BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI
PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM NƯỚC AO HỒ
TÙ ĐỌNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : KS. NGUYỄN TRẦN NGỌC PHƯƠNG
Sinh viên thực hiện : ĐẶNG THỊ THÙY DƯƠNG
MSSV: 0951080011 Lớp: 09DMT2
1.4.1. Khái niệm 16
1.4.2. Nguyên nhân gây phú dưỡng hóa 17
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng 19
1.4.4. Diễn biến quá trình phú dưỡng hóa 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ii
1.4.5. Ảnh hưởng của ô nhiễm ao hồ 20
1.5. Một số loài thực vật thủy sinh 20
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Lấy mẫu 25
2.2. Phân tích mẫu 30
2.3. Xử lý số liệu sau phân tích bằng phần mềm statgraphic 30
2.3.1. Phần mềm statgraphics 30
2.3.2. Cách sử dụng phần mềm statgraphics 30
2.3.2.1. Nhập và quản lý dữ liệu 31
2.3.2.2. Để phân tích cho một thông số 33
2.3.2.3. Kết quả phân tích thể hiện như sau 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1. Đánh giá cảm quan 38
3.2. Các chỉ tiê u hóa học 40
3.2.1. pH 40
3.2.2. COD 43
3.2.3. SS 46
3.2.4. TN 49
3.2.5. TP 52
3.2.6. NO
3
COD: Chemical Oxygen Demand – Nhu cầu oxy hóa học(mg/l).
DO: Dissolved Oxygen – Oxy hòa tan(mg/l).
DDT: Dichloro Diphenyl Trichloroethane : Thuốc trừ sâu.
FAS: Ferrous Amonium Sulfate – Dung dịch chuẩn 0,1M.
KCN : Khu công nghiệp.
QCVN :Quy chuẩn Việt Nam.
SS: Suspended Soild – Chất rắn lơ lửng(mg/l).
SD: Standard Deviation – Độ lệch chuẩn.
TP: Tổng Phospho (mg/l).
TN: Tổng Nitơ (mg/l).
TNMT_HCM: Tài nguyên Môi trường TP. Hồ Chí Minh.
TVTS: Thực vật thủy sinh.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : Một số loại thực vật thủy sinh Trang 21
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Bản đồ hệ thống sông ngòi Việt Nam Trang 10
Hình 1.2: Rau ngổ Trang 22
Hình 1.3: Lục bình Trang 22
Hình 1.4: Cỏ vertiver Trang 22
Hình 1.5: Thủy trúc Trang 22
Hình 1.6: Chuối hoa Trang 22
Hình 1.7: Cỏ nến Trang 22
Hình 1.8: Quá trình chuyển hóa các chất hữu cơ Trang 23
Hình 2.1: Bản đồ vị trí lấy mẫu 1 Trang 26
Hình 2.2: Bản đồ vị trí lấy mẫu 2 Trang 27
Hình 2.3: Bản đồ vị trí lấy mẫu 3 Trang 27
Hình 2.4: Bản đồ vị trí lấy mẫu 4 Trang 28
Hình 2.5: Bản đồ vị trí lấy mẫu 5 Trang 28
Hình 2.6: Bản đồ vị trí lấy mẫu 6 Trang 29
Hình 2.7: Bản đồ vị trí lấy mẫu 7 Trang 29
Hình 2.8: Bản đồ vị trí lấy mẫu 8 Trang 30
Hình 2.9: Hộp thoại Preferences Trang 31
Hình 2.10: Hộp thoại “Modify column Trang 32
Hình 2.11: Bảng dữ liệu sau khi nhập kết quả 19 hồ Trang 32
Hình 2.12: Hộp thoại One- Variable Analysis Trang 33
Hình 2.13: Kết quả chạy phần mềm Trang 33
Hình 2.14: Các button của phần mềm statgraphics Trang 35
Hình 2.15: Các đặc trưng thống kê Trang 35
Hình 2.16: Đồ thị Trang 36
Hình 2.17: Cách thay đổi số lớp của đồ thị tần số Tr ang 37
3
Trang 57
Hình 4.1: Quạt nước Trang 61
Hình 4.2: Sử dụng thực vật nổi phục hồi nước Trang 65
Hình 4.3: Hình ảnh cho đảo nổi sinh học Trang 67
Hình 4.4: Hình ảnh cho đảo nổi sinh học Trang 67
Hình 4.5: Đảo nổi Trang 68
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế kỷ 21, Việt Nam ta đang từng bước phát triển thành nước công nghiệp
hóa- hiện đại hóa. Hàng loạt các khu công nghiệp, nhà máy được hình thành quanh
các bờ kênh, con sông thành phố. Người dân tập trung ở những khu công nghiệp,
