LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ
logistics của Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh
Vân Minh Vân” là công trình nghiên cứu độc lập, các tài liệu tham khảo, số liệu
thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trong công trình này được sử dụng đúng quy
định, không vi phạm quy chế bảo mật của nhà nước. Tác giả xin cam đoan những
vấn đề nêu trên là đúng sự thật. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước pháp luật.
Tác giả luận văn
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt bài luận văn nghiên cứu với đề tài: “Hoàn thiện hoạt
động cung ứng dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế
và thương mại Vinh Vân Minh Vân”, cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân,
em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Lục Thị Thu Hường đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp.
Đồng thời em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học, các thầy cô
giáo phụ trách giảng dạy chuyên ngành Kinh doanh thương mại - Trường Đại học
Thương Mại, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ của đơn vị, đã tận tình giúp đỡ, đóng
góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành đề tài luận văn này.
Tác giả luận văn
Trần Khánh Hồng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN....................................................................................................ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................vi
DANH MỤC...................................................................................................viii
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh
Vân Minh Vân...................................................................................................51
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển............................................................51
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động..................................................52
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và các nguồn lực...............................................................53
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh...................................................................60
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động cung ứng logistics của Công ty Cổ phần dịch vụ
vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân.......................................62
2.2.1. Khái quát về ngành logistics Việt Nam và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ...........62
2.2.2. Khách hàng, đối thủ cạnh tranh và các đơn vị cung ứng dịch vụ hỗ trợ của
của Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh
Vân...................................................................................................................65
2.2.3. Quy trình cung ứng dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần dịch vụ vận
chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân..............................................70
2.2.4. Thực trạng cung ứng dịch vụ vận tải.........................................................71
2.2.5. Thực trạng cung ứng dịch vụ tư vấn và khai hải quan................................76
2.2.5. Thực trạng cung ứng dịch vụ gom hàng lẻ.................................................80
2.3. Đánh giá chung về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics của Công ty Cổ phần
dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân...........................90
2.3.1. Thành công và thuận lợi...........................................................................90
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân...........................................................................91
CHƯƠNG 3.....................................................................................................96
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH
VỤ LOGISTICS CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN QUỐC TẾ
VÀ THƯƠNG MẠI VINH VÂN MINH VÂN.................................................96
3.1. Định hướng phát triển ngành logistics Việt Nam và chiến lược phát triển của
Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân 96
3.1.1. Định hướng phát triển của ngành logistics Việt Nam..................................96
Bill of lading
Á
Vận đơn
CFS
CIF
Consol
CY
D/O
ECUS
Container Freight Station
Cost, Insurance, Freight
Consolidation
Container Yard
Delivery Order
Electronic Customs
Fédération Internationale des
Kho hàng lẻ
Tiền hàng, bảo hiểm, cước phí
Gom hàng lẻ
Bãi container
Lệnh giao hàng
Hải quan điện tử
FIATA
Associations de Transitaires et
M.O.B/L
Master Ocean Bill of Lading
Vận đơn chủ
Non-vessel operating common
Người vận tải (chuyên chở) công
carrier
cộng không tàu
OMS
Order Management System
Hệ thống quản lý đơn hàng
TMS
Transport Managerment System
Hệ thống quản lý vận tải
ASEAN
B/L
NVOCC
logistics Việt Nam
Hệ thống thông quan hàng hóa tự
VVMV
Port Consolidated System
-
động
Vinh Vân Minh Vân
WMS
Warehouse Management System Hệ thống quản lí kho hàng
WTO
World Trade Organization
VCIS
VLA
VNACCS
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢN
Bảng 2.1. Trang thiết bị vận chuyển và bốc xếp của Công ty VVMV JSC..............57
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của cán bộ, công nhân viên của Công ty VVMV
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý thuyết và thực tế đã chỉ ra rằng logistics có vai trò thực sự quan trọng trong
phát triển kinh tế xã hội không chỉ riêng của bất cứ quốc gia nào mà là với toàn thế
giới. Chính bởi vì những lợi ích mà nó mang lại cả về tính hiệu năng và tính hiệu
quả trong các chuỗi cung ứng mà người ta chú ý nhiều hơn đến việc nâng cao hiệu
quả logistics. Logistics được nâng tầm thành một ngành , là chìa khóa cho việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tổ chức hay quốc gia có chỉ số hoạt
động logistics (LPI) cao.
