Hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH sản xuất thương mại xuất nhập khẩu Thuận An - Pdf 24

Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 07/11/2006 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Điều này đã mở ra thời cơ lớn cho nền kinh tế Việt Nam
nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Là thành viên của WTO, các doanh
nghiệp Việt Nam sẽ có được một môi trường kinh doanh rộng mở, năng động… Tuy
nhiên bên cạnh đó là những thách thức cũng không hề nhỏ đặt ra đối với các doanh
nghiệp của chúng ta. Đó chính là sự cạnh tranh khốc liệt trong mọi hoạt động, bởi
chúng ta cũng phải thực hiện cam kết trong lộ trình gia nhập WTO. Để không bị thất
bại ngay trên “sân nhà”, đồng thời có cơ hội để vươn ra thị trường bên ngoài thì mỗi
doanh nghiệp phải không ngừng hoàn thiện, cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh,
tiếp cận với tư tưởng quản trị hiện đại của thế giới.
Trước đây, hàng hoá không được sản xuất đúng nơi và đúng lúc khi con người
muốn tiêu dùng. Bởi vậy, đã gây ra các bất cập như:
- Chi phí sản xuất, cung ứng cao.
- Giá trị sản phẩm tạo ra không cao.
- Không thỏa mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng …
Từ đó dẫn đến tính cạnh tranh thấp, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, hiệu
quả kinh doanh thấp
Logistics ra đời đã giúp chúng ta có thể sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu.
Chính nhờ hoạt động hậu cần mà giá trị sản phẩm hàng hoá đã được gia tăng (phần giá
trị thời gian, giá trị địa điểm), đồng thời với các kết hợp chặt chẽ từ khâu nguyên liệu
đầu vào đến khâu tiêu thụ đã giảm thiểu chi phí sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi thế cạnh
tranh lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Công ty Thuận An là một đơn vị chuyên sản xuất, kinh doanh Long Não, keo
hotmelt, phụ tùng và thiết bị phun keo, cũng đang gặp phải những cạnh tranh hết sức
lớn từ các doanh nghiệp khác. Ngoài ra theo các cam kết gia nhập WTO, chúng ta sẽ
phải mở cửa dần trong lĩnh vực năng lượng từ năm 2009. Qua thời gian công tác tại
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
1

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng hàng hoá tại
Công ty TNHH SX TM XNK Thuận An
6. Kết cấu của tiểu luận:
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
2
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của tiểu luận được trình bày qua
3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH
NGHIỆP
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY
TNHH SX TM XNH THUẬN AN
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI
CÔNG TY TNHH SX TM XNH THUẬN AN.
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
3
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
Mục lục:
MỞ ĐẦU 1
Mục lục: 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG
DOANH NGHIỆP 5
1.1. Khái quát v khái ni m chu i cung ng.ề ệ ỗ ứ 5
1.1.1.Khái ni m:ệ 6
1.1.2. Phân bi t qu n tr chu i cung ng v logisticsệ ả ị ỗ ứ à 6
1.1.3. Quá trình phát tri nể 8
1.1.4. T m quan tr ngầ ọ 8
1.1.5. C u trúc v các quá trìnhấ à 10
1.1.6. N i dung qu n tr chu i cung ngộ ả ị ỗ ứ 11
1.1.6.1. Dịch vụ khách hàng: 11

3.1. nh h ng phát tri n c a Công tyĐị ướ ể ủ 40
3.2. Các gi i pháp ho n thi n qu n tr chu i cung ng t i Công ty TNHH SX TM XNK ả à ệ ả ị ỗ ứ ạ
Thu n An.ậ 41
3.2.2. T ch c l i công tác v n t i h ng hoáổ ứ ạ ậ ả à 42
3.2.3. Ph i h p t t gi a b ph n kinh doanh v b ph n xu t nh p kh u gi m thi u chíố ợ ố ữ ộ ậ à ộ ậ ấ ậ ẩ để ả ể
phí vay, g i h ng.ử à 43
3.2.4. Ho n thi n các kênh thông tin gi a các b ph n, ph c v công tác i u h nh, tác à ệ ữ ộ ậ ụ ụ đề à
nghi pệ 45
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
4
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
3.3. Ki n ngh v i c quan qu n lý Nh n cế ị ớ ơ ả à ướ 45
KẾT LUẬN 46
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI
CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về khái niệm chuỗi cung ứng.
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
5
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
1.1.1.Khái niệm:
Chuỗi cung ứng là một mạng lưới gồm các tổ chức có liên quan, thông qua các
mối liên kết phía trên và phía dưới, trong các quá trình và hoạt dộng khác nhau, sản
sinh ra giá trị dưới hình thức sản phẩm dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng.
Về cơ bản, chuỗi cung ứng là một tổng thể giữa hàng loạt các nhà cung ứng và
khách hàng được kết nối với nhau, trong đó, mỗi khách hàng, đến lượt mình lại là nhà
cung ứng cho tổ chức tiếp theo cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng. Chuỗi
này được bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu nguyên thủy và người tiêu dùng là
mắt xích cuối cùng của chuỗi. Nó là một mạng lưới bao gồm những đơn vị, công đoạn
có liên quan đến nhau trong việc khai thác tài nguyên nhằm sản xuất ra sảm phẩm phục
vụ cho người tiêu dùng, kể các công đoạn trung gian như vận tải, kho bãi, bán buôn,

