Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG
ĐỀ TÀI:
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi
cung ứng của Công ty Coca - cola
Trang 1 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
MỤC LỤC
Trang 2 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
Lời nói đầu
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mọi tổ chức, cung ứng luôn là hoạt động
không thể thiếu. Xã hội ngày càng phát triển, cung ứng càng khẳng định rõ hơn vai trò
quan trọng của mình. Giờ đây, trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế Thế
giới, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cung ứng đã trở thành vũ khí chiến lược sắc bén,
giúp tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường quốc nội và quốc
tế.
Cùng với sự phát triển chung của đất nước và quá trình hội nhập toàn cầu hóa ra
Thế giới thì đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu thưởng thức các
loại thức uống ngày càng cao. Chưa bao giờ sự lựa chọn của con người lại phong phú
như vậy. Nước ngọt thì có rất nhiều loại, của nhiều công ty. Sản phẩm đa dạng có mặt ở
mọi nơi từ siêu thị, nhà hàng, các cửa hàng, đại lý. Chính sự đa dạng về kênh phân phối
đã tạo thuận lợi cho người tiêu dùng sử dụng sản phẩm. Và tập đoàn Coca-Cola đã được
biết đến như một tập đoàn rất mạnh về lĩnh vực nước giải khát trên thế giới, tập đoàn
luôn giữ vững vị thế đứng đầu không ai sánh kịp trong ngành công nghiệp nước giải khát.
Để có được thành công như vậy là nhờ một phần rất lớn vào sự điều hòa, kết hợp nhịp
một biểu tượng về chất lượng, sự chính trực, giá trị, sảng khoái và nhiều hơn thế nữa.
Các mốc phát triển của Coca-cola:
• Vào ngày 08/05/1886, dược sĩ John Stith Pemberton đã chế ra một loại sirô sữa và
bán nó cho một cửa hàng dược phẩm lớn nhất Atlanta (Mỹ). Nhưng sau 5 năm kinh
doanh loại sirô này chỉ với 9 sản phẩm bình quân được bán trong một ngày, Pemberton đã
không thể nhìn thấy sự thành công của sản phẩm do chính ông tạo ra. Ông mất vào năm
1888, cùng năm với sự xuất hiện của nhà doanh nghiệp Asa G. Candler mua lại cổ phần
của Coca-Cola.
• Trong 3 năm, Candler và hiệp hội của ông ta quản lý công ty với nguồn đầu tư là
2,300 nghìn USD. Công ty đăng kí tên nhãn hiệu là “Coca-Cola” với văn phòng U.S
Patent vào năm 1893 và đổi mới nó bằt đầu từ lúc đó.
• Năm 1895, những nhà máy sản xuất đầu tiên ngoài Atlanta được mở cửa tại các
bang như Dallas, Texas, Chicago, California, Illinois và Los Angeles của nước Mỹ. Ông
Candler đã báo cáo cho các cổ đông rằng Coca-Cola đang được bán tại “mỗi bang và mỗi
vùng trên toàn nước Mỹ.”
Trang 4 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
• Năm 1911, một nhóm đầu tư mà người dẫn đầu là Ernest Woodruff, chủ ngân hàng
Atlanta, đã mua lại Công ty Coca-Cola từ các cổ đông của Candler. Bốn năm sau, Robert
W.woodruff, con trai 33 tuổi của Ernest trở thành chủ tịch tập đoàn và dẫn dắt công ty đi
vào thời kì mới của sự phát triển trong và ngoài nước qua hơn 6 thập kỷ sau đó.
• Trong 5 năm gần đây, Coca-Cola đã dành 1 tỉ USD cho việc đa dạng hoá thông
qua sự giao phó toàn quyền và các chương trình cho các bộ phận nhân sự đã tạo ra nhiều
cơ hội cho các cá nhân và các nhà kinh doanh nhỏ.
C. CÔNG TY TNHH NƯỚC GIẢI KHÁT COCA-COLA VIỆT NAM
Tập đoàn Coca-Cola được sáng lập từ năm 1982 tại Hoa Kỳ, hoạt động trên 200
quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, công ty Coca-Cola hoạt động sản xuất kinh doanh
trên 10 năm với những mặt hàng nổi tiếng như: Coca-Cola, Fanta, Sprite, nước cam ép
Splash, nước uống đóng chai Joy, nước tăng lực Samurai, Schweppes, bột giải khát
Samurai, bột Sunfill với các hương Cam, dứa, dâu.
