ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN
ĐA
̣
I HO
̣
C QUÔ
́
C GIA HA
̀
NÔ
̣
I
TRƯƠ
̀
NG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C TƯ
̣
NHIÊN
Nguyễn Thị Chinh NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ CỦA MỘT SỐ
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 3
1.1. UNG THƢ VÀ CƠ CHẾ SINH BỆNH 3
1.1.1. Đặc điểm tế bào ung thƣ và quá trình tiến triển bệnh 4
1.1.1.1. Đặc điểm tế bào ung thƣ 4
1.1.1.2. Quá trình tiến triển bệnh ung thƣ 5
1.1.2. Hậu quả của ung thƣ đối với cơ thể 7
1.2. MỘT SỐ LOẠI THUỐC THƢỜNG DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ
UNG THƢ 8
1.2.1. Thuốc alkyl hóa 8
1.2.2. Thuốc chống chuyển hóa 8
1.2.3. Thuốc làm thay đổi đáp ứng sinh học 9
1.2.4. Dƣợc liệu Việt Nam chữa ung thƣ 9
1.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CHỐNG UNG
THƢ CỦA CHẾ PHẨM 10
1.3.1. Mô hình nuôi cấy tế bào in vitro 10
1.3.1.1. Nuôi cấy 2D 10
1.3.1.2. Nuôi cấy spheroid 12
b. Ứng dụng của spheroid trong nghiên cứu ung thƣ 13
c. Một số đặc tính của tế bào ung thƣ phù hợp với mô hình nuôi cấy 3D 14
1.3.2. Mô hình in vivo 16
1.4. CÁC DÒNG CHUỘT SWISS VÀ BALB/C 17
1.4.1. Dòng chuột Swiss 18
1.4.2. Dòng chuột BALB/c 18
1.5. CÁC CHẾ PHẨM PHÂN LẬP TỪ HẠT NHỤC ĐẬU KHẤU
Myristica fragrans 19
1.6. THUỐC ĐỐI CHỨNG TAXOL VÀ 6MP 20
Luận văn thạc sĩ khoa học Mục lục
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
vi
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
vii
3.2. SỰ BIẾN ĐỔI THỂ TÍCH VÀ HÌNH THÁI KHỐI SPHEROID
MCF7 DƢỚI TÁC DỤNG CỦA CHẾ PHẨM 3.8 37
3.2.1. Sự tạo spheroid MCF7 trong thí nghiệm thử tác dụng của hoạt
chất 1 37
3.2.2. Hình thái của khối spheroid MCF7 dƣới tác dụng của hoạt chất 1 38
3.2.3. Thể tích khối spheroid MCF7 dƣới ảnh hƣởng của hoạt chất 1 43
3.3. SỰ BIẾN ĐỔI VỀ THỂ TÍCH VÀ HÌNH THÁI KHỐI U RẮN
SAR180 TRÊN CHUỘT SWISS DƢỚI TÁC DỤNG CỦA CHẾ
PHẨM 3.8 Ở CÁC LIỀU THỬ KHÁC NHAU 47
3.3.1. Ảnh hƣởng của hoạt chất 1 đến kích thƣớc khối u 47
3.3.2. Ảnh hƣởng của hoạt chất 1 đến hình thái khối u chuột 51
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Tiếng Việt 57
Tiếng Anh 58
Luận văn thạc sĩ khoa học Danh mục chữ viết tắt
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATCC
American Type Culture Collection
DMEM
Dulbecco’s Modified Eagle Medium
TBUT
Tế Bào Ung Thư
Luận văn thạc sĩ khoa học Danh mục bảng
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Hóa chất sử dụng trong đề tài 23
Bảng 2. Dụng cụ và vật tư tiêu hao 24
Bảng 3. Các thiết bị sử dụng 25
Bảng 4. Bố trí thí nghiệm thử tác dụng của hoạt chất 1 trên mô hình spheroid MCF7
28
Bảng 5. Phân bố thời gian và liều lượng cho chuột uống ở các lô thí nghiệm 30
Bảng 6. Giá trị IC50 của các hoạt chất trên các dòng tế bào ung thư 34
Bảng 7. Tỷ lệ tan rã khối cầu spheroid dưới tác dụng của hoạt chất 1 43
Bảng 8. Tỷ lệ kích thước khối spheoroid dưới ảnh hưởng của hoạt chất 1 qua các
lần đo so với ngày đầu trước khi tra hoạt chất 44
Bảng 9. Tỷ lệ kích thước khối spheroid dưới ảnh hưởng của taxol qua các lần đo so
với ngày đầu trước khi tra thuốc 46
Bảng 10. Tỷ lệ chuột tiêu hết u ở các lô thí nghiệm 48
Bảng 11. Kích thước u (mm) qua các lần đo 49
Bảng 12. Thể tích u (mm
