Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ II
MÔN NGỮVĂN LỚP 10
PHẦN LÀM VĂN.
Bài: Tính chuẩn xác và hấp dẫn của văn bản thuyết minh.
Kiến thức cơ bản:
1. Tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh.
- Mục đích của văn bản thuyết minh là cung cấp những tri thức về sự vật, hiện tượng khách
quan. Do vậy, tính chuẩn xác là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất của văn bản thuyết minh.
- Để đạt được tính chuẩn xác cần phải:
+ Tìm hiểu thấu đáo về đối tượng trước khi viết.
+ Thu thập đầy đủ tài liệu.
- Chú ý thời điểm xuất bản của các tài liệu.
2. Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh.
- Văn bản thuyết minh cần phải có tính hấp dẫn để thu hút người đọc, người nghe.
- Để tạo tính hấp dẫn cần phải:
+ Sử dụng nhiều hình tượng sinh động.
+ Sử dụng so sánh để làm nổibạc sự khác biệt, gây ấn tượng.
+ Tình cảm chân thật.
* Chất lượng của văn bản thuyết minh phụ thuộc vào tính chuẩn xác nhưng văn bản thuyết
minh cũng cần phải hấp dẫn để loi cuốn người nghe, người đọc.
Bài: Phương pháp thuyết minh.
1. Khái niệm phương pháp thuyết minh: Là hệ thống các thao tác, cách thức mà người thuyết
minh dùng để đạt tới mục đích làười đọc, người nghe nắm được điều mình muốn nói.
2. Những phương pháp thuyết minh thường gặp là: định nghĩa, chú thích, liệt kê, phân loại,
phân tích, giảng giải nguyên nhân – kết quả, nêu ví dụ, so sánh, dùng số liệu,
3. Việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh cần tuân theo những
nguyên tắc sau đây:
+ Không xa rời mục đích thuyết minh.
+ Làm nổi bật bản chất và đặc trưng của sự vật.
+ Làm cho người đọc, ngươì nghe tiếp nhận dễ dàng, hứng thú.
1. Khái niệm về lập luận trong văn nghị luận: Là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn
dắt người nghe, người đọc đến một kết luận nào đó mà người viết, người nói muốn đạt tới.
2. Cách xây dựng lập luận: Để xây dựng lập luận trong văn nghị luận cần phải:
- Xác định luận điểm chính xác, minh bạch,.
- Tìm luận cứ thuyết phục.
- Lựa chọn các phương pháp lập luận hợp lí
Bài: Các thao tác nghị luận:
1. Khái niệm thao tác nghị luận: Là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu
cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận.
2. Một số thao tác nghị luận thường gặp: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh
3. Yêu cầu khi sử dụng các thao tác nghị luận: Mỗi thao tác đều có ưu điểm và hạn chế
riêng. Cần phải vận dụng các thao tác thích hợp để hoạt động nghị luận đạt hiệu quả.
Bài: Viết quảng cáo.
1. Khái niệm văn bản quảng cáo: Là loại văn bản thông tin, thuyết phục khách hàng về
chất lượng, lợi ích, sự tiện dụng, của sản phẩm, dịch vụ do đó họ thích mua hàng, sử dụng
dịch vụ.
2. Yêu cầu: Ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn, tạo ấn tượng, trung thực, tôn trọng pháp luật,
thuần phong mĩ tục.
3. Cách viết:
- Chọn nội dung độc đáo, gây ấn tượng, thể hiện tính ưu việt, tiện ích của sản phẩm.
- Trình bày theo kiểu quy nạp hoặc so sánh và sử dụng từ ngữ tuyệt đối.
PHẦN TIẾNG VIỆT
Bài: Khái quát lịch sử phát triển của tiếng Việt.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 2
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
1. Lịch sử phát triển của tiếng Việt:
- Lịch sử tiếng Việt gắn bó với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.
- Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á, dòng Môn – Khmer.