Cùng với sự phát triển của ngành dịch vụ logistics trên thế giới, ngành
logistics Việt Nam cũng đang trên đà hội nhập và có những bước phát triển mạnh
mẽ. Dịch vụ logistics thương mại nước ta bắt đầu từ những năm 1990 trên cơ sở
giao nhận vận tải, kho vận . Theo chỉ số LPI năm 2014, Việt Nam xếp thứ 48/160
nước được nghiên cứu và đứng thứ 4 trong các nước ASEAN (sau Singapore,
Malaysia và Thái Lan). Mặc dù các con số khá khiêm tốn nhưng không thể phủ
nhận tốc độ hội nhập vào ngành dịch vụ logistics của nước ta là khá cao. Mỗi năm
có hàng trăm tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics ra đời. Hầu hết các
công ty là vừa và nhỏ, tham gia cung ứng một hoặc một vài khâu riêng lẻ của toàn
bộ các hoạt động logistics, gồm: dịch vụ vận tải, kinh doanh cảng biển, ICD, ga
hàng hóa, kho bãi, đại lý tàu biển, đại lý hải quan và các dịch vụ logistics liên quan
khác liên quan (tư vấn, giao dịch hàng hóa, đào tạo và các giải pháp…). Có một số
ít các doanh nghiệp vươn lên đảm nhiệm được dịch vụ logistics tích hợp 3PL,
nhưng con số đó là không nhiều. Ở nước ta, hầu hết các công ty lớn trong ngành
đều là các công ty của nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics xuyên quốc gia và
đặt trụ sở tại Việt Nam. Các công ty này chiếm phần lớn thị phần của ngành
logistics Việt Nam, thị phần còn lại giành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận. (Luật Thương mại 2005)
- Logistics
Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2011) “Logistics là tối ưu hóa về địa điểm và thời
điểm, tối ưu hóa việc lưu chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào cho đến tay
người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với
chi phí thích hợp, thông qau hàng loạt các hoạt động kinh tế.
3
Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ “Logistics là một phần của quá trình
chuỗi cung ứng, thực hiện hoạch định, thực hiện và kiểm soát dòng lưu chuyển, tồn
trữ hàng hóa, dịch vụ và thông tin có liên quan một cách hiệu quả, hiệu năng từ
điểm đầu đến điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Dịch vụ logistics
Tại Mục 4 Điều 233 Luật Thương mại 2005 quy định : “Dịch vụ logistics là
hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công
việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ
tục giấy tờ khác, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc dịch vụ khác có
liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”
- Doanh nghiệp logistics
Các doanh nghiệp logistics là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và
có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. Họ là
những tổ chức có khả năng cung ứng các dịch vụ logistics đơn lẻ hoặc tích hợp các
dịch vụ đơn lẻ thành các gói dịch vụ logistics khác nhau để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và thương mại trong nước và
nước ngoài (theo tác giả)
3. Tổng quan nghiên cứu
3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Logistics đã phát triển từ khá lâu trên thế giới, dần dần được chuyên môn hóa
– công nghiệp tàu thủy Bình Định”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Luận văn đã tóm lược các nội dung lý thuyết cơ bản về logistics, hoạt động cung
ứng dịch vụ logistics. Phân tích và đánh giá thực trạng tại doanh nghiệp đang cung
ứng dịch vụ logistics, chủ yếu là dịch vụ giao nhận vân tải đường biển, nhìn nhận
được những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức của doanh nghiệp, từ đó
đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các dịch vụ để đáp ứng khách hàng tốt hơn
đồng thời mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.