3
) qua các lần đo 50
Luận văn thạc sĩ khoa học Danh mục hình
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
iii
Nguyễn Thị Chinh K18 Sinh học Thực nghiệm
iv
Hình 19. Chuột ở lô đối chứng 6-MP 53
Hình 20. Chuột ở lô uống hoạt chất meso-dihydroguairetic acid (1g/kg) 54
Luận văn thạc sĩ khoa học Mở đầu
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
1
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội, hiện nay số người mắc bệnh ung thư ở
Việt Nam cũng như trên thế giới ngày càng gia tăng. Năm 2000, ở Việt Nam tỷ lệ
mắc chung của bệnh ung thư ở nam giới là 104/100.000 dân, ở nữ giới là
101/100.000 dân, thì đến năm 2010 tỷ lệ này ở nam giới tăng đến 181/100.000 dân
và ở nữ giới tăng đến 134/100.000 dân. Trong đó các loại bệnh ung thư có tỷ lệ mắc
mới tăng rõ rệt là ung thư phổi, ung thư đại tràng, ung thư thực quản, ung thư tiền
liệt tuyến ở nam giới và ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư phổi, ung thư đại tràng
và ung thư tuyến giáp ở nữ giới. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 75.000 người chết
vì bệnh ung thư. Ước tính năm 2011 có thêm 126.000 người mắc mới [11]. Bệnh
ung thư đã trở thành một mối đe dọa cho sức khỏe cộng đồng, không loại trừ một ai
trong xã hội. Việc nghiên cứu tìm ra các chất có khả năng điều trị căn bệnh ung thư,
cũng như ngăn cản sự phát triển của các tế bào ung thư làm tăng thời gian sống cho
bệnh nhân luôn được các nhà khoa học trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu.
Đến nay, đã có nhiều hoạt chất chống ung thư có nguồn gốc tự nhiên đã được khám
phá ra và đem vào sử dụng trên lâm sàng. Các hoạt chất điển hình là paclitaxel
(taxol), vinblastin và vincristin, camptothecin, adriamycin…
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và mưa nhiều nên có hệ
thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Có rất nhiều loại cây được sử dụng là
những dược liệu quí. Đã có nhiều hoạt chất được tách chiết từ thực vật có tác dụng
hỗ trợ điều trị căn bệnh ung thư cũng như ngăn chặn sự phát triển của khối u được
3
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN
1.1. UNG THƢ VÀ CƠ CHẾ SINH BỆNH
Ung thư không phải chỉ là một loại bệnh mà là khoảng trên 200 loại bệnh
khác nhau [34]. Mỗi loại có nguyên nhân riêng của nó, nhưng đều có nguồn gốc
chung từ việc tế bào bị đột biến gen [34]. Năm 1953, lần đầu tiên tế bào ung thư
được quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Những thành tựu nghiên cứu ở mô hình tế
bào cho đến nay là cơ sở chắc chắn cho nhận định của giáo sư Arnold Graffi “vấn
đề của ung thư thực chất là vấn đề của tế bào học”. Vì vậy muốn điều trị ung thư
phải hiểu được cơ sở tế bào học của nó [8, 34]. Các đặc điểm nổi bật chung của tế
bào ung thư là tế bào bị đột biến gen, có khả năng sự tăng sinh vô hạn, không kiểm
soát được, có khả năng xâm lấn và phát triển ở các cơ quan, tổ chức khác của cơ thể
(sự di căn), có khả năng tăng sinh mạch máu [13, 34].
Bệnh ung thư bắt đầu từ khi có một tế bào bắt đầu vượt qua sự kiểm soát của
cơ thể, bị đột biến gen, phát triển không ngừng và hình thành một đám tế bào có
chung đặc điểm là phát triển vô kiểm soát, xâm lấn và chèn ép các mô xung quanh.