hạng nặng thường được viết ở thân xe với dòng chữ “logistics” thay cho “vận chuyển”.
Tuy nhiên, để trở thành một công ty chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics,
cần nhiều hơn việc chỉ thay đổi mỗi một cái tên. Quan điểm “hợp nhất” xem logistics là
một phần của một thực thể rộng lớn hơn, SCM. Cuối cùng, quan điểm “kết hợp” đề
xuất việc có một phần giao nhau giữa logistics và SCM, nhưng mỗi khái niệm lại có
một phần khác tách rời và phân biệt.
Truyền thống Tái định vị
Logistics Logistics
SCM SCM
Hợp nhất Kết hợp
SCM
Logistics SCM
Logistics
Sơ đồ 1.1: Bốn quan điểm về logistics và SCM (Nguồn: Larson,
P.&Halldorsson, A. (2004))
Trong phạm vi đề tài này, quản trị chuỗi cung ứng được nhìn nhận theo quan
điểm hợp nhất, có nghĩa là logistics một phần của quản trị chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, quản trị chuỗi cung ứng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì là sự kết hợp
của nhiều doanh nghiệp có liên quan đến nhau trong cả một quốc gia, thậm chí ở nhiều
quốc gia khác nhau. Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu quản trị chuỗi cung ứng trong
phạm vi một doanh nghiệp cụ thể.
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
7
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
1.1.3. Quá trình phát triển
Quản trị chuỗi cung ứng đã được phát triển qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phân phối vật chất
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu quan tâm đến vấn đề
quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo phân
phối sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả. Những hoạt động đó

biệt là tiếp thị hỗn hợp. Chính quản trị chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt trong việc
đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và đúng thời điểm thích hợp. Mục tiêu lớn nhất của
quản trị chuỗi cung ứng là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí
nhỏ nhất.
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống quản trị
chuỗi cung ứng hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là
chìa khoá thành công cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích
kinh doanh đã cảnh báo, chìa khoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các
chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết
trọng yếu nhất trong dây chuyền cung ứng.
Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền cung
ứng: Thứ nhất là, các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới các
thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ, thứ hai là bản thân chức năng
sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu và chính
quá trình sản xuất, thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và một lần
nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.
Trong dây chuyền cung ứng ba nhân tố này, quản trị chuỗi cung ứng sẽ điều
phối khả năng sản xuất có giới hạn và thực hiện việc lên kế hoạch sản xuất, những công
việc đòi hỏi tính dữ liệu chính xác về hoạt động tại các nhà máy nhằm làm cho kế
hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Khu vực nhà máy sản xuất trong công ty của bạn
phải là một môi trường năng động, trong đó sự vật được chuyển hoá liên tục, đồng thời
thông tin cần được cập nhật và phổ biến tới tất cả các cấp quản lý công ty để cùng đưa
ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Quản trị chuỗi cung ứng cung cấp khả năng
trực quan hoá đối với các dữ liệu liên quan đến sản xuất và khép kín dây chuyền cung
cấp, tạo điều kiện cho việc tối ưu hoá sản xuất đúng lúc bằng các hệ thống sắp xếp và
lên kế hoạch. Nó cũng mang lại hiệu quả cho việc dự trù số lượng nguyên vật liệu,
quản lý nguồn tài nguyên, lập kế hoạch đầu tư và sắp xếp hoạt động sản xuất của công
ty.
Một tác dụng khác của việc ứng dụng giải pháp quản trị chuỗi cung ứng là phân

