Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ẢNH
HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY INDECO 2
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2
1.2. XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ TRONG ĐỀ TÀI 4
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY INDECO 6
2.1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT 6
2.1.1. Quan điểm và khái niệm về lạm phát 6
2.1.2. Thước đo lạm phát 7
MỘT SỐ LÝ THUYẾT CỦA LẠM PHÁT TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 8
Phân loại lạm phát 8
2.1.3. Nguyên nhân gây ra Lạm phát 8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU CỦA NHỮNG CÔNG
TRÌNH NĂM TRƯỚC 12
2.2. PHÂN ĐỊNH NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
2.2.1. Phân định nội dung đề tài 13
2.2.2. Tác động của Lạm phát 13
2.2.3. Tác động của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh 18
2.2.4. Tác động của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
INDECO 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN
TÍCH THỰC TRẠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ ẢNH
HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY INDECO 22
4.2.3. Quan điểm và định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành
Điện 52
4.2.4. Quan điển phát triển của Công ty INDECO 54
4.3. CÁC ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT
ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA INDECO 55
4.3.1. Giải pháp từ phía nhà quản lý vĩ mô 55
4.3.2. Giải pháp từ phía doanh nghiệp 56
4.3.3. Một số đề xuất, kiến nghị 58
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ẢNH
HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA CÔNG TY INDECO
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng mà mọi
quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Lạm phát là
một hiện tượng kinh tế phức tạp, xuất hiện khi nền kinh tế phát triển bị mất cân đối
và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng. Những tưởng lạm phát cao ở Việt Nam đã
đi vào dĩ vãng trong lịch sử phát triển kinh tế và đến nay nền kinh tế nước ta đã
Bùi Thị Ngọc K42F4
2
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
bước vào thời kỳ ổn định, hưng thịnh. Tuy nhiên, một lần nữa lạm phát cao đã quay
trở lại. Lạm phát đã tác động tới toàn thể các quốc gia làm cho kinh tế bị trì trệ, đời
sống nhân dân khó khăn…và từ đó các quốc gia đều cố gắng tìm ra những giải pháp
để kiềm chế lạm phát, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, nền
kinh tế được ổn định. Giống như Chủ tịch WB Robert Zoellick phát biểu: “Cuộc
khủng hoảng toàn cầu này cần một giải pháp toàn cầu và việc ngăn chặn một thảm
họa kinh tế ở các nước đang phát triển có ý nghĩa quan trọng trong những nỗ lực
chống khủng hoảng toàn cầu. Chúng ta cần đầu tư vào các mạng lưới an sinh xã hội,
cơ sở hạ tầng, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tạo việc làm, cũng như tránh bất
ổn xã hội và bất ổn chính trị”.
cầu ngày càng gia tăng, bởi chính vì vậy mà các công ty cung cấp, lắp đặt và bảo
dưỡng các hệ thống trạm điện và hệ thống truyền tải điện được ra đời, một trong
những công ty đó là INDECO, được thành lập ngày 30-5-2003 cho đến nay xuất
phát từ một công ty nhỏ với sự cố gắng và cải tiến không ngừng thì hiện nay đã
được xếp vào một trong những công ty đứng đầu về hệ thống điện.
Ngày nay khi công nghệ không ngừng phát triển, nhu cầu con người không
ngừng được nâng cao thì các đơn vị như INDECO lại phải không ngừng phục vụ và
cải tiến kỹ thuật để đáp ứng đủ và đảm bảo cho nhu cầu của khách hàng. Trong đợt
khủng hoảng kinh tế vừa qua các công ty nổi tiếng ở mỹ và các nước tây âu nói
chung cũng như các công ty liên danh với nước ngoài ở Việt Nam đã gần như lao
đao trước cơn bão kinh tế này, và công ty INDECO cũng không đứng ngoài tác
động của vòng xoáy đó. Chính vì vậy tôi chọn “Một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh
hưởng của lạm phát tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Hệ thống
Công nghiệp Việt Nam”
1.2.XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ TRONG ĐỀ TÀI
Trong thời kì lạm phát, hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty trong nền
kinh tế đều bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau và INDECO cũng không nằm
ngoài vòng quay đó. Chính vì vậy, qua đề tài này em muốn tìm hiểu rõ hơn về tình
hình Lạm phát ở Việt Nam trong thời gian gần đây và để trả lời cho những câu hỏi:
lạm phát là gì? Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay là gì? Những ảnh
hưởng của lạm phát đến nền kinh tế và đời sống xã hội? Ảnh hưởng của lạm phát
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của INDECO như thế nào? Và từ đó có những
giải pháp để hạn chế ảnh hưởng của lạm phát ra sao?