- Tiếng Việt có quan hệ học hàng với tiếng Mường; quan hệ tiếp xúc với tiếng Hán, Thái.
1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật:
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu được dùng trong các tác phẩm văn chương, không
chỉ có chức năng thông tin mà còn thõa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ
được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt giá trị nghệ thuật
– thẩm mĩ.
2. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:
- Tính hình tượng
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 3
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
+ Nội dung tư tưởng, tình cảm, cảm xúc về cái đẹp phải được biểu hiện qua các hình tượng cụ
thể.
+ Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, người viết thường sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ.
+ Tính hình tượng dẫn đến tính đa nghĩa, tính hàm súc của ngôn ngữ nghệ thuật.
- Tính truyền cảm
+ Thể hiện ở chỗ làm cho người đọc, người nghe dồng cảm với người viết.
+ Có được nhờ lựa chọn ngôn ngữ để diễn đạt, bình giá.
- Tính cá thể hóa.
+ Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện giọng điệu riêng, phong cách riêng của từng tác giả, bắt
nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết.
+ Bộc lộ ở vẻ riêng trong lời nói của nhân vật, trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình
ảnh, tình huống trong tác phẩm.
+ Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật sự sáng tạo, mới lạ, không trùng lặp.
Bài: văn bản văn học
1. Khái niệm:
Ngày nay một văn bản được coi là văn bản văn học khi:
- Nó phản ánh và khám phá cuộc sống, bồi dưỡng tư tưởng và tâm hồn, thõa mãn nhu
cầu thẩm mĩ nào đó.
- Ngôn từ có nhiều tìm tòi, sáng tạo, nhiều hình tượng mang hàm nghĩa sâu sắc.
- Được viết theo một thể loại nhất định.
- Đoạn 1: (Từng nghe chứng cớ còn ghi): Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập
dân tộc của nước Đại Việt ( nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống xâm lượt
- Đoạn 2: ( ai bảo thần dân chịu được): Tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh.
- Đoạn 3: ( Cũng là chưa thấy xưa nay): Kể lại diễn biến của cuộc chiến
- Đoạn 4: ( ai nấy đều hay): Tuyên bố kháng chiến thắng lợi, rút ra bài học lịch sử.
2. Giá trị nghệ thuật.
- Nghệ thuật kết cấu: Vận dụng sáng tạo kết cấu chung của bài cáo.
- Nghệ thuật lập luận: Tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộ là cơ sở chân lí để triển khai lập
luận, lí lẽ luôn gắn liền với chứng minh bằng thực tiễn.
- Bút pháp nghệ thuật: Kết hợp giữa bút pháp tự sự, trữ tình với bút pháp anh hùng ca.
- Hình ảnh: giàu sức biểu cảm.
Bài: TỰA TRÍCH DIỄM THI TẬP
1. Giá trị nội dung:
- Các nghuyên nhân khiến cho thơ ca Việt Nam qua các thời đại trước thế kỉ XV không được
lưu truyền đầy đủ.
- Niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương đối với nền thơ ca dân tộc, ý thức
đôc lập thể hiện qua công việc sưu tầm gian khổ và cao đẹp.
2. Giá trị nghệ thuật.
- Nghệ thuật lập luận chặt chẽ, lời lẽ thiết tha.
Bài: HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
1. Giá trị nội dung:
- Khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia: có quan hệ sống còn đến sự suy
vong của đát nước.
- Khắc bia tiến sĩ là việc làm khích lệ nhân tài, không những có ý nghĩa đương thời mà còn có
ý nghĩa đối với hậu thé.
- Thấy được chính sách trọng nhân tài của triều đại Lê Thánh Tông, từ đó rút ra bài học lịch
sử quý báu.
2. Giá trị nghệ thuật.
Kết cấu chặt chẽ, lạp luận khúc chiết, giàu sức thuyết phục.
Bài: HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
người chồng cứ xa vắng biền biệt.
- Từ bi kịch này toát lên ý nghĩa chống chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
- Giá trị nhân đạo, đề cao quyền sống và trân trọng khát vọng hạnh phúc của con người.