các quá trình tập trung vào giao diện giữa công ty và khách hàng.
- Quản trị chuỗi cung cấp nội bộ (Internal Supply Chain Management): Các
quá trình trong nội bộ công ty.
- Quản trị quan hệ nhà cung ứng (Supplier Relationship Management).
Quản trị quan hệ nhà cung ứng (SRM) là quản lý toàn bộ hoạt động của công ty
trong mối quan hệ với các tổ chức cung cấp nguồn hàng và dịch vụ. Mục đích của SRM
là tạo ra sự liên tục và làm cho quá trình làm việc giữa công ty và các nhà cung ứng của
nó trở nên hiệu quả hơn.
Quản trị quan hệ nhà cung ứng, bao gồm những hoạt động kinh doanh thực tiễn
và những phần mềm hỗ trợ, là một quá trình trong quản trị chuỗi cung ứng. Quản trị
quan hệ nhà cung ứng tạo ra một khung tham chiếu chung để tăng cường hiệu quả giao
tiếp giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng khi mỗi bên sử dụng những công nghệ và cách
thức kinh doanh khác nhau. Do đó, SRM tăng cường hiệu quả của các quá trình liên
quan đến các dịch vụ và hàng hóa cần thiết, quản lý hàng tồn kho và xử lý nguyên vật
liệu.
Tất cả các quá trình tập trung vào giao diện giữa công ty và nhà cung ứng.
1.1.6. Nội dung quản trị chuỗi cung ứng
1.1.6.1. Dịch vụ khách hàng:
Dịch vụ khách hàng là một khái niệm rất rộng và được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau:
- Dịch vụ khách hàng là những hoạt động cụ thể của công ty nhằm giải quyết
tốt các đơn đặt hàng của khách hàng, những hoạt động đó có thể là: lập bộ
chứng từ, làm thủ tục hải quan, xử lý, truy soát đơn hàng, giải quyết các
khiếu nại, …
- Dịch vụ khách hàng là việc thực hiện những công việc cụ thể, được đánh giá
bằng những thông số cụ thể, những quy chuẩn sẵn có, ví dụ: khả năng hoàn
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
11
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
thành 98% đơn hàng trong vòng 24 tiếng đồng hồ; đến thăm khách hàng

Tính ổn định của quá trình thực hiện đơn hàng;
Khả năng thực hiện các chuyến hàng đặc biệt;
Khả năng điều chuyển hàng hoá;
Thủ tục thuận tiện;
Sản phẩm thay thế.
Các yếu tố sau giao dịch
Lắp đặt, bảo hành, sửa chữa và các DV khác;
Theo dõi sản phẩm;
Giải quyết những than phiền khiếu nại, trả lại
sản phẩm của khách hàng;
Cho khách hàng mượn sản phẩm.
Dịch vụ
khách
hàng
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
Sơ đồ 1.3: Các yếu tố dịch vụ khách hàng
o Các yếu tố trước giao dịch: Các yếu tố trước giao dịch chủ yếu tập trung vào việc
xây dựng chính sách dịch vụ khách hàng và chuẩn bị các điều kiện thực hiện. Việc
này có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của khách hàng về tổ chức cũng như mức độ
hài lòng của họ. Không phải mọi yếu tố trước giao dịch đều liên quan trực tiếp đến
hoạt động quản trị chuỗi cung ứng. Chúng được thiết lập trước khi tổ chức tiến hàng
các dịch vụ khách hàng và có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi
cung ứng.
Các yếu tố trước giao dịch bao gồm:
+ Xây dựng chính sách phục vụ khách hàng: Chính sách được xây dựng dựa trên
cơ sở nhu cầu của khách hàng và khả năng của công ty. Trong chính sách phục
vụ khách hàng, cần xác định rõ các dịch vụ khách hàng và tiêu chuẩn của chúng,
đó là các thước đo về thực hiện các dịch vụ khác, dựa vào đó có thể đánh giá
được trách nhiệm và quy kết trách nhiệm cho các bộ phận có liên quan. Chính
sách cũng nêu rõ chế độ kiểm tra, báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ.

