LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi.
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, kết quả nghiên cứu đều không trùng lặp với đề tài
nghiên cứu khoa học nào gần đây. Tư liệu, tài liệu tham khảo đều có trích dẫn
nguồn rõ ràng.
Người cam đoan
Nông Thị Hồng Anh
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu,
các thầy cô trong khoa sau Đại học, các cán bộ giảng viên trong trường Đại học
Thương mại đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và
học tập.
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Bách
Khoa là người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên
cứu, thực hiện đề tài luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, động viên
tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi còn có những thiếu
sót. Tôi mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, những ý kiến đóng góp
của bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
ii
MỤC LỤC
4. Trường đại học Thương Mại; Báo cáo kết quả khảo sát chất lượng đào tạo 1
5. Trường đại học Thương Mại, chiến lược đổi mới và phát triển trường Đại học Thương
mại 2006-2020 1
6. Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 về việc ban hành "Điều lệ trường
đại học" 1
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15 tháng 8 năm
sớm điều chỉnh, đổi mới thì sản phẩm đào tạo dù được gắn mác “chất lượng cao” từ
những trường đại học khối kinh tế - Quản trị Kinh doanh có tên tuổi tại Hà Nội vẫn
bị thị trường lao động lắc đầu.
Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu về dịch vụ đào tạo trình độ đại học tại các
trường đại học khối Kinh tế - Quản trị Kinh doanh nhận thấy hiện chưa có nhiều đề
tài đề cập tới vấn đề này, tuy nhiên do tính thời sự nóng hổi và tính cấp thiết cần
phải đảm bảo cung cấp những “sản phẩm” đáp ứng được nhu cầu thị trường lao
động hiện nay nên tôi bạo dạn nghiên cứu đề tài “ Nâng cao năng lực cung ứng
dịch vụ đào tạo trình độ đại học của các trường Đại học khối Kinh tế - Quản
trị kinh doanh tại Hà Nội (Định hướng nghiên cứu tại trường Đại học
Thương Mại)”
.2.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dịch vụ đào tạo nói chung và dịch vụ
đào tạo đại học chính quy tại các trường đại học thuộc khối Kinh tế và Quản trị kinh
doanh nói riêng
- Phân tích tình hình thực trạng các trường đại học thuộc khối Kinh tế
và Quản trị kinh doanh tại Hà Nội và trường Đại học Thương mại trong những
năm qua.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cung ứng dịch
vụ đào tạo đại học chính quy của các trường đại học thuộc khối Kinh tế và Quản
trị kinh doanh.
1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực cung ứng dịch vụ đào tạo
đại học chính quy của các trường đại học thuộc khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh
tại Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ đào tạo đại học
chính quy của các trường đại học thuộc khối Kinh tế và Quản trị kinh doanh (nghĩa
là chỉ nghiên cứu đối với các trường đại học thuộc khối Kinh tế và Quản trị kinh
Chương 2: Thực trạng năng lực cung ứng dịch vụ tư vấn quản lý của các
doanh nghiệp tư vấn Việt Nam thời gian qua.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cung ứng
dịch vụ tư vấn quản lý của các doanh nghiệp tư vấn Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CUNG
ỨNG DỊCH VỤ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KHỐI KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
1.1 Các khái niệm cốt lõi và lí thuyết cơ sở
1.1.1 Một số khái niệm cốt lõi
a. Dịch vụ và dịch vụ đào tạo : Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về
dịch vụ, khái niệm thường được sử dụng nhất là: "Dịch vụ là những hoạt động mang
tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm
thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người" [ ],
"dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn nhu cầu nào đó của thị
trường" [ ].
Dịch vụ là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng và luôn có sự phát triển
không ngừng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đây luôn được
coi là ngành góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế của quốc gia, là một yếu tố
không thể tách rời quá trình sản xuất hàng hóa, làm tăng giá trị và khả năng cạnh
tranh của hàng hóa. Kinh tế càng phát triển, dịch vụ ngày càng trở nên phát triển.