khu đô thị để sinh sống. Vì vậy môi trường sống của chúng ta đang bị đe dọa bởi
sự ô nhiễm trầm trọng và ai cũng nhận thấy rõ điều này.Nhất là các đô thị lớn như
TP .Hồ Chí Minh và Hà Nội. Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng, gây bức
xúc trong dư luận xã hội cả nước ta hiện nay. Vấn đề này càng trầm trọng hơn khi
đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển
của các thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nói
hồtừ đó đề xuất các phương án quản lý và phục hồi ô nhiễm nước để hồ đô thị mãi
giữ được vai trò của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu hiện trạng nguồn nước ở các hồ trong thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nước ao, hồ tù đọng tại
Thành Phố Hồ Chí Minh.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.
Phương pháp luận
Lượng nước chiếm hơn 97% bề mặt trái đất nhưng lượng nước có thể dùng
cho sinh hoạt và sản xuất rất ít, chỉ chiếm khoảng 3%.Tuy nhiên, lượng nước ít ỏi
này đang suy giảm ngày càng nghiêm trọng do ô nhiễm và sử dụng không hợp lý.
Nguồn nước mặt ô nhiễm sẽ làm mất đi mỹ quan do nước đổi màu đục đen,
sự tăng nồng độ chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước có thể sẽ tác động bất lợi đến hệ
sinh thái, chẳng hạn làm giảm tầm nhìn của động vật nước và do vậy cản trở sự bắt
mồi, chất rắn lắng đọng và che phủ lên trứng, nên cản trở sự nở trứng của các loài
động vật nước, …
ỡ . Về lâu dài mức phú
dưỡng ngày càng tăng lên, đe doạ sự suy thoái các hệ sinh thái thuỷ vực và đồng
thời chất lượng nước giảm xuống, gây nguy hiểm cho người sử dụng nguồn nước
đó cho sinh hoạt. Sự ô nhiễm vi khuẩn trong nước cũng gây lo lắng về sức khoẻ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
3
người tiêu thụ nước, đặc biệt là vào mùa khô, có thể gây các bệnh dịch về đường
tiêu hoá (tả, lị, thương hàn…). Theo tổ chức y tế thế giới ghi nhận tại Việt Nam,
trung bình mỗi năm có trên 9 ngàn ca tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh
kém. Theo Ngân hàng Thế giới thì ở Việt Nam có đến 80% những ca bệnh lỵ và
tiêu chảy đều do nguồn nước ô nhiễm và một số bệnh khác liên quan đến các chất ô
- Đề tài tập trung đánh giá cảm quan và các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng
nước : pH, COD, SS, TP, TN, NO
3
-
.
- Thời gian thực hiện đồ án: từ ngày 08/4/2013 đến ngày 17/07/2013. ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tài nguyên nước mặt
1.1.1. Tài nguyên nước mặt Việt Nam
Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường
xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi,
hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết.
6
chục hồ chứa lớn trên sông Mê Kông, Thái Lan đã xây 10 hồ chứa vừa và lớn,
Campuchia dự kiến giữ nước Biển Hồ ở một mực nhất định để phát triển thủy lợi…
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới: trên thực tế, tính trung bình, mỗi
người Việt Nam có thể nhận 9.650m
3
nước/năm trong khi mức trung bình thế giới
là 7.400m
3
. Tuy nhiên, xét về nguồn nước nội địa, Việt Nam chỉ đạt mức trung
bình kém của thế giới với 3.600m
3
/người/năm, ít hơn mức bình quân toàn cầu
(4.000m
3
/người/năm). Nếu tính theo tiêu chí nguồn nước nội địa, Việt Nam thuộc
diện quốc gia thiếu nước.