hoặc tư vấn trực tiếp, công ty còn giúp khách hàng mua hàng sao cho tốt nhất,
cải tiến công tác quản lý kho và dự trữ, tổ chức hệ thống đặt hàng tự động …Các
dịch vụ này có thể cung cấp miễn phí hoặc có phí (tùy vào điều kiện cụ thể của
từng công ty). Khách hàng có thể được hưởng những dịch vụ thuộc nhóm này
độc lập với quy trình đặt hàng thông thường.
Những yếu tố trước giao dịch có xu hướng tương đối ổn định, ít thay đổi trong
một thời gian khá dài. Do đó khách hàng có khả năng nghiên cứu, lựa chọn để
đáp ứng nhu cầu của mình một cách tốt nhất.
o Các yếu tố trong giao dịch:
+ Tình hình dự trữ hàng hoá: Lượng hàng hoá dự trữ cho thấy khả năng sẵn sàng cung
cấp sản phẩm, đăp ứng yêu cầu của khách hàng. Hàng dự trữ cần được quản lý, theo
dõi chặt chẽ theo từng loại sản phẩm, cho từng khách hàng, đối phó với từng tình
huống bất trắc có thể xẩy ra.
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
14
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
+ Thông tin về hàng hoá: Nhờ khả năng xử lý thông tin của các thế hệ máy tính ngày
càng hiện đại với phí phí thấp, ngày càng có nhiều khách hàng muốn tiếp cận với mọi
thông tin có liên quan tới việc thực hiện đơn hàng của họ. Những thông tin này bao
gồm: Lượng hàng hoá tồn kho, tình hình thực hiện đơn hàng, ngày chuyển hàng dự
kiến hoặc thực tế, vị trí thực tế và thực trạng lô hàng,…
+ Tính chính xác của hệ thống: Cùng với việc muốn nhận được thông tin một cách
nhanh chóng, khách hàng còn muốn nhận được thông tin một cách nhanh chóng, khách
hàng còn muốn rằng những thông tin mà họ nhận được về tình trạng đơn hàng hoặc
mức dự trữ hàng phải chính xác.
+ Tính ổn định của quá trình thực hiện đơn hàng hay còn gọi là chu trình đặt hàng: Chu
trình đặt hàng là toàn bộ khoảng thời gian từ khi khách hàng bắt đầu đặt hàng cho đến
khi họ nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ. Chu trình đặt hàng bao gồm các bước cơ bản
sau: khách hàng lên đơn đặt hàng; công ty nhận đơn đặt hàng của khách; xử lý đơn
hàng; tập hợp đơn hàng; chuẩn bị hàng theo yêu cầu và gửi hàng đi; vận chuyển hàng

chữa.
+ Sản phẩm thay thế: khi sản phẩm mà khách hàng yêu cầu không có sẵn, để giữ chân
khách hàng, cần thay thế bằng sản phẩm khác (nếu có thể được), ví dụ: hai sản phẩm
cùng loại nhưng khách kích cỡ hoặc bằng sản phẩm khác nhưng có tính năng tương tự
hoặc tốt hơn kết quả nghiên cứu cho thấy: nếu một sản phẩm có khả năng đáp ứng được
70% khả năng cung cấp và một sản phẩm thay thế được chấp nhận cũng có khả năng
cung ứng 70% thì khi được phép sử dụng cả hai sản phẩm đó thay thế cho nhau khả
năng cung ứng sẽ lên đến 91%, còn nếu một sản phẩm mà có tới hai sản phẩm thay thế
cho nó thì khả năng cung ứng sẽ lên đến 97%. Chính vì vậy, các công ty cần nghiên
cứu và chuẩn bị các sản phẩm thay thế nhà sản xuất – cung ứng phải phối hợp với
khách hàng của mình để xây dựng lên chính sách thay thế sản phẩm và phải thông tin
cho khách hàng về những chính sách đó. Tuy nhiên, cũng luôn cần hỏi lại ý kiến của
khách hàng trước khi sử dụng sản phẩm thay thế để cung cấp cho họ. Chẳng hạn như,
nếu một công ty sản xuất đồ gỗ theo yêu cầu của khách hàng cần mua các hộp sơn dầu
dung tích 1 gallon nhưng nhà cung cấp hết mất hàng loại này thì có thể đề nghị công ty
đó mua những thùng dầu 5 gallon thay thế. Việc này có thể không hợp lý bởi vì công ty
sản xuất đồ gỗ chỉ cần 2 gallon để thực hiện một sản phẩm mà không muốn phần dầu
dư lại ở thùng 5 gallon. Tuy vậy, nếu nhà phân phối đề nghị bán thùng dầu 1,5 gallon
bằng với giá thùng 1 gallon thì điều này hoàn toàn có thể chấp nhận để thay thế sản
phẩm cho khách hàng.
Các yếu tố trong giao dịch bao giờ cũng được lưu ý nhiều nhất bởi chúng
có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến khách hàng.
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
16
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
o Các yếu tố sau giao dịch: Các yếu tố sao giao dịch của dịch vụ khách hàng sẽ được
hỗ trợ cho sản phẩm hoặc dịch vụ sau khi chúng đã đến tay khách hàng. Trước đây, do
khách hàng ít quan tâm đến dịch vụ hậu mãi nên các yếu tố sau giao dịch có phần bị
xem nhẹ. Giờ đây tình hình đã đổi khác, các công ty đều nhận thức được: việc duy trì
và làm hài lòng khách hàng hiện có thể có lợi hơn việc tìm kiếm các khách hàng mới.