Theo nghĩa rộng xét trên phương diện ngành, dịch vụ được coi là ngành kinh
tế thứ ba, sau công nghiệp và nông nghiệp. Nếu vậy tất cả những lĩnh vực nằm ngoài
hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều được coi là dịch vụ. Xét trên kết quả
hoạt động, dịch vụ là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của
chúng không tồn tại dưới hình thái vật thể. Theo quan niệm này dịch vụ bao trùm
mọi lĩnh vực như vận tải, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin, du lịch, văn hóa, hành
chính, tình cảm, pháp luật, Khi đó từ điển trực tuyến (http://www.dictionary.com)
định nghĩa "Dịch vụ là một hành động thực hiện một trách nhiệm hay một công việc
dịch vụ được hiểu là mức độ thỏa mãn nhu cầu mong đợi của người tiêu dùng, nó
có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ.
Từ các phân tích trên cho thấy: dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn
tại dưới hình thái vật chất, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời nhằm đáp
ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng.
Theo phân loại của WTO, dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong lĩnh vực
nào trừ các dịch vụ thuộc phạm vi hoạt động chức năng của Chính phủ, các dịch vụ
không mang tính thương mại và cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Dịch vụ
được phân thành 155 phân ngành thuộc 12 nhóm được thể hiện ở hộp 1.1.
5
Hộp 1.1. Phân loại dịch vụ theo tiếp cận của WTO
1. Dịch vụ kinh doanh: gồm dịch vụ nghề nghiệp, máy tính và liên quan,
nghiên cứu và phát triển, bất động sản, cho thuê, dịch vụ kinh doanh khác.
2. Dịch vụ thông tin liên lạc: gồm bưu điện, chuyển phát nhanh, viễn
thông, nghe nhìn, DV khác.
3. Dịch vụ kỹ thuật và xây dựng: gồm xây dựng nhà cửa, lắp đặt máy móc,
hoàn thiện công trình, dịch vụ khác.
4. Dịch vụ phân phối: gồm đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, nhượng quyền,
dịch vụ khác.
5. Dịch vụ đào tạo: gồm tiểu học, trung học, đại học, dịch vụ đào tạo khác.
6. Dịch vụ môi trường: gồm thoát nước, xử lý chất thải, vệ sinh, dịch vụ
khác.
7. Dịch vụ tài chính: gồm tất cả bảo hiểm và DV liên quan đến bảo hiểm,
ngân hàng, tài chính, DV khác.
8. Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội: gồm chữa bệnh, bệnh viện,
DV xã hội và các DV khác.
9. Dịch vụ du lịch và liên quan: gồm khách sạn, nhà hàng, đại lý và điều
hành du lịch, hướng dẫn du lịch và dịch vụ khác.
10. Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao: gồm giải trí, tin tức, kiến trúc bảo
tàng, thể thao và các giải trí khác.
Theo tiếp cận sản phẩm cổ điển, cung ứng DVĐT là nhiệm vụ của các cơ sở
đào tạo bậc đại học, là một thành tố của thị trường DVĐT phản ảnh một trạng
thái/cấu trúc số lượng, chất lượng, cơ cấu các sản phẩm DVĐT được cung cấp bởi
một cơ sở đào tạo bậc đại học cho các sinh viên trong một thời gian và không gian
xác định.