Công ty Nước Giải Khát Coca-Cola Chương Dương cũng ra đời do sự liên kết giữa Coca-
Cola và công ty Chương Dương của Việt Nam.
• Tháng 1 năm 1998: Thêm một liên doanh nữa xuất hiện tại miền Trung -
Coca-Cola Non Nước. Đó là quyết định liên doanh cuối cùng của Coca-Cola Đông
Dương tại Việt Nam, được thực hiện do sự hợp tác với Công ty Nước Giải Khát Đà Nẵng.
• Tháng 10 năm 1998: Chính Phủ Việt Nam đã cho phép các Công ty Liên
Doanh trở thành Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các Liên Doanh của Coca-Cola
tại Việt Nam lần lượt thuộc về quyền sở hữu hoàn toàn của Coca-Cola Đông Dương, và
sự thay đổi này đã được thực hiện trước tiên bởi Công ty Coca-Cola Chương Dương –
miền Nam.
• Tháng 3 đến tháng 8 năm 1999: Liên doanh tại Đà Nẵng và Hà Nội cũng
chuyển sang hình thức sở hữu tương tự.
• Tháng 6 năm 2001: Do sự cho phép của Chính phủ Việt Nam, ba Công ty
Nước Giải Khát Coca-Cola tại ba miền đã hợp nhất thành một và có chung sự quản lý của
Coca-Cola Việt Nam, đặt trụ sở tại Quận Thủ Đức – Thành Phố Hồ Chí Minh.
• Từ ngày 1 tháng 3 năm 2004: Coca-Cola Việt Nam đã được chuyển giao
cho Sabco, một trong những Tập Đoàn Đóng Chai danh tiếng của Coca-Cola trên thế
giới.
Trang 6 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
Coca-cola Việt Nam hiện có 3 nhà máy đóng chai trên toàn quốc: Hà Tây-Đà
Nẵng-Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư trên 163 triệu USD.
Trang 7 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
D. CHUỖI CUNG ỨNG SẢN PHẨM COCA-COLA
E. ĐẦU VÀO
1. Thành phần
Nước bão hòa CO2
Đường:
Màu thực phẩm (carmel E150d)
Nước uống giải khát Coca-Cola là loại nước uống có gas, tức là nó có chứa
CO2, CO2 có chứa trong Coca-Cola là yếu tố tạo nên sự đặc trưng của sản phẩm, không
chỉ ảnh hưởng đến giá trị cảm quan mà còn góp phần làm tăng độ bền sinh học của
chúng.
Như chúng ta đều biết, trong thiên nhiên CO2 được tạo ra từ sự hô hấp
củađộng, thực vật cũng như của con người. CO2 cũng được tạo thành từ phản ứng cháy,
nung vôi sống, phản ứng lên men, hoặc từ các giếng có chứa khí CO2
Thế nhưng, trong các nhà máy sản xuất nước giải khát thì CO2 thường được
dùng từ hai nguồn:
CO2 từ các phản ứng lên men của các nhà máy sản xuất cồn, bia.
CO2 được sản xuất do đốt cháy dầu do với chất trung gian là(MEA)
monoethanol amine.
Một số công dụng của CO2
• CO2 góp phần tạo hương vị, mặc dù bản thân CO2 không có vị,nhưng khi
hòa tan trong nước sẽ tạo ra một lượng nhỏ acid, điều này đủ tạo nên vị chua cho dung
dịch, và kết hợp với vị chua của acid cùng hương liệu tạo nên vị đặc trưng cho sản phẩm.
• Các bọt khí CO2 tự do cũng kích thích vòm miệng.
• Các bọt khí CO2 sủi lên trên bề mặt sản phẩm làm cho sản phẩmhấp dẫn hơn.
• CO2 giúp cho sự tiêu hóa tốt.