2. Giá trị nghệ thuật.
- Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
- Thể thơ song thất lục bát phù hợp với việc diễn tả nội tâm nhân vật.
Bài: TRAO DUYÊN
1. Giá trị nội dung:
- Tình yêu sâu nặng của Kiều: Thể hiện qua ý nghĩa của các kỷ vật tình yêu.
- Bi kịch tình yêu: thể hiện qua việc Kiều nghĩ đến cái chết và qua lời đối thoại của Kiều.
2. Giá trị nghệ thuật.
Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật.
Bài: NỖI THƯƠNG MÌNH
1. Giá trị nội dung:
- Số phận bi kịch của Kiều trong cảnh sống ở lầu xanh.
- Nỗi thương thân, xót phận và ý thức về phẩm giá của Kiều
- Sự chuyển biến trong ý thức về cá nhân của con người trong văn học trung đại.
2. Giá trị nghệ thuật.
- Nghệ thuật ngôn từ:
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 6
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
+ Bút pháp ước lệ
+ các kết cấu đối xứng
Bài: CHÍ KHÍ ANH HÙNG
1. Giá trị nội dung:
- Lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du gửi gắm qua hình tượng Từ Hải, một con người có phẩm
chất và chí khí phi thường.
2. Giá trị nghệ thuật.
Nghệ thuật miêu tả người anh hùng:
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 7
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
Trần tôn là thầy, được các nho sĩ đời sau xem là một trí thức nho học chân chính của thời
Thịnh Trần.
Tác phẩm của ông bộc lộ tinh thần yêu non sông đất nước, tự hào về truyền thống vẻ
vang của lịch sử dân tộc, đượm sắc thái trữ tình hoài cổ. Ngôn ngữ trong văn chương của
Trương Hán Siêu tinh tế, lắng đọng, sử dụng thành công những hình dung từ giàu sắc thái trữ
tình, giọng điệu thi phú rất uyển chuyển. Bài “Phú sông Bạch Đằng” được sáng tác sau thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khoảng 50 năm. Bạch Đằng là con sông ghi
dấu nhiều chiến công oanh liệt của dân tộc như trận thắng quân Nam Hán năm 938 của Ngô
Quyền, trận thắng quân Nguyên Mông năm 1288 của Trần Hưng Đạo. Đã có rất nhiều nhà thơ
viết về con sông lịch sử đầy niềm tự hào này, nhưng bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương
Hán Siêu là nổi tiếng và đặc sắc nhất. Tác phẩm được viết theo lối phú cổ thể. Đây là một thể
loại văn có nguồn gốc từ Trung Quốc, viết bằng văn vần hoặc văn xuôi có xen lẫn văn vần, có
nội dung kể, tả khách quan các sự việc, phong tục, cảnh vật, bàn sự đời. Bài “Phú sông Bạch
Đằng” có hai nhân vật là khách và các bô lão. Khách trong tác phẩm là người có chí bốn
phương, thích du ngoạn, ngắm cảnh, bồi bổ kiến thức “Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong
dạ cũng nhiều”. Khách bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, được gặp các bô lão, được các bô lão
kể cho nghe về chiến công oanh liệt của tướng quân nhà Trần năm nào khiến cho “Ánh nhật
nguyệt chừ phải mờ-Bầu trời đất chừ sắp đổi” với ‘Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới-
Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói”. Khách và các bô lão bình luận về tầm vóc của
chiến thắng, rút ra những nguyên nhân thắng lợi và ca ngợi sự tài tình, nhân đức của các vua
Trần cùng tướng quân Trần Quốc Tuấn:
Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thủa thanh bình,
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao
“Phú sông Bạch Đằng” là bài phú tiêu biểu bộc lộ lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào
về truyền thống anh hùng, truyền thống nhân nghĩa sáng ngời của đất nước ta. Bài phú còn thể
hiện tinh thần nhân văn cao đẹp, tâm sự hoài cổ tha thiết của tác giả. Tác phẩm có cấu tứ đơn
và bi kịch nhất trong lịch sử.