Khái niệm trên là không sai về mặt hiện vật nhưng chưa đầy đủ và chưa
trúng bản chất nhu cầu thị trường của chúng. Vì vậy thay cho quan niệm sản phẩm,
chúng tôi định nghĩa cung ứng DVĐT bậc đại học theo quan niệm giá trị cung ứng
cho khách hàng - sinh viên là quá trình quản lý và xã hội để lựa chọn và xác định;
kiến tạo và chia sẻ; truyền thông và thực hiện giá trị chào hàng thị trường các dịch
vụ đào tạo nhằm đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của tệp sinh viên mục tiêu. Có 2
điểm khác biệt lớn giữa 2 quan niệm này: một là, quan niệm sản phẩm được khởi
đầu bằng sản xuất, tiêu điểm là sản phẩm để tạo nên mức thị trường được cung
nhưng hầu như không kiểm soát được mức độ thỏa mãn nhu cầu và thị trường được
thực hiện. Theo quan niệm giá trị, điểm xuất phát là nghiên cứu, lựa chọn và xác
định nhu cầu thị trường, tiêu điểm là giá trị cung ứng cho sinh viên và vì vậy tạo
tiền đề thỏa mãn nhu cầu toàn diện hơn và kiểm soát được hiệu lực thị trường được
7
cung của cơ sở đào tạo; hai là, theo quan niệm sản phẩm chưa phản ảnh đầy đủ nhu
cầu thực sự của sinh viên về DVĐT bởi sinh viên không thụ hưởng bản thân sản
phẩm dịch vụ đó (ví dụ, dịch vụ giảng dạy trên lớp) mà là thụ hưởng lợi ích/giá trị
của dịch vụ đó (bao gồm giá trị dịch vụ cốt lõi, dịch vụ hỗ trợ, giảng viên và hình
ảnh thương hiệu của thầy cô, của chuyên ngành, của khoa và của trường), mà vì
vậy sinh viên phải tiêu tốn một chi phí xác định (về tiền, thời gian, năng lượng, tâm
lý) - nghĩa là thụ hưởng giá trị cung ứng cho sinh viên qua chào hàng thị trường
DVĐT đó. Ở đây chào hàng thị trường được hiểu là một tích hợp dịch vụ cốt lõi,
dịch vụ hỗ trợ và giá/phí dựa trên giá trị của một DVĐT được chào hàng có phân
biệt và khác biệt hóa) nhằm thỏa mãn nhu cầu của tập sinh viên mục tiêu xác định.
Có nhiều cách “pha trộn” tích hợp này tạo nên nhiều mức trình độ và chất lượng
chào hàng, thị trường khác nhau với mức trình độ và chất lượng chào hàng, thị
cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào.
Dịch vụ giáo dục đào tạo lâu nay vẫn được coi là một lợi ích công nhằm đảm
bảo sự công bằng cho toàn xã hội. Tuy nhiên do nhu cầu ngày càng tăng về giáo
dục, hơn nữa Nhà nước không đủ điều kiện cung cấp nên rất nhiều trường tư đã ra
đời. Hệ thống trường tư tồn tại song song với trường công tạo nên một thị trường
dịch vụ đào tạo đa dạng, tính cạnh tranh trong thị trường dịch vụ đào tạo cũng có xu
hướng tăng.
Việc tự do hóa và tăng cường trao đổi với bên ngoài của dịch vụ đào tạo đại
học cũng nằm trong xu thế tự do hóa chung mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trên
toàn thế giới. Tuy nhiên, dịch vụ đào tạo đại học lại là lĩnh vực có mức tự do hóa
thấp. Trong số 150 quốc gia thành viên chính thức của WTO chỉ có hơn 47 quốc gia
có cam kết mở cửa giáo dục, và trong số này cũng chỉ có 36 quốc gia mở cửa
giáo dục đại học. Bới việc mở cửa ngoài các mặt tích cực như tăng tính cạnh
tranh, tạo động lực cho các trường đại học trong nước nâng cao chất lượng đào
tạo, sẽ kèm theo nhưng hậu quả - trong đó có việc đẩy một số trường đại học vốn
đang non kém có thể lâm vào tình trạng khó khăn hơn nữa, thậm chí phải đóng
cửa, việc giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môi trường đại học
quốc tế sẽ khó khăn hơn.
