lợ), điển hình là các loài Bần
trắng (Sonneratia alba), Bần Chua (Sonneratia caseolaris), Vẹt Khang
(Bruguiera sexangula), Dừa nƣớc (Nypa fruticans) là những loài chỉ thị cho
môi trƣờng nƣớc lợ [15].
Nguyễn Hoàng Trí (1996), Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999) cho
rằng Đƣng (Rhizophora mucronata) không có ở miền Bắc, chỉ có ở miền Nam
và miền Trung, Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) gặp ở cả 3 miền trên vùng
đất cao ngập triều không thƣờng xuyên, Vẹt đen (Bruguiera sexangula) không
có ở miền Bắc, gặp ở vùng nƣớc lợ ở miền Nam. Trang (Kandelia candel) phân
bố từ Bắc vào Nam, chịu đƣợc biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện đƣợc trồng
nhiều ở miền Bắc [15].
Qua khảo sát vùng rừng ngập mặn các xã ven biển huyện Giao Thuỷ,
Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2004) đã thống kê đƣợc tổng số 182 loài thuộc
137 chi của 60 họ thực vật có mạch. Lớp Hai lá mầm có số loài, chi và họ nhiều
suốt thời gian bất lợi trong năm. Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1. Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2. Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3. Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4. Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5. Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái
đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th