- Giới thiệu về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi :
+ Nói Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận xuất sắc bởi ông có một khối lượng lớn các tác
phẩm chính luận sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, nhân nghĩa. Nghệ thuật viết chính luận
của ông cũng lên đến bậc thầy.
+ Nguyễn Trãi còn là nhà thơ trữ tình xuất sắc :
Về mặt nội dung : Thơ ông phản chiếu vẻ đẹp của tâm hồn ông trong sáng, đầy sức sống.
Nguyễn Trãi hiện lên trong thơ vừa là người anh hùng vĩ đại, vừa là con người trần thế
bình dị.
Về mặt nghệ thuật : Ông đã có những cách tân lớn trên hai phương diện thể loại và ngôn
ngữ. Ông đã đan xen thành công những câu thơ lục ngôn vào thể thơ thất ngôn Đường luật.
Ông đã góp phần Việt hóa ngôn ngữ thơ Nôm.
- Đánh giá về đóng góp của Nguyễn Trãi với văn hóa, văn học dân tộc :
+ Ông đã trở thành một hiện tượng văn học kết tinh truyền thống văn học Lí – Trần đồng
thời mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới.
+ Ông đã để lại tập thơ Nôm sớm nhất làm di sản thơ Nôm Việt Nam độc đáo.
+ Nguyễn Trãi đã đưa ý thức dân tộc lên đến đỉnh cao kết tinh tư tưởng Việt Nam thời
trung đại.
3. Kết bài :
- Nguyễn Trãi sống mãi trong tâm hồn người đọc bởi ông vừa là nhà thơ vừa là danh
nhân văn hóa lớn.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 9
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
- Nguyễn Trãi được coi là người đặt nền móng cho thơ Nôm Việt Nam phát triển và lên
đến đỉnh cao.
Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Du
1 - Cuộc đời:
- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên;
- Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều mối u uẩn không nói ra được.
- Ông luôn cảm thấy bức bối, mất tự do vì sống trong xã hội quá gò bó.
- Nguyễn Du có cái nhìn hiện thực sâu sắc
- Một tấm lòng lo đời, thương người của Nguyễn Du, luôn đi bảo vệ công lí, bảo vệ cái đẹp.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 10
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
II-Sự nghiệp sáng tác
1. Các sáng tác chính
Phong phú và đồ sộ gồm: văn thơ chữ Hán và chữ Nôm
a. Sáng tác bằng chữ Hán: 249 bài, ba tập
- Thanh Hiên thi tập (78 bài);
- Nam trung tạp ngâm (40 bài);
- Bắc hành tạp lục (131 bài).
b. Sáng tác bằng chữ Nôm:
*Truyện Kiều
- Nội dung
+ Vận mệnh con người trong xã hội phong kiến bất công, tàn bạo;
+ Khát vọng tình yêu đôi lứa;
+ Bản cáo trạng đanh thép của xã hội đã chà đạp lên quyền sống, tự do hạnh phúc của con
người đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
+ Nguyễn Du đã tái hiện hiện thực sâu sắc của cuộc sống tạo nên gía trị nhân đạo tác phẩm.
+ Quan niệm nhân sinh: “chữ tài” gắn liền với chữ “mệnh“; chữ “tâm” gắn với chữ “tài”.
* Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh)
- Viết bằng thể thơ lục bát;
- Thể hiện tấm lòng nhân ái mênh mông của nhà nghệ sĩ hướng tới những linh hồn bơ vơ,
không nơi tựa nương, nhất là phụ nữ và trẻ em trong ngày lễ Vu lan (rằm tháng bảy) ở Việt
Nam.
2. Một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật thơ văn Nguyễn Du.
a. Nội dung:
Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh
hưởng tới nhà thơ.
Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không
màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều
trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan
trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái
tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ
bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc,
sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ
hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ.
Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn.
- Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường
nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông,
sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người.
- Ba tập thơ chữ Hán thì "Thanh hiên thi tập" gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và
những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ
trước cảnh đời loạn lạc.
- Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40
bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất.
Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim
Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh
Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có
nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề "Chánh
học và tà thuyết" giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của
2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn
được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở
văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến
đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện
Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu.
- Cùng với những tác phẩm khác, truyện đã góp phần làm nên sức sống của Truyền kì mạn lục
– một áng “thiên cổ kì bút”.
2. Thân bài :
- Giới thiệu chung về tác phẩm:
+ Tác giả: Nguyễn Dữ là người có công lớn trong việc phát triển thể loại tự sự hình tượng
trong trong văn học chữ Hán thông qua Truyền kì mạn lục. Ông là người học rộng lại có tài
viết văn.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 13
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
+ Thể loại: Truyền kì có nguồn gốc từ Trung Quốc. được truyền vào Việt Nam cuối thế kỉ
XV, đầu thế kỉ XVI. Trưyện truyền kì Việt Nam mang đậm chất dân gian, yếu tố hiện thực và
tinh thần nhân văn sâu sắc.
+ Xuất xứ: Được rút từ tập Truyền kì mạn lục cuả Nguyễn Dữ.
- Giới thiệu tóm tắt nội dung tác phẩm: Dựa trên những sự kiện chính của tác phẩm.
- Giới thiệu về giá trị của tác phẩm:
+ Giá trị nội dung:
Ngợi ca Ngô Tử Văn – hình ảnh một người trí thức nước Việt yêu nước, dũng cảm, khẳng
khái chống lại gian tà, bảo vệ cho Thổ công đất Việt.
Gửi gắm ước mơ công lí, thể hiện niềm tin ở sự chiến thắng cảu cái thiện với cái ác, chính
với tà.
Đặt vào bối cảnh lịch sử của thời đại, truyện còn mang một giá trị hiện thực sâu sắc.
+ Giá trị nghệ thuật:
Sự kết hợp thành công yếu tố ảo và thực.
Là sự tổng hòa các phương diện nghệ thuật từ cốt truyện đến bố cục, tình tiết.
- Đánh giá về đóng góp và giá trị của tác phẩm trong đời sống văn học và với mỗi người:
+ Đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn xuôi tự sự bằng chữ Hán, của thể loại truyền
kì.
+ Dạy ta về lòng dũng cảm; đem đến cho ta niềm tin vào cuộc sống, vào sự chiến thắng của
chính nghĩa.
tạo.
CÁCH CHO ĐIỂM PHẦN TẬP LÀM VĂN:
ĐIỂM 5,0: - Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên.
- Bố cục hợp lí, nội dung chặt chẽ, phong phú, giàu sức thuyết phục.
- Diễn đạt tốt, có cảm xúc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
ĐIỂM 4,0 : - Đáp ứng phần lớn những yêu cầu nêu trên.
- Bố cục và nội dung hợp lí, có sức thuyết phục.
- Diễn đạt trôi chảy, có thể mắc một ít lỗi diễn đạt.
ĐIỂM 2,5: - Đáp ứng nửa những yêu cầu nêu trên
- Nắm được phương pháp thuyết minh.
- Bố cục có chỗ chưa hợp lí, biết chọn dẫn chứng.
- Văn chưa trôi chảy nhưng cũng diễn đạt được ý, không nhiều lỗi diễn đạt.
ĐIỂM 1,0: - Còn lúng túng trong phương pháp, chưa biết cách thuyết minh.
- Nội dung còn sơ sài, dẫn chứng chưa đúng, chưa tiêu biểu.
- Bố cục lộn xộn. Văn viết lủng củng, nhiều lỗi diễn đạt
ĐIỂM 00,0: - Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Giám khảo dựa vào những tiêu chuẩn trên để cho các điểm còn lại.