Trước kia, trường đại học được xem là nơi đào tạo cho giới tinh hoa, những
người thuộc tầng lớp trên của xã hội nhưng cùng với sự phát triển của khoa học và
công nghệ và với sự thay đổi quan niệm về đào tạo đại học tính đại chúng ngày
càng tăng, Từ những yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế và cạnh tranh trong bối
cảnh hội nhập, các nước chú trọng hơn đến việc nâng cao chất lượng và tính cạnh
tranh của hệ thống giáo dục đại học. Việt Nam cũng đang tích cực hoàn thiện
chương trình đào tạo đại học nhằm duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo tại các
9
trường đại học, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo theo kịp sự phát triển chung
của nền giáo dục thế giới.
Đối với Việt Nam việc mở rộng các hoạt động dịch vụ đào tạo đại học, việc
cạnh tranh để thu hút sinh viên sẽ trở nên gay gắt hơn rất nhiều. Trước mắt, lợi thế
với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo cho phép.
Trường đại học có vai trò bảo tồn, làm sáng tỏ, và có khi mở rộng lịch sử và
văn hóa của xã hội. Trong thế kỷ XIX, trường đại học được bổ sung thêm nhiệm vụ
nghiên cứu, và tiếp theo sau đó ít lâu là nhiệm vụ cung cấp một số dịch vụ cung cấp
cho xã hội. Theo Ngô Tự Lập (2010): “Trường đại học hiện đại phải giải quyết mối
quan hệ hai mặt của nó với nhà nước. Một mặt, trường đại học là nơi đào tạo nhân
lực cho Nhà nước, nó phải giáo dục người lao động rằng họ phải sử dụng lý trí để
phục vụ nhà nước. Vì thế đại học phải chịu sự kiểm soát của Nhà nước. Mặt khác,
trường đại học chỉ có thể vận hành tốt nếu lý trí được tự do tuyệt đối. Điều này có
nghĩa là trường đại học phải được hưởng một quy chế tự trị để quá trình phê phán
có thể diễn ra thuận lợi”.
Trong các vai trò và sứ mạng trọng yếu của trường đại học , hẳn nhiên là có
vai trò đào tạo con người, nhưng trường đại học không phải là nơi bán lẻ tri thức,
mà là nơi mà con người được khai sáng theo nghĩa rộng nhất của từ này, chứ không
phải chỉ được giáo dục hay huấn luyện. Một trường đại học khác với một trường
dạy nghề ở chỗ trường đại học không chỉ mang lại cho sinh viên những kiến thức
và kỹ năng cụ thể trong một lãnh vực chuyên nghiệp nhất định, mà còn giúp họ
phát triển tinh thần tranh biện và thái độ tôn sùng sự thật, giúp họ thử thách mọi
chân lý và giá trị. Hơn thế nữa, một trường đại học đích thực phải có thể truyền đạt
cho sinh viên của mình một tầm nhìn quốc tế và lòng tôn trọng sâu sắc đối với con
người và các giá trị nhân văn. Thật vậy, trường đại học cần “phải trở thành cái nền
nơi họ học cách liên kết những dấu chấm, cho dù các dấu chấm đó có vẻ hoàn toàn
không liên quan gì đến nhau”. ĐHĐCQT tạo ra một môi trường học vấn giúp đào
tạo ra những nhân vật kiệt xuất, không chỉ những nhà khoa học lỗi lạc mà còn là
các nhà hoạt động xã hội và chính trị xuất chúng. Tạo ra những sinh viên nổi bật
như vậy là một đặc điểm chung của các trường đại học lớn. Có một điều rất rõ ràng
rằng một trường đại học lớn thì phải sản sinh ra những tên tuổi lớn. Điều này đúng
ở Anh Quốc, ở Trung Quốc, ở Mỹ hay bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Một
trong những lý do cơ bản của sự tồn tại của các trường đại học là vì chúng có thể,
nhau giữa các trường, cùng với chất lượng của các trường khác nhau dẫn đến sản
phẩm đầu ra của các trường trong nhiều trường hợp chênh lệch nhau rất lớn.