Có rất nhiều nguyên nhân làm chuyển dạng tế bào lành thành tế bào ung thư, bao
gồm: các tác nhân vật lý (chủ yếu là tia bức xạ ion hóa), các tác nhân hóa học, các
virus, một số bệnh viêm mạn tính, nhiễm trùng lâu ngày, rối loạn nội tiết, rối loạn
hoạt động enzyme và nhiều vấn đề dinh dưỡng liên quan. Các tác nhân này gây ảnh
hưởng sâu sắc đến cơ cấu di truyền phân tử của tế bào, làm thay đổi khả năng trao
đổi chất, năng lượng và thông tin với môi trường. Ngoài ra, ung thư còn có thể do
yếu tố di truyền bẩm sinh [3, 8, 34].
Quá trình hình thành khối u từ tế bào ung thư phải trải qua nhiều giai đoạn.
Thời gian từ tế bào ung thư khởi đầu đến khi xuất hiện một u có thể nhận biết gọi là
thời kì tiềm ẩn (ở người có thể kéo dài từ 10 đến 20 năm) [8, 34]. Sau khi phát triển
thành khối u, các tế bào ung thư tiếp tục tăng sinh hỗn loạn, tự mất đi các thụ thể để
nhận biết giới hạn với các tế bào bên cạnh, sản xuất ồ ạt cytokin và enzyme
proteaza để phá hủy màng đệm lót và môi trường ngoại bào xung quanh. Do đó, các
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
thành những tế bào bất diệt.
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
5
- Tế bào ung thư không tuân theo những tín hiệu từ những tế bào khác trong
đó có những tín hiê
̣
u ức chế tăng sinh , bất kể những tác hại gây ra do số
lượng tế bào quá lớn gây chèn ép các mô xung quanh.
- Tế bào ung thư bị mất các phân tử trên bề mặt màng tế bào có khả năng giữ
chúng ở đúng vị trí, vì vậy chúng có thể tự tách ra và di chuyển đến những vị
trí khác trong cơ thể, quá trình này gọi là di căn.
- Thời gian nhân đôi của tế bào ung thư rất ngắn (dòng tế bào Sarcoma 180 có
thời gian nhân đôi là 15,2 giờ) do tế bào ung thư có khả năng thoát khỏi sự
kiểm soát và điều hòa của cơ thể.
1.1.1.2. Quá trình tiến triển bệnh ung thư
Weinberg R.A. đề xuất 6 giai đoạn trong quá trình phát sinh ung thư ác tính
[18]. Có thể tóm tắt như sau:
1. Giai đoạn khởi phát
Các tế bào ung thư nhận được các tín hiệu thúc đẩy sự tăng sinh và phân bào.
Các tín hiệu này có thể xuất hiện do sự thay đổi của các yếu tố ngoại bào hoặc do sự
thay đổi bên trong hệ thống truyền tín hiệu nội bào dẫn tới sự tăng sinh và phân bào.
Trong những trường hợp “cực đoan” nhất, các tín hiệu kích thích phân bào lại do
chính các tế bào ung thư tự sản sinh ra. Lúc đó, tế bào được kích thích phân chia
không giới hạn.
2. Giai đoạn thúc đẩy
Các tế bào trở nên “vô cảm” một cách bất thường với các tín hiệu ức chế
phân bào. Trong các tế bào bình thường, sự phân bào thường được kích hoạt bởi các
tín hiệu nhất định; và tồn tại song song với chúng là các tín hiệu ức chế phân bào.
thì xuất hiện sự hình thành mạch máu mới. Lúc này các khối u được nuôi dưỡng và
phát triển rất mạnh. Đây là một bước “củng cố” các tế bào ung thư ác tính hình
thành mạch máu mới nuôi dưỡng các khối u, giúp khối u phát triển mạnh mẽ và gây
nguy hiểm cho cơ thể.
6. Giai đoạn xâm lấn và di căn
Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư có khả năng xâm lấn vào các vùng mô
khác và hình thành khối u mới. Hơn 90% số bệnh nhân bị ung thư đều chết vào giai
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
7
đoạn khi các tế bào ung thư đã di căn tới các phần khác nhau của cơ thế. Khi các
khối u di căn, các tế bào ung thư rời khỏi khối u nguyên phát và di chuyển dọc theo
đường máu hoặc đường bạch huyết tới các vị trí khác nhau trong cơ thể trước khi
chúng trú ngụ ở vị trí mới và hình thành khối ung thư mới. Như vậy kết quả di căn
là sự hình thành các khối u thứ cấp ở vị trí có thể cách rất xa vị trí khối u nguyên
phát ban đầu. Khi ung thư đã tiến triển đến giai đoạn này thì sự kiểm soát và điều trị
cực kỳ khó khăn. Vì vậy có thể nói di căn là giai đoạn cuối cùng và nguy hiểm nhất
trong quá trình phát triển của ung thư.