Tư Liệu Tham Khảo:
Thuyết minh về nguyễn trãi
Biên sọan: Đòan Minh Thiện
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương)
sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học
giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời
Trần.
Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy
học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 15
Về thơ, có hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập" bằng chữ Nôm,
tức chữ Việt, đó là thơ cả một đời, từ lúc trẻ đến tuổi già, nhiều nhất là khoảng 10 năm tìm
đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Nội dung thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê
hương, gia đình, với nước, với dân, với bao éo le trong cuộc đời
- Tình yêu quê hương gia đình: Nội dung thơ văn ông rất phong phú. Đây chỉ nói vắn
tắt một vài khía cạnh. Nét đầu tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên ở quê hương. Bắt đầu là
những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu, nhưng chan chứa thân thương. Rau muống, mồng
tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây mía đều thành vần điệu. Đào, liễu, tùng, trúc cao sang
đứng liền bên cạnh rau muống, mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên. Không chút gì phân biệt
sang hèn. Tất cả đều được lòng ông trìu mến. Ông nói một cách trang trọng: "Hái cúc, ương
lan, hương bén áo, Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn", mà cũng vừa vui tươi chân chất:
"Ao cạn, vớt bèo cấy muống, Trì thanh, phát cỏ ương sen". Ông phát hiện ra cái đẹp bình dị
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 16
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
rất bất ngờ: Đêm trăng gánh nước thì gánh luôn trăng đem về ("Chè tiên nước ghín nguyệt
đeo về"). Bầu trời không mây, trong suốt một màu xanh, ông thấy đó là một bầu ngọc đông lại
("Thế giới đông nên ngọc một bầu"). Thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn thành
một đám tằm lúc nhúc ("Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi"). Con rùa, con hạc, núi, chim,
mây, trăng, ông coi là con cái, là láng giềng, là anh em: "Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn, U ấp
cùng ta làm cái con ", "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam". Có
lúc, ông như hòa tan mình vào thiên nhiên đến mức dòng suối, tảng đá phủ rêu, vòm thông tán
trúc như hòa nhập với ông làm một: "Côn Sơn có suối rì rầm. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên
tai, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm, Trong lèn thông mọc như
nêm, Tha hồ muôn lọng ta xem chốn nằm, Trong rừng có bóng trúc râm, Giữa màu xanh mát
ta ngâm thơ nhàn" (Côn Sơn ca - dịch).
Tiếp theo là niềm tha thiết với bà con thân thuộc ở quê nhà. Thời còn giặc Minh, nhiều
năm ông phải lẫn tránh khắp nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con thân thuộc với bao nỗi buồn rầụ
Đêm thu, xa nhà, bên ngọn đèn khuya, ông day dứt: :Gió thu đến, lá rụng rồi. mình vẫn lận
đận quê người, Đêm mưa, bên ngọn đèn leo lét, hồn mộng cứ vẫn vơ mãi nơi đất khách"
Được như vậy mới thực sự "Có nhân, có trí, có anh hùng". Nhân trí, anh hùng ấy thuộc lòng
yêu nước cao cả của ông, yêu nước bằng tư tưởng, tình cảm, bằng hành động cứu nước lo dân
tuyệt vời. Nói cụ thể như : "cái nhân, cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại
xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của nước, hạnh phúc của dân". Đất nước bị ngoại xâm, nó hiện
thành lòng lòng căm thù giặc cao độ và ý chí kiên trì, gang thép tiêu diệt quân thù: "Căm giặc
nước thề không cùng sống", "Nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên ăn vì giận,
sách lược thao suy xét đã tinh". Quân giặc quét sạch rồi, nó là khát khao xây dựng một đất
nước hưng thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh phúc: "Xã tắc từ đây bền vững, Giang sơn từ
đây đổi mới , Muôn thởu nền thái bình vững chắc".Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên
Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông. Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều
hành triều chính. Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới. Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi
khuyên nhà vua:
"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không
có tiếng oán hận sầu than".