- Tính xã hội của dịch vụ đào tạo đại học
Dịch vụ giáo dục không chỉ đem lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho những
người xung quanh và cả xã hội. Lợi ích cho cá nhân là lợi ích của bản thân học viên
sau khi học, có được kiến thức và kỹ năng làm việc, sẽ tìm được việc làm tốt hơn và
có thu nhập cao hơn, có cuộc sống phong phú hơn. Tuy nhiên lợi ích lớn hơn lại là
lợi ích của việc học đó cho sự phát triển xã hội, nâng cao năng suất lao động xã hội.
12
Một đất nước mà trình độ nguồn nhân lực càng cao thì kinh tế càng phát triển, các
tệ nạn xã hội được giảm bớt, các chính sách kinh tế, văn hóa và xã hội thực hiện dễ
dàng hơn.
- Tính thương mại hóa tăng cao và bùng nổ tham gia của khu vực tư nhân
Giáo dục đại học chuyển từ quan niệm là một lợi ích công sang quan niệm
là lợi ích tư. Quan niệm này cho rằng văn bằng đại học mang lợi ích về cho người
được văn bằng nhiều hơn là cho xã hội. Do đó tất yếu là người được hưởng lợi ích
phải chi trả để đạt được lợi ích đó, và các trường đại học tư thành lập để bán dịch
vụ đào tạo đại học . Vào năm 1980 ở nhiều nước trên thế giới không có đại học tư
nhưng cho đến nay hầu hết tất cả các nước đều có đại học tư. Dịch vụ đào tạo đại
học được coi là dịch vụ thương mại vì nó được cung cấp trên cơ sở cạnh tranh.
- Tính hướng nghiệp
Tính chuyên môn hóa trong giáo dục đại học chính là nhằm mục đích
hướng nghiệp cho sinh viên theo học, những con người lao động tương lai. Nếu
như ở trường tiểu học, trung học các môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, nền
tảng cho mọi ngành nghề thì trường đại học lại dạy đúng chuyên ngành mà người
học cần cho nghề nghiệp của mình. Đối với sinh viên học tại các trường khối KT
và QTKD đó có thể là tài chính ngân hàng, thương mại quốc tế, thuế, hải quan
Đại học là nơi đào tạo ra nhiều lao động có trình độ chuyên môn, đóng góp vào sự
phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Tổng giá trị mà khách hàng nhận được là toàn bộ những lợi ích mà họ mong
đợi ở một sản phẩm, dịch vụ. Thông thường, nó bao gồm một tập hợp các giá trị thu
được từ chính bản thân sản phẩm, dịch vụ, các dịch vụ kèm theo, nguồn nhân lực và
hình ảnh của doanh nghiệp.
Tổng chi phí mà khách hàng phải trả là toàn bộ những phí tổn mà khách
hàng phải bỏ ra để nhận được những lợi ích mong muốn. Trong tổng chi phí này,
những bộ phận chủ chốt thường bao gồm: giá tiền của sản phẩm dịch vụ; phí tổn
thời gian; phí tổn công sức và phí tổn tinh thần mà khách hàng bỏ ra trong quá trình
mua hàng.
Theo đó trước khi mua sản phẩm dịch vụ đào tạo đại học, người mua sẽ
tìm hiểu về độ tin cậy,cơ sở vật chất tại cơ sở đào tạo, chất lượng dịch vụ đào tạo,
thương hiệu của cơ sở đào tạo, kiến thức tri thức nhận được, giá trị bằng cấp được
công nhận trên thị trường lao động Tuy nhiên, không phải sản phẩm dịch vụ nào
đạt được những yếu tố tốt nhất cũng được lựa chọn mua. Người mua còn xem xét
tổng chí phí bỏ ra để thực hiện giao dịch với nhà cung ứng. Tổng chi phí mà
khách hàng phải trả còn lớn hơn cả chi phí tiền bạc. Nó bao gồm cả những phí
tổn thời gian, sức lực và tinh thần mà người mua bỏ ra. Người mua đánh giá
14
những phí tổn này cùng với chi phí tiền bạc để có được một ý niệm về tổng chi
phí của khách hàng.