• Tác dụng như một chất bão quản: CO2 ngăn chặn sự phát triển của vi sinh
vật.
d. Đường
Nhà máy cung cấp đường cho Coca-Cola như Nhà máy đường KCP. Thành phần
đường cũng là yếu tố tham gia tạo vị cho sản phẩm.
Trong nước giải khát có gas thường sử dụng đường tinh luyện ( đường cát) . Theo
nghiên cứu, trong một lon nước ngọt chứa khoảng 10-14% đường, tương đương với 30-
Trang 9 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
50g đường. Khi "uống" nhiều nước đường này, bạn sẽ có cảm giác no "giả". Nếu bạn có
thói quen uống nhiều nước có gas, bạn sẽ bị thiếu chất mặc dù bạn đang bị béo phì.
như là từ hạt cà phê.
h. Các công ty cung cấp nguyên vật liệu để tạo nên sản phẩm coca cola:
- Các công ty trách nhiệm hữu hạn dynaplast packaging (Việt Nam) cung cấp
vỏ chai chất lượng cao cho coca cola.
- Công ty chế biến stepan đóng tại bang Illinois là công ty chuyên cung cấp
lá coca cho công ty coca cola. (Công ty Stepan chuyên thu mua và chế biến
lá coca dùng để sản xuất nước coca cola).
Trang 10 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
- Công ty cổ phần Biên Hòa với thương hiệu sovi cung cấp các thùng carton
hộp giấy cao cấp để bảo quản và tiêu thụ nội địa cho công ty nước giải khát
coca cola Việt Nam…
Trang 11 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
F. QUI TRÌNH SẢN XUẤT COCA-COLA
Nước ngầm
Xử lý 1
Pha chế
Làm lạnh
Lọc
Nấu Syrup
Xử lý 2
Hòa trộn
Làm lạnh. Bão hòa CO2
Chất phụ gia
CO2 tinh khiết
Hợp chất bí mật
Đóng thùng/lốc/két
Dán nhãn
Rót vào chai
phép thực hiện linh hoạt các thuật toán điều khiển logic thông qua một ngôn ngữ lập
trình. Người sử dụng có thể lập trình để thực hiện một loạt trình tự các sự kiện. Các sự
kiện này được kích hoạt bởi tác nhân kích thích (ngõ vào) tác động vào PLC hoặc qua các
hoạt động có trễ như thời gian định thì hay các sự kiện được đếm) thông qua PROFIBUS-
DP (Profibus là một chuẩn thông tin công nghiệp mở phù hợp với nhiều ứng dụng tự
động hóa và điều khiển các quá trình công nghiệp có dạng DP là Distributed Peryphery
sử dụng để kết nối thiết bị điều khiển với các ngoại vi phân tán) . Bộ thay đổi vận tốc
truyền động motor của công ty DANFOSS được điều khiển thông qua PROFIBUS điều
chỉnh vận tốc của băng tải theo tốc độ sản xuất thực. Những tiện ích gửi/nhận phức tạp
trong hệ thống điều khiển là không cần thiết – PROFIBUS-DP cung cấp chế độ truyền dữ
liệu đơn giản giúp tối ưu hóa vận tốc của quá trình sản xuất. Các thiết bị đầu cuối thông
minh, có loại dài hàng trăm mét, ở trên PLC để gắn trực tiếp vào các mô đun I/O. Bộ
truyền động motor được điều khiển thông qua chuỗi dữ liệu trong PLC, cho phép cấu
hình các thông số đơn giản như: thời gian đáp ứng, điểm đặt vận tốc…
Sau khi được mở nắp và “quan sát”, chai sẽ được gửi đến máy rửa. Với chai thủy tinh có
thể sử dụng lại ( một chai có thể tái sử sụng 15 lần), sẽ được máy tự động đem ra khỏi
két, chuyển đến nơi làm sạch rác trong chai và lột bỏ nhãn cũ. Trên đường tới đó thì sẽ có
công nhân quan sát nhặt những chai thuộc loại nước uống khác bị lẫn vào, còn két thì
cũng được đi theo một dây chuyền khác làm sạch.