Theo báo cáo đánh giá ngành nước Việt Nam cho thấy Việt Nam là một
trong những nước có hệ thống sông ngòi chằng chịt, là một nguồn nước mặt dồi
dào, tổng lượng nước mặt hằng năm của nước ta vượt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng
không đều giữa các mùa. Mùa khô ở Việt Nam kéo dài và khắc nghiệt, lượng nước
trong thời gian này chỉ bằng khoảng 30% lượng nước của cả năm. Vào thời điểm
này, khoảng một nửa trong số 16 lưu vực sông chính bị thiếu nước - bất thường
hoặc cục bộ.
Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử
dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài
nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh
tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tuy nhiên, nguồn nước sông tự
xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ
thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km
3
) chiếm 23,9%, sau
đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km
3
, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8
km
3
, 9,6%)…
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số hội trong thế kỷ
21, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh
mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, của Bộ Tài Nguyên
Môi Trường tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng
lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm
2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây
trồng khá lớn, từ 41 km
3
(chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km
3
(năm 1990)
và 60 km
3
năm 2000 (chiếm 85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn,
nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa
cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng
cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ
chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất
75%. Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới
90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng
Lộc – Thị Nghè- Bến Nghé, Lò Gốm , Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Đôi,… dài 7.880
km và các hồ trong thành phố.
1.2. Ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng
cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh
hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Lãnh thổ Việt Nam từ Bắc tới Nam là hệ thống sông ngòi dày đặc. Hầu hết
hệ thống sông lớn như Sông Hồng, Sông Mã, Sông Cửu Long đều bắt nguồn ngoài
lãnh thổ Việt Nam. Khoảng hơn 60% nước mặt ở Việt Nam phụ thuộc nguồn nước
chảy từ các nước láng giềng. Chính vì lẽ đó, những năm gần đây với việc công
nghiệp hóa ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, việc xả thải không được kiểm soát tốt
ở đầu nguồn, đã ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng và làm biến đổi nguồn nước
mặt ở Việt Nam
Nguồn nước mặt ở TP. Hồ Chí Minh đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, bên
cạnh đó là tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang trong tình trạng báo
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
9
động, xảy ra ngay cả trong mùa khô. Nguyên nhân là do hệ thống cồng thoát nước
được xây dựng từ lâu nay đã xuống cấp. Ngoài ra việc xây dựng các khu công
nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam đã làm cho nguồn nước mặt ngày càng bị
nhiễm bẩn trầm trọng.
- Ô nhiễm ở 1 số lưu vực sông lớn:
Theo báo cáo Khoa học Môi Trường “Ô nhiễm nước và hậu quả của nó” của
nhóm sinh viên trường ĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh do thầy Tr ần Quốc Tuấn
hướng dẫn, tháng 11/2009, cho thấy:
Lưu vực sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn:là một vùng tập trung phát triển
công nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng được đô thị hóa nhanh nhất nước. Hàng
năm sông ngòi trong lưu vực nầy tiếp nhận khoảng 40 triệu m
xuống hạ lưu. Kết quả là trên 40% lượng tôm cá bị thất thoát trong mùa vừa qua
(VN trong gian đoạn này phải nhập cảng tôm sú và cá basa của Trung Quốc và Mã
Lai để thanh toán hợp đồng còn đang tồn động với các nước khác).
Khu vực Nhà Bè- Cần Giờ : theo kết quả quan trắc môi trường của TP. Hồ
Chí Minh từ năm 2001 đến tháng 9/ 2009 cho thấy chất lượng nước tại khu vực này
không có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Nồng Dộ oxy hòa tan dao động từ 3-4,1 mg/l,
đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường loại B(> 2mg/l). Nhu cầu oxy sinh hóa
BOD
5
dao động từ 1-3mg/l đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường loại B(<
25mg/l). Mức độ ô nhiễm dầu có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Ô
nhiễm vi sinh ở mức cao và có sự gia tăng trong 9 tháng đầu năm.