Như vậy, giá trị cung ứng cho khách hàng không chỉ đơn thuần là những
giá trị, lợi ích nằm trong chính bản thân sản phẩm, dịch vụ. Nó bao gồm tất thảy những
giá trị hữu hình và vô hình, giá trị được sáng tạo trong sản xuất và giá trị nằm ngoài khâu
sản xuất, miễn là những giá trị này mang lại lợi ích cho khách hàng.
b. Lí thuyết mô hình chiến lược kinh doanh dịch vụ dựa trên giá trị và
tri thức:
Chiến lược cung ứng dịch vụ đào tạo của một tổ chức / cơ sở đào tạo là "a
game plan", 1 cấu trúc logic gồm xác lập tầm nhìn và các mục tiêu; các công cụ để
lựa chọn, cung ứng, truyền thông và chuyển giao các giá trị đào tạo cho tệp người
học muc tiêu và quy hoạch các chức năng nguồn lực liên minh, liên kết của các cổ
Đầu vào
Đầu ra
c. Lí thuyết quá trình cung ứng giá trị cho khách hàng của tổ chức
Mô hình cung ứng dịch vụ ĐTN NTMN trên cơ sở phát triển mô hình quá
trình cung ứng giá trị của Ph,Koller, M.lanning, E.Michaclo [1]
Thứ nhất, xác định rõ giá trị cung ứng cho người học gồm (xem hình1. 2)
Hình 1.2: Mô hình giá trị cung ứng người học
Nguồn: Tạp chí khoa học thương mại [ ]
Thứ hai, chuyển mô hình quá trình cung ứng sản phẩm đào tạo thành quá
trình cung ứng giá trị đào tạo cho người học (xem hình 1.3)
Hình 1.3: Quá trình cung ứng giá trị cho người học
d. Một số nguyên lí về giáo dục đại học Việt Nam theo Luật giáo dục mới
Ngày 18 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Giáo dục đại học, theo đó
chúng ta có thể nắm được một số nguyên lí về giáo dục đại học Việt Nam theo luật
giáo dục mới:
- Mục tiêu của giáo dục đại học (điều 5)
Mục tiêu chung:
Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri
16
Xây
dựng
CTĐT
xác
định
Xét tốt
nghiệp,
cấp
bằng,
chưng
hành
Tổ
chức
thi,
kiểm
tra
Tạo CT và nguồn ĐT
Tổ chức các quá trình đào tạo
Phân
khúc
các
tệp
NH
tiềm
tàng
Chọn
tiêu
điểm
nghề
thích
hợp
theo
phân
khúc
Định
vị
giá
trị
ĐTN
theo
điểm
điều
kiện
ĐT
Truyền
thông
quảng
bá
ĐT
Khuyến
khích
kích
đẩy
NH
Phát
triển
phương
pháp
ĐT
thực
hành
Tư
vấn
giúp
đỡ
hậu
ĐT
Cận
biên
trình độ tiến sĩ.
Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư,
xây dựng cơ sở vật chất;Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư,
xây dựng cơ sở vật chất….