+ Đầu vào:
Hoạt động đầu tiên liên quan đến hệ thống thông tin là thu thập dữ liệu trợ giúp
cho quá trình ra quyết định. Sau khi xác định cẩn thận những dữ liệu cần cho sự lên kế
hoạch và hoạt động của chuỗi cung ứng, ta có thể có được các dữ liệu này từ nhiều
nguồn khác nhau như: khách hàng, hồ sơ của công ty, báo chí, các văn bản pháp lý của
các cơ quan quản lý Nhà nước.
Khách hàng thông qua hoạt động mua của mình cung cấp gián tiếp những thông
tin hữu dụng cho việc hoạch định. Những dữ liệu có được từ danh sách đơn hàng có ích
cho các quyết định về dự báo và hoạt động, như là: sản lượng bán, thời gian, địa điểm
bán và quy mô đơn hàng. Tương tự như vậy, những dữ liệu về quy mô và chi phí vận
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
Các hoạt động cơ sở dữ liệu
1. Lưu trữ dữ liệu
- Thu thập
- Truyền tin
- Duy trì hồ sơ
2. Biến đổi dữ liệu
- Những hoạt động xử lý
- Dữ liệu cơ bản
- Phân tích dữ liệu
Sử dụng các kỹ thuật toán học
và thống kê
Quyết định
18
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
chuyển có được từ việc phân phối sản phẩm cho khách hàng. Hóa đơn vận chuyển, đơn
hàng mua và các hóa đơn là những nguồn bổ sung của loại dữ liệu sơ cấp này.
Hồ sơ của doanh nghiệp dưới dạng các bản báo cáo tài chính, báo cáo tình trạng
doanh nghiệp, báo cáo từ những nghiên cứu trong và ngoài doanh nghiệp, và các báo
cáo hoạt động khác nhau cung cấp rất nhiều dữ liệu. Dữ liệu từ các bản báo cáo này

- Tầm quan trọng của thông tin đối với việc ra quyết định trong doanh nghiệp.
- Tốc độ thông tin cần truy cập nhanh chóng.
- Tần suất truy cập.
- Những cố gắng cần để xử lý thông tin thành dạng cần dùng.
Những thông tin cần cho việc hoạch định chiến lược không yêu cầu sẵn sàng hay
truy cập thường xuyên. Ngược lại, những thông tin cần cho hoạch định hoạt động yêu
cầu phải sẵn sàng và truy cập thường xuyên. Một thư ký vận tải xem lại cước phí vận
chuyển trong bộ nhớ máy tính hoặc người đại diện theo dịch vụ của khách hàng kiểm
tra tình trạng của đơn hàng thông qua hệ thống đánh dấu và theo dõi của công ty sẽ lợi
dụng những lưu trữ cơ sở này và khả năng truy cập của hệ thống thông tin.
Xử lý những dữ liệu là một trong những yếu tố lâu đời và phổ biến nhất của một
hệ thống thông tin. Khi máy tính lần đầu tiên được giới thiệu trong lĩnh vực kinh doanh
thì mục đích của nó là giảm thiểu thời gian tính toán hóa đơn cho hàng nghìn khách
hàng và chuẩn bị các bản ghi kế toán. Bây giờ việc chuẩn bị đơn hàng, vận đơn và hóa
đơn vận chuyển là những hoạt động xử lý dữ liệu phổ biến để giúp đỡ nhà quản trị
chuỗi cung ứng hoạch định và kiểm soát dòng chảy nguyên vật liệu. Các hoạt động xử
lý dữ liệu là việc chuyển đổi một cách đơn giản và dễ hiểu những dữ liệu trong các tập
tin thành một số dạng thông dụng hơn.
Phân tích dữ liệu là một ứng dụng tiên tiến và hiện đại nhất của hệ thống thông
tin. Hệ thống có thể chứa đựng các mô hình toán học, thống kê phổ biến và đặc thù đối
với việc giải quyết các vấn đề trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Những mô hình
này chuyển đổi thông tin thành các giải pháp hỗ trợ cho việc ra quyết định.
+ Đầu ra:
Yếu tố cuối cùng của hệ thống thông tin là đầu ra. Đó là phương thức giao tiếp
với người sử dụng trong hệ thống. Đầu ra thường gồm một số dạng và được chuyển đổi
thành một số mẫu. Thứ nhất, đầu ra rõ ràng nhất là một số mẫu báo cáo như: Báo cáo
tóm lược về chi phí hoặc dữ liệu thống kê hoạt động, báo cáo về tình trạng dự trữ hoặc
xúc tiến hàng, báo cáo bên ngoài đánh giá hoạt động kế hoạch với hoạt động thực tế và
báo cáo (đơn hàng mua hoặc đơn hàng sản xuất) hướng dẫn các hoạt động. Thứ hai,
đầu ra có thể có dạng các tài liệu in sẵn như hóa đơn vận chuyển và xếp dỡ hàng hóa.