Thiết bị “quan sát” sẽ kiểm tra chất độc trong chai sử dùng thiết bị đo lường độ
dẫn xuất, màu sắc điều khiển bằng laser, hồng ngoại. Một chu trình được tiến hành nhằm
kiểm tra độ vệ sinh tuyệt đối của chai. Bộ phận sau máy rửa được điều khiển bởi một
PLC thứ hai cung cấp các tín hiệu điều khiển thông qua PROFIBUS-DP và điều khiển
vận tốc của băng tải sử dụng bộ truyền động thay đổi vận tốc được. Sau khi được làm
sạch, “bộ phận kiểm tra” kiểm tra chúng có đúng kích cỡ, độ biến dạng, rò rỉ, hỏng ren,
màu sắc và các hỏng hóc khác. Mỗi chai được kiểm tra trong khi di chuyển sử dụng hệ
thống xử lý ảnh và đèn chớp báo hiệu. “bộ phận điền đầy”, là trung tâm của nhà máy và
điều khiển vận tốc chu trình của toàn bộ nhà máy, cho ra 50,000 chai một giờ. Nó được
sử dụng 1 băng chuyền với 154 trạm điền đầy, ở đây các chai lần đầu tiên được điền đầy
với cacbon đioxit để làm giảm thời gian điền đầy. Sự cân bằng áp suất trong chai đảm
được chứng nhận tiêu chuẩn mới này cho thấy chúng tôi đã nghiêm túc như thế nào về
vấn đề hiệu suất năng lượng, đồng thời giúp chúng tôi hướng tới các vấn đề hiệu quả
mới, cắt giảm lượng khí thải carbon, chi phí…"
Trang 14 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
Và sắp tới đây, ngoài lon và chai, hãng nước giải khát Coca-Cola vừa thông báo kế
hoạch bán loại nước giải khát của mình trong các túi nhựa có thể phân hủy được ở nhiều
quốc gia nhằm bảo vệ môi trường.
Túi coca-cola
hình chai sắp
được bán trên
toàn cầu. Ảnh:
Internet
Theo Coca-Cola, túi nhựa sẽ được sản xuất theo hình dáng của chai coca truyền
thống. Có được ý tưởng làm túi nhựa này, có lẽ hãng Coca-Cola phải cảm ơn người dân ở
El Salvador và các nước Nam Mỹ. Khoảng 4 năm trở lại đây, uống coca bằng túi vốn phổ
biến ở El Salvador và đã lan rộng ra nhiều nước Nam Mỹ. Nó được coi là hình thức rẻ
tiền, thân thiện với môi trường so với lon và chai. Ở những nước này, khi mua coca,
người ta yêu cầu người bán đổ coca vào túi nhựa để không phải trả tiền cược chai. Hãng
Coca-Cola đã để ý tới xu hướng tiêu dùng này và quyết định sản xuất túi nhựa có hình
chai và sẽ bán trên toàn thế giới.
2. Các sản phẩm Coca-Cola đã có mặt trên thị trường
Trang 15 / 35
Hình dáng chai Coca – Cola xuất hiện sớm nhất vào năm
1899, dựa theo phong cách của Hutchinson.
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
Trang 16 / 35
1,5L 300ml 390ml
330ml
Trang 18 / 35
Trong một chiến dịch quảng cáo vào
mùa hè năm 2009, coca co la lại được
thiết kế với 8 kiểu dáng và các màu sắc
sặc sỡ của mùa hè
Được giới thiệu vào năm 2005, Coca - Cola được
thiết kế bởi loạt 5 chai trên chất liệu nhôm, được gọi
là: “5 điều cao quý” hoặc M5 - sự khác biệt trong
xưởng vẽ về sự hòa quyện của mỗi sự vật độc lập.
Tùy theo mỗi thời điểm, sự kiện mà Coca - Cola có
những kiếu dáng thiết kế chai khác nhau. Đối với
những nhãn hiệu đã được xây dựng đều nhằm mục
đích nâng cao sự nhận biết rõ nhất cho người tiêu
dùng khắp nơi trên thế giới.
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
Trang 19 / 35
Năm 2008, tại Pháp - chai Coca - Cola được thiết kế
bởi Nathalie Rykiel – con gái của nhà thiết kế thời
trang nổi tiếng Sonia Rykiel.