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường cao đẳng, trường đại học, học viện
(điều 28)
Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học. Triển khai
hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo
dục đại học. Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu xác định; bảo đảm sự
liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo. Tổ chức bộ máy; tuyển dụng,
quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao
17
động. Quản lý người học; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức,
nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối
với đối tượng được hưởng chính sách xã hội ; b o m môi tr ng s ph m cho ho tả đả ườ ư ạ ạ
ng giáo d c.độ ụ T ánh giá ch t l ng o t o v ch u s ki m nh ch t l ng giáo d c.ự đ ấ ượ đà ạ à ị ự ể đị ấ ượ ụ
c Nh n c giao ho c cho thuê t, c s v t ch t; c mi n, gi m thu theoĐượ à ướ ặ đấ ơ ở ậ ấ đượ ễ ả ế
quy nh c a pháp lu t.đị ủ ậ Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục,
thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài. Thực hiện chế độ
thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ,
ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc
có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định.
e. Lí thuyết chiến lược cung ứng dịch vụ định hướng thị trường dựa trên
năng lực
Theo quan điểm quản trị chiến lược (QTCL) dựa trên năng lực kinh doanh
(NLKD) của doanh nghiệp (DN), các nhà QTCL cần đánh giá các NLKD của DN.
Ở đây, các NLKD được hiểu là các khả năng và nguồn lực được sử dụng cho hoạt
động kinh doanh của DN. Quan điểm chiến lược kinh doanh (CLKD) định hướng
có tính bền vững là chiến lược định hướng thị trường dựa trên năng lực khác biệt
hóa của cơ sở đào tạo. Nhưng trên thực tế, luôn có mâu thuẫn, sự khác biệt giữa nhu
cầu thị trường và năng lực của cơ sở đào tạo. Tất nhiên, nhà quản trị sẽ phải lựa
chọn vị thế cạnh tranh để đưa ra những phương án giải quyết mâu thuẫn tiềm tàng
này. Vị thế canh tranh giúp cơ sở đào tạo xây dựng được CLCƯDV thông qua việc
xác định thị trường mục tiêu và LTCT, những LTCT này sẽ giúp cơ sở đào tạo đáp
ứng thị trường mục tiêu đó. Vì vậy, sự hấp dẫn của thị trường phụ thuộc một phần
vào năng lực mà cơ sở đào tạo sẵn có, giúp cơ sở đào tạo định vị cạnh tranh vững
mạnh. Tương tự như vậy, quan điểm định vị cũng nhận ra rằng để năng lực của cơ
sở đào tạo đem lại lợi ích kinh tế thì những vận dụng của nó phải được thực hiện
trên thị trường. Tuy nhiên, để những vận dụng này phát huy được tác dụng lâu dài
và chống được đối thủ cạnh tranh thì lợi thế cạnh tranh phải được xây dựng trên cơ
sở các năng lực khác biệt hóa của cơ sở đào tạo. Bản thân việc định hướng thị
trường cũng được coi như là một năng lực chủ chốt của cơ sở đào tạo được tích lũy
và học hỏi qua một thời gian dài và liên tục.
Quản trị chiến lược cung ứng dịch vụ dựa trên năng lực là một tiếp cận mới
mà nhiều cơ sở đào tạo nước ta chưa quan tâm, bản chất của chiến lược cung ứng
dịch vụ này là phải đạt tới một cân bằng bền vững giữa định hướng thị trường và
dựa trên năng lực (hình 1.4).
19
Hình 1.4: Mô hình chiến lược kinh doanh cân bằng, bền vững
Không phải toàn bộ khả năng, nguồn lực và tích hợp của chúng ở cơ sở đào
tạo đều tạo nên năng lực cung ứng dịch vụ mà chỉ những tích hợp nào tạo nên giá trị
cung ứng khác biệt, hiệu suất giá trị gia tăng đủ lớn cho khách hàng và giá trị khó
bắt chước mới được đưa vào cấu thành năng lực kinh doanh cốt lõi và khác biệt của
cơ sở đào tạo (hình 1.5).
Hình 1.5: Cấu trúc bậc năng lực kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn: TS.Nguyễn Hoàng Việt
1.2 Mô hình nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ đào tạo của trường đại học
khối Kinh tế- Quản trị kinh doanh