Năm 1435, ông soạn sách Dư địa chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự
hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước.
Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn,
Chí Linh, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.
Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành
vua bù nhìn để Sát khống chế mãi. Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh
triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng
trở lại, trong đó có Nguyễn Trãi. Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ, kiêm
thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả nước chia
làm 5 đạo). Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của
ông. Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp.
Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử. Các bà vợ
tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột. Vua truất hoàng hậu
Dương Thị Bí và ngôi thứ tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm
hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó một
bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt
dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ[2]
Minh oan cho Nguyễn Trãi, vua Thánh Tông ca ngợi ông: "Ức Trai tâm thượng quang
Khuê tảo" (tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Năm 1467, vua Thánh Tông ra lệnh sưu
tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi.
Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh
minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần
sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con
nhà vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ
ban phong khi ông còn sống. Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời
sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.
Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận
ông là danh nhân văn hóa thế giới
Tư liệu thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả Nguyễn Trãi ( tư tưởng
nhân nghĩa).
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một triết lý sâu sắc, cốt lõi,
bao trùm toàn bộ cuộc đời ông. Bài viết đã phân tích tư tưởng nhân nghĩa trên nhiều khía
cạnh: nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân; nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng; nhân
nghĩa là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình… Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi kế
thừa quan điểm nhân nghĩa Nho giáo, nhưng đã được mở rộng, phát triển hơn, tạo nên dấu ấn
đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 19
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một trí thức lớn, một trong những
lãnh tụ kiệt xuất của phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Ông đã có những đóng góp to lớn trong
việc hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược, sách lược chống quân Minh xâm lược, giải
phóng dân tộc. Hơn thế, Nguyễn Trãi còn là một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam ở thế
kỷ XV. Ông đã có công tổng kết, khái quát những vấn đề có tính quy luật của sự nghiệp dựng
nước và giữ nước trong điều kiện lịch sử – cụ thể của Việt Nam; từ đó, nâng tư duy của người
trong”(3). Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi , vì vậy, mang đậm sắc thái của tinh thần
yêu nước truyền thống của người Việt Nam. Ở đây, có thể thấy rõ tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi đã vượt lên trên tư tưởng nhân nghĩa của Khổng – Mạnh và có sự sáng tạo, phát
triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Tổ Ngữ Văn trường THPT Nguyễn Văn Tiếp Trang 20
Đề cương ôn tập học kì II môn Ngữ văn 10 năm học 2010 – 2011
Như vậy, với Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa gắn kết biện chứng với tư tưởng thuận
dân, an dân là một yêu cầu cao, một hoài bão lớn, một mục đích chiến lược cần phải đạt tới.
Trước Nguyễn Trãi hàng nghìn năm, nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử triết học Trung Quốc
như Mạnh Tử… đã từng nêu rõ vai trò quan trọng của dân, sức mạnh của dân, tai mắt và trí óc
sáng suốt của dân. Ở Việt Nam, tư tưởng an dân đã trở thành một đạo lý vào thời Lý – Trần.