Đinh Lê Hải Hà (2012) “Phát triển logistics ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến
sĩ kinh tế, Đại học Thương mại. Luận án tập trung nghiên cứu logistics ở góc độ vĩ
mô. Luận án đã hệ thống lý luận về logistics hiện đại theo quan điểm tiếp cận toàn
diện, tạo dựng cơ sở lý thuyết xác lập nội dung nghiên cứu và phát triển logistic
theo quan điểm hiện đại ở Việt Nam. Luận án đã phân tích và đánh giá khá đầy đủ,
5
toàn diện thực trạng phát triển của hệ thống logistics trong nền kinh tế Việt Nam
hiện nay ở các khía cạnh: trình độ phát triển về lý thuyết nghiên cứu và ứng dụng
logistics của nền kinh tế, thực trạng hệ thống cung ứng dịch vụ logistics của nền
kinh tế, thực trạng nhu cầu thị trường về dịch vụ logistics, thực trạng kết cấu hạ tầng
logistics, thực trạng môi trường cạnh tranh và cơ chế, chính sách, luật pháp cho phát
triển dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Tài liệu tham khảo nước ngoài
Viện nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) (2002) ““Vietnam logistics development,
trade facilitation and the impact on poverty reduction” (Phát triển logistics Việt Nam,
tạo thuận lợi cho thương mại và tác động đến giảm nghèo), công trình nghiên cứu này
phân tích thực trạng phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam, chủ yếu tập trung vào
khía cạnh dịch vụ logistics và chi phí cho dịch vụ logistics của sản xuất và xuất khẩu
một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Davil L. Cahill (2006), “Customer Loyalty in Third Party Logistics
- Phương pháp so sánh: Thông qua các số liệu thống kê về thực trạng cung cấp
dịch vụ logistics của công ty, tác giả tiến hành so sánh các chỉ tiêu theo thông số
tuyệt đối và thông số tương đối.
- Phương pháp phân tích định tính: Việc phân tích dữ liệu định tính được dựa
trên các thông tin sơ cấp, thứ cấp và quan sát thực tế tại doanh nghiệp nhằm tìm tòi
một cách chính xác, cẩn thận vấn đề đặt ra. Trong luận văn này, những phần được
sử dụng phương pháp định tính như phân tích những thành công, tồn tại có ở công
ty liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ logistics.
- Phương pháp phân tích định lượng: Việc phân tích dữ liệu theo phương pháp
định lượng được dựa trên các thông tin sơ cấp, thứ cấp và quan sát thực tế tại doanh
nghiệp. Trong luận văn này, phương pháp định lượng được sử dụng trong các phần
như: Tình hình cung ứng dịch vụ logistics của công ty, tình hình hoạt động kinh
doanh chung của công ty…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình và hoạt động cung cấp dịch vụ
logistics của công ty VVMV JSC và các công ty cung ứng dịch vụ cho VVMV JSC
7
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thực trạng được lấy trong khoảng thời gian
từ năm 2013 đến hết tháng 6 năm 2016 và giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng
dịch vụ logistics của công ty VVMV JSC trong tương lại 2017-2020
Về không gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng quá trình và hoạt động cung cấp
dịch vụ logistics của công ty VVMV JSC. Hoạt động cung cấp dịch vụ logistic của
công ty được thực hiện trên địa bàn khắp cả nước, do công ty có trụ sở ở Thành phố
Hồ Chí Minh và chi nhánh Miền Bắc tại Hà Nội. Tuy nhiên, do giới hạn về thời
gian nghiên cứu, khả năng nghiên cứu nên luận văn chủ yếu tập trung về hoạt động
chuyên ngành như Tạp chí Việt Nam Logistics Review, các trang web có liên quan
như www.vietnamshipper.com, www.vinamaso.net
- Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2013-2016 từ
phòng kế toán.
- Các báo cáo, số liệu liên quan đến thực trạng các dịch vụ đang được cung
cấp của công ty từ năm 2013-2016
6. Kết cấu dự kiến của đề tài
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, lời mở
đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận
văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cung ứng dịch vụ
logistics của các công ty logistics
Chương 2: Thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ logistics tai Công ty Cổ
phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics tai
Công ty Cổ phần dịch vụ vận chuyển quốc tế và thương mại Vinh Vân Minh Vân
9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA CÁC CÔNG TY LOGISTICS
1.1. Tổng quan về dịch vụ logistics
1.1.1. Khái niệm logistics và dịch vụ logistics
Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Hi Lạp – logistikos- xuất hiện lần
đầu không phải trong lĩnh vực thương mại mà trong lĩnh vực quân sự. Trong các
cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế La Mã và Hy Lạp, những binh lính mang chức
danh Logistikos có nhiệm vụ cung ứng và phân phối vũ khí, nhu yếu phẩm cho
quân đội. Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics phát triển nhanh chóng, trong nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực và ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trở thành một ngành
sinh hoặc sẽ phát sinh, với thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời”.