Hình 1.1: Bản đồ hệ thống sông ngòi Việt Nam
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
11
- Các nguồn nước mặt khác
Theo kết quả quan trắc chất lượng môitrường mới đây của Sở Tài nguyên và
Môi trường ( Sở TNMT_ HCM, 5/2012):
Trê n địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có khá nhiều kênh rạch và ao hồ, đây
là những tài sản vô cùng quý giá của thành phố. Nguồn nước kênh, rạch, ao hồ trên
địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay ô nhiễm ở mức cao mặc dù thành phố đã có
nhiều biện pháp ngăn ngừa , giảm thiểu và xử lý ô nhiễm trong thời gian qua. Tất
cả các kênh rạch nội thành đều bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh cao, trong đó bị ô
nhiễm nặng nhất là kênh Tân Hóa- Lò Gốm, kênh Tham Lương – Vàm Thuật. Ô
nhiễm nguồn nước đã lan tỏa ra khu vực ngoại thành và tồn tại trong thời gian khá
dài vẫn chưa được xử lý dứt điểm như kênh Thầy Cai – An Hạ(Củ Chi), kênh B và
kênh C( Bình Chánh), kênh Bà Búp, kênh Trần Quang Cơ(Hooc Môn),…Riêng tại
Theo báo cáo của sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP .Hồ Chí
Minh kết quả quan trắc thời gian qua: tại huyện Bình Chánh cho thấy chất lượng
các nguồn nước kênh An Hạ,kênh B, kênh C,… có nhiều thông số (COD, BOD,
Coliforms, ) vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài đến hàng chục ngàn lần. Nguồn nước
kênh B, C thường xuyên có màu đen và bốc mùi hôi thối chủ yếu bị ảnh hưởng bởi
các hoạt động sản xuất, xả thải của các doanh nghiệp thuộc KCN Lê Minh Xuân.
Theo những số liệu mới nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí
Minh: Hệ thống kênh rạch của hệ thống mỗi ngày bị đầu độc bởi 40 tấn rác thải
các loại và 70.000m
3
nước thải công nghiệp (vài năm trước số liệu này là
200.00m
3
) chưa qua xử lý. Hiện nay khu vực ngoại thành từ Bình Chánh, Hóc
Môn đến Củ Chi,… những dòng kênh vốn phục vụ cho việc tưới tiêu trước đây nay
cũng bị ô nhiễm trầm trong thể hiện qua tên gọi của người dân khu vực như kênh
sủi bọt, kênh ngứa, kênh nín thở,…Hiện trạng ô nhiễm các hồ trong công viên cũng
không khá hơn. Hiện nay trên thành phố có hơn 100 điểm ngập nước khi trời mưa
to. Nước ngập thành phố, nước mưa lẫn với nước cống thải của thành phố kèm theo
đủ các loại rác trôi xâm nhập vào các hồ như công viên Hoàng Văn Thụ, hồ Kỳ
Hòa , các khu vực Nam Sài Gòn, …Hàm lượng hữu cơ cao làm đổi màu nước hồ
hoặc làm tăng khả năng phú dưỡng hóa của các qua hồ thể hiện qua việc màu nước
rất xanh do rong tảo phát triển qua độ. Kết quả làm ô nhiễm nguồn nước trong các
ao hồ, tương lai nếu không có biện pháp hữu hiệu xử lý sẻ thành các hồ chết và có
nguy cơ bị san lấp.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
13
Theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu môi trường và cộng đồng (CECR)
hủy sinh học. Hồ Tây và Hồ Đống Đa có mức ô nhiễm nhẹ do hai hồ này có diện
tích lớn và có khả năng tự làm sạch cao. Hồ Hoàn Kiếm đang có khả năng tự làm
sạch dần, tuy nhiên mục pH của nước hồ quá cao 8,1 -10,2 so với mức pH cho phép
đối với nước thủy vực 6,5 -8,5.
Các ô nhiễm này làm tăng nồng độ các chất hữu cơ, vượt quá khả năng tự
làm sạch của hồ, dẫn đến suy thoái chất lượng nước, thiếu hụt oxy, tăng lượng trầm
tích trong hồ, khiến cho nước ao hồ rất đục bẩn, có nhiều hồ, ao nước biến thành
màu đen, hệ thống sinh thái bị đe dọa và rối loạn nghiêm trọng
Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá
rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào
các thuỷ vực đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
14
nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu
nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.