Trong thời kỳ đó, những tư tưởng về thân dân, khoan dân, huệ dân, v.v. đã xuất hiện và đã
góp phần tích cực vào việc làm cho thời đại Lý – Trần hưng thịnh. Đến Nguyễn Trãi, quan
điểm về an dân đã được ông tiếp thu, kế thừa, mở rộng và nâng cao trong suốt thời kỳ hoạt
động của mình. An dân có nghĩa là chấm dứt, là loại trừ những hành động tàn ác, bạo ngược
đối với dân. An dân còn là sự bảo đảm cho nhân dân có được một cuộc sống yên bình. An dân
là không được nhũng nhiễu “phiền hà” dân. Với tư tưởng an dân, Nguyễn Trãi đã đưa ra một
chân lý: phải giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố kết lòng dân làm sức mạnh
của nước, làm thế nước. Ông chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại được
nước phải biết lấy sức dân mà kháng chiến. Đó là một chiến lược bất khả biến, có tính trường
tồn, một quy luật dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Có một khía cạnh rất đáng quý trong tư tưởng về dân của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng
trọng dân, biết ơn dân. “Dân chúng” vẫn luôn được ông nhắc tới và chú ý đề cao ngay cả sau
khi kháng chiến đã thành công, đất nước đã giành được độc lập và bước vào xây dựng cuộc
sống mới. Nguyễn Trãi nhận thức được rằng lực lượng làm ra thóc gạo, cơm ăn, áo mặc là do
ở nhân dân; rằng điện ngọc cung vàng của vua chúa cũng đều do mồ hôi nước mắt của nhân
dân mà có: “thường nghĩ quy mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân”(4). Chính
xuất phát từ suy nghĩ như vậy, nên khi đã làm quan trong triều đình, được hưởng lộc của vua
ban, Nguyễn Trãi đã nghĩ ngay đến nhân dân, những người dãi nắng dầm mưa, những người
“Tuyệt mối chiến tranh”, “bảo toàn cả nước là trên hết” đã thể hiện lập trường chính trị nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi. Có thể nói, đó là một tinh thần nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh
sâu sắc.
Chiến lược đánh giặc cứu nước, cứu dân, “mở nền thái bình muôn thuở” bằng nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi đã có ý nghĩa rất to lớn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh
cứu nước và dựng nước của dân tộc ta. Nguyễn Trãi và Lê Lợi, cùng với quân dân Đại Việt đã
kiên quyết thi hành một đường lối kết thúc chiến tranh rất sáng tạo, rất nhân nghĩa: “nghĩ kế
nước nhà trường cửu, tha cho mười vạn hùng binh. Gây lại hoà hảo cho hai nước, dập tắt
chiến tranh cho muôn đời”(7). Đó thật sự là tư tưởng lớn của một con người có tài “kinh bang
tế thế” và là một tư tưởng có sức sống “vang đến muôn đời”.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn tiến xa hơn một bước nữa, đó là ý tưởng xây
dựng một đất nước thái bình, bên trên vua thánh tôi hiền, bên dưới không còn tiếng giận oán
sầu: “thánh tâm dục dữ dân hưu túc, văn trị chung tu chí thái bình” (lòng vua chỉ muốn dân
yên nghỉ, xếp võ theo văn, nước trị bình) (8); “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn. Dường
ấy ta đà phỉ sở nguyền”(9). Như vậy, theo Nguyễn Trãi, một đất nước thái bình sẽ là đất nước
có cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp; đồng thời, có sự hoà thuận, yên vui với các nước khác. Có
thể nói, lý tưởng chính trị – xã hội của Nguyễn Trãi phù hợp với nguyện vọng, ước mơ của
dân tộc, nhân dân; đạt tới tầm cao nhất và rộng nhất trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ cho
phép. Quan niệm của Nguyễn Trãi, vì thế, là một quan niệm tích cực và đầy tinh thần nhân
bản.
Tầm chiến lược, nhìn xa trông rộng và khoa học trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn
Trãi còn được thể hiện ở tư tưởng cầu người hiền tài giúp nước, giúp dân. Nguyễn Trãi quan
niệm rằng, nhân tố quyết định sự nghiệp xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị là nhân dân.
Làm thế nào để phát huy hết được những yếu tố tích cực của quần chúng nhân dân? Trong sức
mạnh của nhân dân thì yếu tố nào là động lực mạnh mẽ nhất? Nguyễn Trãi đã chỉ ra, đó là yếu
tố nhân tài. Trong Chiếu cầu hiền tài, ông cho rằng: “người tài ở đời vốn không ít”, nên triều
đình phải cầu hiền bằng nhiều đường, nhiều cách như học hành thi cử; hoặc tiến cử “văn võ
đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều
đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân,
thì… tùy tài trao chức”; hoặc ứng cử “người có tài ở hàng kinh luân bị khuất ở hàng quân