Tuy nhiên đối với khối u lành tính thì giai đoạn này không xảy ra, các tế bào
trong khối u lành tính sinh sản chậm và bám vào các mô liên kết tại chỗ, khối u có
ranh giới rõ ràng và không gây cảm giác đau cho người bệnh nếu kích thước khối u
không quá to hay chèn ép vào dây thần kinh. Do đó khối u lành không gây nguy
hiểm cho người bệnh và dễ chữa trị.
1.1.2. Hậu quả của ung thƣ đối với cơ thể
Tại vị trí nguyên phát, nếu không điều trị ngăn chặn kịp thời, khối u phát
triển làm phá hủy mô lành xung quanh, làm hỏng các chức năng cơ quan có u và
gây đau đớn cho người bệnh.
Điều đáng nói là ung thư rất hay di căn vào các cơ quan quan trọng của cơ
thể làm tổn thương cơ quan này và là nguyên nhân chủ yếu làm người bệnh tử vong.
thành axit nucleic gọi là chất chuyển hóa (metabolite). Thuốc chống chuyển hóa là
những chất có cấu trúc tương tự như chất chuyển hóa, nên cạnh tranh với chất
chuyển hóa, ngăn cản việc tạo thành axit nucleic.
Thuốc chống chuyển hóa gồm các nhóm chính sau: dẫn chất pyrimidin
(Fluoruracil, tegafur, cytabarin…); dẫn chất purin (Azathioprin, mercaptopurin,
thioguanin); dẫn chất của acid folic (Methotrexat); dẫn chất ure (Hydroxycarbamid,
mitoguazon); dẫn chất acridin (Amsidin); dẫn chất anthracen (Bisantren,
mitoxantron); dẫn chất khác (Pentostatin, celiptium).
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
9
1.2.3. Thuốc làm thay đổi đáp ứng sinh học
Các lymphokin, cytokin, sản phẩm của các tế bào do hoạt hóa hệ thống miễn
dịch có khả năng thay đổi đáp ứng sinh học làm tiêu giảm khối u. Interferon,
interleukin – 2, là những chất có nhiều tác dụng trong đó có tác dụng chống ung
thư, thường dùng trong điều trị ung thư máu [1].
1.2.4. Dƣợc liệu Việt Nam chữa ung thƣ
Thuốc chữa ung thư có nguồn gốc thực vật gồm một số alkaloid, glycozid
hoặc các dẫn chất bán tổng hợp của chúng. Thuốc nhóm này có thể kể đến là:
vincristin, vinblastin, podophyllin, thaliblastin, etoposid, teniposid, elsidin. Các
nghiên cứu đã chỉ ra một số cây thuốc Việt Nam có các thành phần kể trên:
a. Dừa cạn: tên khoa học là Catharanthus roseus, thuộc họ trúc đào
Apocynaceae. Từ dừa cạn đã chiết được các alkaloid chữa ung thư là
vinblastin, vincristin, cũng như các bán tổng hợp từ vinblastin là vinorelbin
và eldisin [4].
b. Một số cây trong họ hành tỏi Liliaceae như tỏi ta, hành ta và tỏi độc. Nước
chiết từ tỏi có tác dụng chống lại ung thư miệng của chuột hamster khi gây
ung thư miệng chuột. Dầu tỏi và dầu hành có tác dụng chống lại khối u ở da
chuột nhắt trắng [1].
miễn dịch với hợp chất. Điều kiện làm việc phải hoàn toàn vô trùng đòi hỏi kỹ thuật
và kinh nghiệm cao của người làm thí nghiệm, chi phí cho thí nghiệm cũng khá đắt
tiền.
1.3.1.1. Nuôi cấy 2D
Có nhiều điểm khác biệt về tập tính giữa tế bào nuôi cấy và tế bào cùng loại
trong cơ thể, do chúng chuyển từ sự kết hợp theo dạng không gian ba chiều sang
mặt phẳng hai chiều. Không còn đặc tính tương tác tế bào chuyên biệt của mô, vì
khi dòng tế bào hình thành, nó có thể hiện diện chỉ một, hay hai dạng tế bào nên
nhiều tương tác đa chiều bị mất đi. Môi trường nuôi cấy cũng thường thiếu vài
thành phần liên quan đến sự điều hòa in vivo, như các chất dẫn truyền thần kinh và
hệ nội tiết. Thiếu sự kiểm soát này, chuyển hóa của tế bào trong điều kiện in vitro
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
11
ổn định và dễ kiểm soát hơn trong in vivo, nhưng có thể không thực sự đại diện cho
mô, nơi mà các tế bào này được tách ra [7].