Hiện tượng xâm nhập mặn vùng ven biển là vấn đề chính cần phải giải
quyết đối với vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long.
Bởi trong bối cảnh hiện nay, sự biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ tác động mạnh
mẽ đến nguồn nước; trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển dâng cao thêm 0,3 – 1.0
mét trong vòng 100 năm tới, dẫn đến nhiều vùng thấp ở đồng bằng, ven biển sẽ bị
chìm trong nước.
1.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm nước mặt
1.3.1. Ảnh hưởng đến môi trường
- Nước và sinh vật nước
Nước: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra sự mất cân bằng giữa lượng
chất thải ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,…) và các sinh vật
tiêu thụ lượng chất thải này (vi sinh vật, tảo,…) làm cho các chất hữu cơ, chất rắn
lơ lửng,… không được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng lớn,
người, gây ra các căn bệnh liên quan đến đường hô hấp.
- Ảnh hưởng đến nước ngầm:
Khi nước mặt ô nhiễm các chất ô nhiễm sẽ theo các khe hở của đất thâm
nhập vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm tại khu vực đó. Ở một số địa bàn chủ yếu
sử dụng nước ngầm để sản xuất và sinh hoạt thì vấn đề này gây ảnh hưởng rất
nghiêm trọng.
1.3.2. Ảnh hưởng đến con người
- Thiếu nước sạch để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất.
- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Theo thống kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên - Môi trường, trung bình mỗi
năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh
kém. Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hằng năm có gần 200.000 người mắc
bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô
nhiễm môi trường nước.
Trên thực tế, một số địa phương như xã Hưng Thạnh, xã Thạnh Tân (Tiền
Giang), xã Duy Hòa (Quảng Nam), các ca nhiễm ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ do
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
16
sử dụng nguồn nước ô nhiễm chiếm đến gần 40% dân cư toàn xã, có nơi lên đến
50%.
Theo Thạc sĩ Hoàng Thị Ngọc Ngân, nguyên Trưởng Khoa Sức khỏe cộng
đồng, Trung tâm Y tế dự phòng TP. Hồ Chí Minh, nhóm bệnh do vi sinh vật gây ra,
như bệnh về đường tiêu hoá (tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, viêm gan A), bại liệt,
giun sán, bệnh ngoài da, phụ khoa, bệnh về mắt… là phổ biến nhất. Nghiên cứu của
thế giới đã chứng minh, 80% nguyên nhân gây ra những bệnh này là do nguồn
nước ô nhiễm. Ngoài ra, các bệnh về da, hệ thần kinh, dị tật thai nhi… cũng có
nguyên nhân do nguồn nước bị ô nhiễm các kim loại nặng.
Ô nhiễm nước mặt sẽ dẫn đến tình trạng khan hiếm và thiếu nước, đây là
đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện tượng phú
dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của
dân cư đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước hồ, tăng thêm mức độ ô nhiễm không
khí của đô thị.
Các nguồn gây phú dưỡng hóa:
- Nguồn điểm:
Là nguồn xác định trong không gian nhỏ, trong đó các chất thải chứa hàm
lượng lớn các chất dinh dưỡng đổ trực tiếp vào hệ sinh thái nước ngọt qua các hệ
thống cống rãnh, ống dẫn chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp, khu dân cư.
Đáng chú ý nhất là hiện tượng sử dụng bột giặt, các chất tảy rửa có chứa P,
nước thải được đưa vào ao hồ.
Việc xác định các nguồn này sẽ dễ dàng hơn cho việc xử lý.
- Nguồn phân tán
Là nguồn mà các chất dinh dưỡng(N, P) vào các hệ sinh thái nước ngọt
không theo một con đường nhất định( cống, rãnh,…) chúng thường rất đa dạng
trong không gian và mang tính tạm thời (mùa, điều kiện thời tết,…). Một dạng
chính của loại này là các dòng chảy tràn trên mặt. Chúng được hình thành khi mưa
hay tưới tiêu, chúng không chỉ ngấm xuống đất mà tạo thành những dòng chảy tạm