Vào năm 2008, trong sự hợp tác với Roberto Cavalli,
Coca-Cola được thiết kế với kiểu dáng hết sức độc
đáo và đẹp đến kỳ diệu.
Coca – cola thể hiện sự nổi tiếng của mình trong lễ kỉ
niệm 100 năm thành lập hãng, những chiếc chai được
thiết kế riêng cho người mù ở Selfridges, chúng được
bày bán hầu hết trong những cửa hiệu lớn tại London.
Để kỉ niệm sinh nhật, phần lớn những chiếc chai của
5. Thương lượng: Cố gắng đi tới thoả thuận về giá cả và các vấn đề khác quanh
món hàng mà khách định mua để có thể bán được.
6. Tài trợ: Huy động và phân chia tiền bạc để thanh toán chi phí của kênh, cấp tín
dụng cho khách hàng.
Trang 21 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
7. Chịu may rủi: Chấp nhận các rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của
kênh.
Các chức năng trên có thể thay đổi được giữa các thành viên trong kênh. Nếu nhà
sản xuất thực hiện được các chức năng này thì chi phí sẽ tăng và giá cả sẽ cao hơn. Khi
một số chức năng được chuyển sang cho giới trung gian thì chi phí và giá cả của nhà sản
xuất sẽ thấp hơn, nhưng phải tính thêm chi phí cho nhà trung gian. Vấn đề ai phải thực
hiện mỗi chức năng trên của kênh, chính là do năng suất và hiệu quả quyết định.
1. Nhà sản xuất
Là thành viên đầu tiên của kênh phân phối, là nơi tạo ra sản phẩm và giúp cho các
yếu tố đầu vào tự nhiên trở thành những sản phẩm đầu ra để đáp ững cho nhu cầu thị
trường. Ngoài chức năng sản xuất, nhà máy còn có chức năng phân phối sản phẩm cho
thị trường, họ phải đảm bảo sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường bao gồm các yếu tố
giá, thời gian, địa điểm, chất lượng Công ty Coca Cola được chia làm hai bộ phận, hai
hoạt động riêng biệt:
- TCC (The Coca Cola Company): chịu trách nhiệm sản xuất và cung cấp nước
cốt Coca cola cho các nhà máy mà chịu trách nhiệm khuếch trương và quản lý
thương hiệu.
- TCB (The Coca Cola Bottler): chịu trách nhiệm sản xuất, dự trữ kho bãi, phân
phối và cung cấp dịch vụ cho sản phẩm Coca Cola.
Nhà sản xuất phải định kỳ đánh giá hoạt động của người trung gian theo những
tiêu chuẩn như định mức doanh số đạt được, mức độ lưu kho trung bình, thời gian giao
hàng cho khách, cách xử lý hàng hóa thất thoát hoặc hư hỏng, mức hợp tác trong các
chương trình quảng cáo và huấn luyện của công ty và những dịch vụ mà họ phải làm cho
khách hàng. Mức doanh số đạt được của các trung gian có thể được so sánh với mức họ
Là tất cả các doanh nghiệp và tổ chức mua hàng hóa với số lượng lớn và bán cho
những người bán lại hoặc sử dụng trong kinh doanh, còn bao gồm các công ty hoạt động
như đại lý hoặc môi giới trong việc bán hàng hóa cho các khách hàng lớn. Các nhà bán sỉ
thực hiện các chức năng phân phối, vận chuyển, bảo quản, dự trữ tồn kho với số lượng
lớn, sắp xếp và phân loại hàng hóa, đặt và nhận các đơn đặt hàng, thông tin và bán hàng.
Đại lý bán sỉ, nhà bán sỉ thường phân phối cho các nhà bán lẻ, từ các cửa hàng nhỏ đến
các bách hóa lớn.