Vì hầu hết các dòng tế bào được bảo quản lạnh nên thông thường, quy trình
nuôi cấy bắt đầu bằng việc giải đông tế bào. Các tế bào ung thư được nuôi cấy đơn
lớp 2D trong đĩa Petri thủy tinh hoặc nhựa, bổ sung môi trường nuôi cấy thích hợp
rồi được đưa vào trong tủ nuôi cấy 37
0
C, 5% CO2 . Sử dụng các loại thuốc nhuộm
protein sẽ cho phép chúng ta xác định được mối quan hệ đáp ứng liều giữa các dòng
tế bào khác nhau với các nồng độ thuốc thử khác nhau [33].
Các tế bào khi được phân lập đem nuôi cấy in vitro thường phát triển thành
dạng trôi nổi hoặc bám dính hoặc hỗn hợp cả 2 loại. Hầu hết các tế bào động vật
đều bám vào một cấu trúc trong mô liên kết, màng cơ bản (basement membrane)
hay chất nền khoáng (như xương). Các tế bào trong máu, bạch huyết hay những loại
tế bào khác chỉ phát triển bình thường trong “huyền phù”. Các loại tế bào ung thư
Lớp vòng ngoài: Gồm những tế bào sống, phân chia mạnh, gồm khoảng từ 2-3
lớp tế bào xếp khít nhau. Độ dày mỏng của lớp này tùy thuộc từng dòng tế bào
khác nhau, tùy điều kiện môi trường và tùy nguồn tế bào ban đầu dùng để tạo
spheroid.
Lớp trung gian: Gồm những tế bào vẫn sống nhưng đã ngừng phân chia. Các tế
bào của vùng này có thể hòa nhập để thành những tế bào của vòng ngoài hoặc
vòng trong phụ thuộc điều kiện nuôi cấy (có mạch máu hoặc không, nồng độ
glucose, pH…). Vai trò của vùng này khá quan trọng trong các thí nghiệm điều
trị ung thư bằng hóa chất, tia xạ trị.
Lớp trong cùng: là lõi hoại tử. Lõi này có màu đen do nó gồm những tế bào đã
chết. Chúng có nhân kết đặc lại nên ánh sáng quang học không thể xuyên qua
được vì vậy lớp này có màu đen khi quan sát dưới kính hiển vi. Độ dày mỏng
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
13
của lớp này tùy thuộc vào từng giai đoạn khác nhau của sinh trưởng spheroid
[29].
b. Ứng dụng của spheroid trong nghiên cứu ung thƣ
Những spheroids có những ứng dụng đặc biệt mà những tế bào ung thư nuôi
cấy 2D không thể có được như:
Cấu trúc 3D của những spheroids cho phép những nghiên cứu chuyên sâu về
sự hấp thu của thuốc và sự kháng lại xạ trị và hóa trị những thứ mà phụ thuộc vào
tương tác bên trong tế bào.
Spheroids được sử dụng trong những mô hình nghiên cứu sự kích thích hoặc
ức chế sự tăng sinh mạch máu in vitro, in vivo trong những thí nghiệm nuôi chung
với tế bào nội mô in vitro hoặc cấy ghép in vivo (cấy ghép vào chuột, khỉ, )
Spheroids cũng được sử dụng để nghiên cứu hiện tượng xâm lấn, hoặc vi di
căn cũng như tương tác, phản ứng của tế bào lành trong những thí nghiệm đồng
nuôi cấy spheroid và những mô tế bào lành khác.
Những tế bào bình thường ngừng phát triển khi màng tế bào tiếp xúc với một
màng khác. Khi hai tế bào bình thường tiếp xúc với nhau 1 hoặc cả 2 sẽ ngừng
chuyển động hoặc chuyển động sang hướng khác. Điều này ức chế sự tăng trưởng
sau khi tiếp xúc và được gọi là sự ức chế tiếp xúc (hay ức chế liên lạc).