người tiêu dùng. Trong lĩnh vực này, doanh ngiệp hầu như không có dự trữ là bán
thành phẩm trên dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.
Nguyên nhân của việc hình thành dự trữ:
- Do sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất;
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
21
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
- Do sản xuất, vận tải … phải đạt đến một quy mô nhất định thì mới mang lại
hiệu quả;
- Để cân bằng cung - cầu đối với những mặt hàng có tính thời vụ;
- Để đề phòng rủi ro;
- Là phương tiện để phục vụ nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất;
- Dự trữ để đầu cơ;
- Do hàng không bán được;
- Là phương tiện giúp thực hiện quá trình quản trị chuỗi cung ứng một các
thông suốt.
 Phân loại dự trữ:
Dự trữ gồm nhiều loại và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một
số tiêu thức chủ yếu để phân loại dự trữ trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng
như:
- Phân loại theo vị trí của hàng hoá trên dây chuyền cung ứng;
- Phân loại theo nguyên nhân hình thành dự trữ;
- Phân loại theo công dụng của dự trữ;
- Phân loại theo giới hạn của dự trữ;
- Phân loại theo thời hạn dự trữ;
- Phân loại theo kỹ thuật phân tích ABC.
 Chi phí dự trữ:
Dự trữ có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạt động quản trị chuỗi cung ứng. Mức
dự trữ không thích hợp sẽ làm cho không thực hiện được mục tiêu chiến lược của quản
trị chuỗi cung ứng là: tối thiểu hoá chi phí + thực hiện tốt các dịch vụ khách hàng. Nếu

Hàng bị thiếu hụt
Điều chuyển hàng giữa các
kho
Chi phí về
vốn
Chi phí cho
các dịch vụ
hàng dự trữ
Chi phí kho
bãi
Chi phí rủi
ro đối với
hàng dự trữ
Chi phí cho
các dịch vụ
hàng dự
trữ
Quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Thuận An
Sơ đồ 1.5: Chi phí dự trữ
Trong thực tế, khi nghiên cứu quản trị dự trữ người ta thường đề cập đến các loại
chi phí sau đây:
- Chi phí đặt hàng: Là toàn bộ các chi phí có liên quan đến việc thiết lập các
đơn hàng. Nó bao gồm các chi phí tìm kiếm nguồn hàng, thực hiện quy trình
đặt hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng, thông báo qua lại).
- Chi phí lưu kho: Là những chi phí phát sinh trong thực hiện hoạt động dự
trữ, như:
o Chi phí về nhà cửa và kho tàng.
o Chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện.
o Chi phí về nhân lực cho hoạt động quản lý.
o Phí tổn cho việc đầu tư vào hàng dự trữ.

o Người mua đến tận cơ sở của nhà cung cấp để nhận hàng.
Để lựa chọn được chúng ta phải căn cứ vào các yếu tố:
o Tình hình thị trường;
o Giá cả;
o Loại hàng hoá, só lượng, chất lượng, chủng loại …
Nhóm 4 – Lớp DHQT 4ATC
25

Trích đoạn Nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status