Bên cạnh hoạt động mua bán, làm thủ tục xuất kho, bố trí kho bãi, hộ còn đóng vai
trò là cầu nối giữa nhà sản xuất và khách hàng, là đại diện phản ánh nhu cầu của người
tiêu dùng đến với nhà sản xuất, cung cấp những thông tin và hướng dẫn rất hữu ích cho
các nhà sản xuất. Vì vậy, việc gây dựng được mối quan hệ mật thiết với tổng đại lý sẽ tạo
cho Coca Cola rất nhiều thuận lợi như hỏi những mẫu thiết kế phù hợp với thị trường
hoặc thông tin về xu hướng, thị hiếu mới nhất của thị trường, các quy định về vật liệu và
chất lượng. Khi thị trường có những biến động các tổng đại lý thường nắm rất rõ, do họ ở
cấp trung gian đứng giữa thu thập được tất cả thông tin truyền về từ nhà bán lẻ cấp dưới.
Đại lý thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình do có được doanh thu
nhờ vào khoản chênh lệch giá do đại lý nhấp số lượng sản phẩm lớn vàbán với số lượng
sản phẩm nhỏ hơn. Coca-cola thực hiện hoạt động thu hút các đại lý độc quyền bằng
những chính sách ưu đãi hấp dẫn, tạo sự gắn bó giữa công ty và đại lý. Theo đó, các đại
lý không được báncác sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, bù lại Coca-Cola sẽ trả cho
các đại lý tiền chiết khấu độc quyền 1.000 đồng/két. Tiền chiết khấu này được quy ra sản
phẩm để thanh toán. Các đại lý độc quyền mua hàng theo phương thức mua đứt bán đoạn,
không được trả hàng lại nhưng trước mỗi đợt giảm giá, công ty sẽ phải báo trước vài
ngày để các đại lý kịp thời “giải phóng” hàng tồn Theo các đại lý, ban đầu Coca-Cola
sẵn sàng bù lỗ cho các đại lý lúc giảm giá khuyến mãi; sẵn sàng bỏ hàng thiếu mà không
hề đề cập đến thời hạn trả Thậm chí, các đại lý gần như được phép “mượn đầu heo nấu
cháo”. Bước tiếp theo, Coca-Cola đưa ra các điều kiện về số lượng mua hàng và công nợ
trong hạn mức, khuyến khích các đại lý trở thành đối tác kinh doanh chiến lược để được
hưởng chính sách 5+1 (mua năm tặng một). Bên cạnh đó nhằm tăng mối liên hệ giứa
công ty và các đại lý Coca-Cola còn thực hiện rất nhiềucác hoạt động khác nhằm “hỗ trợ
hàng của họ. Gần đây Coca Cola đã hợp sức với các nhà bán lẻ nhằm tạo ra các chương
trình tập trung vào người tiêu dùng trong vai trò đi mua hàng (như: các đợt khuyến mãi,
giảm giá chỉ dành riêng cho một nhà bán lẻ nhất định, hình thức khuyến mãi cũng được
xét tùy thuộc vào đặc điểm của khách hàng tại bán sản phẩm,…). Đa số các nhà bán lẻ
của Coca Cola có hệ thống phân phối phong phú và đa dạng, không chỉ phân phối hàng
của Coca Cola mà nhiều khi còn của các đối thủ cạnh tranh.
Các hình thức bán lẻ rất phong phú và đa dạng.
a. Theo mức độ phục vụ, gồm có:
- Bán lẻ tự phục vụ
- Bán lẻ phục vụ có giới hạn
- Bán lẻ phục vụ toàn phần
b. Theo mặt hàng kinh doanh, có các loại:
- Cửa hàng chuyên doanh
Trang 24 / 35
Những vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng của Công ty Coca - cola
- Cửa hàng bách hóa
- Các siêu thị và đại siêu thị
- Các cửa hàng thực phẩm tiện dụng
c. Theo giá bán, người ta phân biệt
- Cửa hàng chiết khấu. Các cửa hàng này bán hàng đạt tiêu chuẩn với giá thấp. Họ
chấp nhận mức lời thấp nhưng khối lượng bán ra lớn.
- Cửa hàng kho (bán số lượng lớn với giá hạ).
d. Bán lẻ không dùng cửa hiệu, gồm có:
- Bán qua bưu điện
- Bán qua catalog
- Bán qua điện thoại
- Bán hàng bằng máy bán hàng tự động
- Bán lẻ tận nhà
Coca Cola khi bước chân vào thị trường Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ văn hóa
nên đã đặc biệt coi trọng đến vị trí của các nhà bán lẻ trong kênh phân phối sản phẩm