Sự ức chế do tiếp xúc là một trong những nguyên nhân làm cho tế bào biết
khi nào phải ngừng phát triển. Ví dụ như nó làm cho các tế bào của vết đứt ngón tay
không phát triển mãi mãi sau khi hàn gắn vết đứt tay. Hơn nữa, những tương tác
giữa các tế bào làm cho chúng dừng sự phân chia và phát triển đúng chỗ, đúng thời
điểm. Những phân tử bề mặt tế bào giúp tế bào gắn với nhau ở đúng nơi đúng chỗ,
xác định tế bào này ở vị trí này, ở bên cạnh tế bào này chứ không ở vị trí khác, bên
tế bào khác.
Nhưng tế bào ung thư bị biến đổi những đặc tính trên màng tế bào, bị mất
các phân tử trên bề mặt tế bào. Do đó mà các tế bào ung thư gắn một cách lỏng lẻo
với các tế bào xung quanh. Giữa các tế bào ung thư mất sự ức chế tiếp xúc. Chúng
dường như thiếu sự nhận dạng đặc trưng và thông tin đặc trưng. Những điều này
cho phép các tế bào có thể tách một cách dễ dàng từ các tế bào hàng xóm và xâm
nhập vào các cơ quan khác nơi chúng hình thành các khối u di căn,…
Luận văn thạc sĩ khoa học Tổng quan
Nguyễn Thị Chinh K18 Cao học Sinh học
15
Việc mất những sự ức chế tiếp xúc cũng như mất đi những phân tử bề mặt
gắn đặc hiệu của tế bào ung thư cũng giúp chúng dễ dàng tụ tập và phát triển thành
những khối spheroids trong điều kiện nuôi cấy spheroids [29].
Các tế bào ung thư giảm khả năng dính
Trong cơ thể hầu hết các tế bào động vật đều bám vào một cấu trúc trong mô
liên kết màng cơ bản hay chất nền khoáng (như xương). Ngoại trừ những tế bào đặc
biệt khác trong máu, bạch huyết chỉ phát triển bình thường trong huyền phù. Do đó
mà một số tế bào phát triển in vivo nhưng không thể phát triển in vitro. Những tế
bào bám dính vào bề mặt nuôi cấy chúng sẽ có hình dạng dài, trải rộng trên mặt đáy
một loại axit có thể làm nhiệm vụ kết dính tế bào một cách đặc hiệu theo cơ chế axit
sialic ở bề mặt tế bào này liên kết với kialytransferase của bề mặt tế bào kia. Do đó
mà tính dính đặc hiệu của những tế bào ung thư bị giảm so với những tế bào bình
thường [29].
Sự mất khả năng phụ thuộc neo
Hầu hết các tế bào bình thường phải gắn với một nền tảng cứng là khung
ngoại bào ECM, hoặc giá thể rắn (xương) để phát triển.
Tuy nhiên những tế bào ung thư có thể phát triển được ngay cả khi không có
khung ngoại bào để neo. Như khi chúng có thể phát triển bình thường trong môi
trường nuôi cấy có phủ vật liệu không bám dính ở đáy hoặc môi trường có methyl
cellulose. Đặc tính mất neo là 1 trong những đặc điểm nổi bật nhất của các tế bào
chuyển dạng biến đổi thành các khối u ác tính. Đặc tính này được sử dụng để chọn
lọc và phân lập được những tế bào chuyển dạng từ quần thể tế bào bình thường. Và
đặc tính này cũng là một trong những nguyên nhân giúp hình thành những khối
spheroid trong nuôi cấy spheroid [29].
1.3.2. Mô hình in vivo
Phương pháp in vivo được dùng để chỉ những thí nghiệm dùng các mô sống
hay toàn bộ cơ thể còn sống làm đối tượng thử nghiệm. Thực tế cho thấy có
những hợp chất có tác dụng, biểu hiện hoạt tính khi thử nghiệm in vitro nhưng
chưa chắc đã có kết quả mong muốn khi áp dụng lên cơ thể động vật thí nghiệm.
Có nhiều loài động vật được sử dụng để xây dựng mô hình in vivo như thỏ,
mèo, chuột, cá, gà… Trong số đó, chuột được sử dụng rộng rãi hơn cả do sự tương
đồng về mặt di truyền với con người cũng như sự tiện lợi khi nuôi và chăm sóc
trong phòng thí nghiệm. Chuột dễ sinh sản và đặc biệt là có sự ổn định khi dùng để
gây tạo khối u thực nghiệm.