Tuy nhiên ở đây không chỉ có sự vận động của “nguyên vật liệu, hàng hoá” mà cần
phải bao gồm thêm cả dòng luân chuyển “dịch vụ, thông tin”. Logistics không chỉ
hạn chế trong sản xuất mà nó còn liên quan đến mọi tổ chức bao gồm chính phủ,
bệnh viện, ngân hàng, người bán lẻ, người bán buôn…
Dịch vụ logistics
Nếu như hoạt động logistics là một chức năng hỗ trợ trong doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh thì dịch vụ logistics được hiểu là một loại sản phẩm dịch vụ do nhà
cung cấp là các doanh nghiệp logistics bán cho khách hàng và thu phí dịch vụ
logistics. Khách hàng ở đây là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp
xuất nhập khẩu hoặc các cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics.
Ở Việt Nam, trước Luật Thương mại 2005, chưa hề có những quy định về dịch
vụ Logistics, mà mới chỉ có những quy định liên quan đến vận chuyển, giao nhận
hàng hóa. Chỉ đến Luật Thương mại 2005, dịch vụ Logistics mới được đưa vào một
mục của Luật với 8 điều (điều 233- điều 240), bao gồm các quy định về dịch vụ
Logistics, điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics, quyền và nghĩa vụ của thương
nhân kinh doanh dịch vụ Logistics, quyền và nghãi vụ của khách hàng, các trường
hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics, giới hạn
trách nhiêm, quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa và nghĩa vụ của thương nhân
kinh doanh dịch vụ Logistics.
Theo Luật Thương mại Việt Nam thì “Dịch vụ logistics là hoạt động thương
mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm
nhận tư vấn khách hàng, đóng góp bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch
vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thoản thuận với khách hàng để hưởng thù
lao” (mục 4, điều 233, Luật Thương mại 2005)
11
12
+ Tính vô hình: Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ logistics mang
tính chất vô hình. Khách hàng sẽ không thể biết mình nhận được gì nếu như chưa
sử dụng dich vụ, nói cách khác, bán dịch vụ chính là bán một lời hứa rằng doanh
nghiệp sẽ đem đến cho khách hàng một điều gì đó. Logistics thực hiện các công
việc chu chuyển và lưu kho hàng hóa, cùng các dịch vụ và thông tin có liên quan từ
địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng, do vậy nó không phải là một sản phẩm vật
chất hay một cái gì đó hiện hữu, khách hàng không thể cầm nắm, không thể hình
dung trước được Logistics là sản phẩm như thế nào mà phải chờ đợi kết quả của
quá trình vận chuyển, lưu kho… Đó là tính không hiện hữu của dịch vụ Logisstic.
Sau khi khách hàng sử dụng dịch vụ, họ sẽ có thể cảm nhận và đánh giá được chất
lượng của dịch vụ thông qua các tiêu thức như: thời gian giao nhận, độ an toàn của
hàng hóa, tính chính xác và nhanh chóng của việc hoàn thành các thủ tục, chứng
từ, mức độ hỗ trợ khách hàng…
Tính không hiện hữu của dịch vụ logistics gây ra một số khó khăn không nhỏ
đối với các công ty cung cấp dịch vụ. Nó thể hiện ở chỗ khách hàng không trực tiếp
tiếp cận với dịch vụ mà phải chờ đợi kết quả của quá trình thực hiện. Điều này đem
tới cho khách hàng tâm lý bất an, vì vậy công ty cung cấp dịch vụ cần có những
biện pháp cụ thể để xóa bỏ tâm lý bất an trong khách hàng, làm cho khách hàng tin
tưởng hoàn toàn vào dịch vụ mà công ty đã cung cấp.
+Tính không tách rời: Đặc tính này thể hiện ở quá trình sản xuất và tiêu thụ
dịch vụ logistics diễn ra đồng thời. Ví dụ khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty
logistics, thuê công ty này vận chuyển hàng hóa từ kho của công ty đến cảng biển,
thì lúc đó công ty logistics đang cung cấp dịch vụ và khách hàng đồng thời sử dụng
dịch vụ. Sự diễn ra đồng thời này mặc dù có những ưu điểm nhất định nhưng mang
đến không ít khó khăn cho cả 2 bên, khó dự đoán những rủi ro có thể xảy ra đồng
thời tính toán kĩ lưỡng về thời gian cũng như tính chính xác khi cung cấp dịch vụ.
thân dịch vụ logistics phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vậy cho nên chất lượng dịch
vụ logistics sẽ dễ dàng bị biến đổi khi ít nhất một trong các yếu tố đó có sự thay đổi.
Ngoài những đặc điểm chung thì dịch vụ logistics còn có một số đặc điểm
riêng như sau:
+ Tính tích hợp cao: Tính tích hợp là khả năng phối hợp các hoạt động lại với
nhau, tạo ra môt hệ thống thống nhất có khả năng hỗ trợ, tương tác lẫn nhau. Từ đó
14
đạt được hiệu quả cao hơn so với hoạt động riêng lẻ. Hiện nay khi nền sản xuất kinh
doanh và thương mại hiện đại có tính tích hợp ngày càng cao thì với vai trò là hoạt
động hỗ trợ cho hoạt động thương mại, dịch vụ logistics cũng phải mang trong mình
đặc tính này để có thể phát triển và đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Tính tích
hợp cao của dịch vụ Logistics được hiểu theo hai chiều hướng.
Thứ nhất là dịch vụ logistics có tính tích hợp cao với hoạt động thương mại
quốc tế do dịch vụ logistics là một trong những hoạt động hỗ trợ cho hoạt động giao
lưu, thương mại, ... giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ thì logistics là bên thứ ba kết
nối các giao dịch, kết nối bên bán và bên mua và cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho
các dòng di chuyển hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thương mại của các bên và đòi hỏi
tính chuyên môn hóa cao.
Thứ hai là yêu cầu tích hợp các hoạt động logistics với nhau. Một là sự tích
hợp tồn tại trong một doanh nghiêp, nghĩa là các doanh nghiệp logistics sẽ tích hợp
các dịch vụ riêng lẻ của mình thành các gói dịch vụ để cùng một lúc có thể cùng
cung cấp dịch vụ riêng lẻ của mình thành các gói dịch vụ để cùng một lúc có thể
cùng cung cấp nhiều dịch vụ cho khách hàng. Hai là sự tích hợp của nhiều doanh
nghiệp logistics trong ngành, không phải doanh nghiệp logistics nào cũng có đủ khả
năng về nguồn lực để có thể cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ trong
chuỗi dịch vụ logistics. Cho nên việc lựa chọn cộng tác, liên minh với các doanh
nghiệp khác trong ngành để có thể nhận được sự hỗ trợ, tận dụng các lợi thế và sử
quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa góp phần hỗ trợ giao dịch kinh
tế diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ khi hoạt động các doanh nghiệp logistics trong
ngành hoạt động nhịp nhàng. Với chức năng là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và
tiêu thụ hàng hóa thì hoạt động doanh nghiệp logistics góp phần quan trọng giúp
hàng hóa sẽ có được dòng chảy đầu vào đảm bảo và chất lượng. Doanh nghiệp
Logistics tốt sẽ cung ứng sản phẩm ngay đúng lúc thị trường cần và mối quan hệ
sản xuất là đầu ra của một tổ chức này chính là một đầu vào của tổ chức khác. Hơn
nữa, với cơ sở vật chất và thông tin hiện đại, các nhà cung ứng này có thể cung ứng
hàng hóa với chất lượng đảm bảo hơn cho các nhà sản xuất.
b) Vai trò của doanh nghiệp logistics
16
- Với nền kinh tế
+ Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu: Nếu như
không có sự ra đời của các công ty logistics thì các khâu trong chuỗi logistics như
cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh
tế khó có thể liên kết và phối hợp nhịp nhàng, trơn tru với nhau. Thị trường toàn cầu
phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước
đang và chậm phát triển là việc rất quan trọng. Các công ty cung cấp dịch vụ
logistics là những cánh tay nối dài giúp cho những doanh nghiệp này gia nhập tốt
hơn vào thị trường thương mại quốc tế.
+ Giảm chi phí logistics: Sự xuất hiện của các doanh nghiệp logistics đã tạo
nên được sự chuyên môn hóa cho hoạt động chuyên môn của mình một cách hiệu
quả nhất. Điều này dẫn tới sự thống nhất hoạt động của chuỗi cung ứng, từ đó giảm
được sự ách tắc, chồng chéo trong chuỗi. Điều đó giúp giảm được các chi phí phân
phối, vận động vật chất trong chuỗi.
+ Cải thiện năng suất logistics, đóng góp lớn vào GDP: Là một thành tố quan
trọng đóng góp vào GDP, logistics tác động tới việc mất giá đồng tiền, mức lãi ngân