1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài đã chỉ ra được những nguyên nhân và ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuât thương mại, và cụ thể là
công ty INDECO. Khi lạm phát xảy ra đã tác động tới doanh thu, lợi nhuận, chi phí
và lao động của công ty. Trên cơ sở nắm bắt được những tác động đó nhà nước sẽ
có những ứng phó kịp thời nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế ảnh hưởng xấu của
nó đến kinh tế - xã hội. Thông qua đề tài này, ta thấy được INDECO cũng đưa ra
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY INDECO
2.1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
2.1.1. Quan điểm và khái niệm về lạm phát
“Các nhà làm chính sách trong nước thay vì nhận chân vấn đề lại mở ra
những cuộc tranh luận một cách vô nghĩa…Cuộc tranh luận bắt đầu bằng việc đặt
vấn đề là quyền số chi tiêu của lương thực…Cuộc tranh luận chuyển sang tại sao
gọi tăng giá là lạm phát?”(Vũ Quang Việt, 2004)
Lạm phát chỉ bắt đầu được quan tâm và tính toán kể từ lúc nền kinh tế Việt
Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường vào năm 1986. Có rất nhiều quan điểm
khác nhau về lạm phát.
Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm sức mua của đồng tiền. Điều
này có nghĩa là “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cao khiến với
cùng một số lượng tiền, người tiêu dùng mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả
một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.
Milton Friedman đóng vai trò là người sáng lập ra trường phái tiền tệ cho
rằng “lạm phát ở mọi lúc mọi nơi luôn luôn là hiện tượng của tiền tệ”. Phát biểu này
đã không những tạo danh tiếng cho chính ông mà còn là danh tiếng cho trường phái
tiền tệ. Nhưng phát biểu này cũng thường được nhắc đến bởi không phải ai cũng vội
vàng tin rằng lạm phát chỉ đơn giản bắt nguồn từ cung tiền. Thực tế đã chứng minh
nhiều cuộc lạm phát xảy ra xuất phát từ một cú sốc bên ngoài nền kinh tế như cú
sốc dầu mỏ năm 1973-1974 và 1979-1980, hay xuất phát từ sự sụt giảm trong tổng
cung của nền kinh tế.
Theo quan điểm của J.M.Keynes thì lạm phát không phải là một hiện tượng
tiền tệ. Ông cho rằng “lạm phát là sự vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh
vực lưu thông tiền tệ, là sự phát hành tiền quá mức tạo ra cầu dư thừa thường
xuyên”. Lý thuyết Keynes là hệ thống lý luận kinh tế vĩ mô lấy tác phẩm Lý thuyết
tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (thường được gọi tắt là Lý thuyết tổng quát)
của J.M Keynes (1883-1948) làm trung tâm và lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền
ii
i
t
i
pq
pq
CPI
00
0
∑
∑
=
- Chỉ số điều chỉnh (GDP): là một chỉ số có mức độ bao phủ rộng nhất. Nó
bao gồm tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số
tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại
hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng và được tính theo công thức:
ii
t
i
t
i
t
pq
pq
GDP
0
∑
∑
=
Trong đó, q
2.1.3.1. Lạm phát cầu kéo (lạm phát do cầu)
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản
lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Trong thực tế khi lạm phát cầu kéo người ta
thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và khối lượng tín dụng tăng đáng kể và
vượt quá khả năng có giới hạn của mức cung hàng hóa. Như vậy, bản chất của lạm
phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hóa
có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng.
Tổng cầu: AD = C + I + G + X – M
Do các thành phần chi tiêu gia tăng (bao gồm các yếu tố C, I, G, X) làm cho tổng
cầu AD tăng, sản lượng tăng ít, còn giá tăng nhiều và gây ra lạm phát.
Mô hình:
Ban đầu nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng ở E(P
0
; Y
0
= Y
*
)
Bùi Thị Ngọc K42F4
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
Khi chính phủ sử dụng CSTK mở rộng hoặc do đầu tư tăng mạnh AD tăng -> AD’
Trạng thái cân bằng mới được xác định tại E’(P’; Y’)
Nền kinh tế có tăng trưởng (Y’> Y
0
= Y
*
) nhưng tốc độ tăng giá (P’>P
0
) hay lạm
A
S
AD’
AD
Y
E
E’
9
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
Hình 2.2. Lạm phát chi phí đẩy
2.1.3.3. Lạm phát dự kiến (lạm phát quán tính)
Là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến rằng nó sẽ tiếp tục xảy ra
trong tương lai. Tỷ lệ này thường được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các kế hoạch
hay là các thỏa thuận.
Khi dự kiến được trước những biến động của P, ngoài hoạt động kinh tế có
thể được điều chỉnh lại cho hợp lý như điều chỉnh mức lãi suất danh nghĩa, tiền
công danh nghĩa, giá trong hợp đồng kinh tế cũng phải được điều chỉnh lại.
Mô hình:
Khi P đầu vào tăng làm cho tổng cung AS giảm (AS->AS
1
->AS
2
). Khi đó, chính
phủ phải áp dụng các biện pháp để điều chỉnh và làm tăng tổng cầu AD với cùng
một tốc độ (AD->AD
1
->AD
2
). Lúc này, giá tăng một cách đều đặn từ P
0
- Từ phía Chính phủ: Do xử lý thâm hụt ngân sách, Chính phủ vay dân thông qua
phát hành trái phiếu nhưng vì thâm hụt kéo dài và tiền vay dân đến hạn phải trả nên
buộc Chính phủ phải in thêm tiền để chi trả. Khi đó có quá nhiều tiền trong lưu
thông vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sẽ dẫn đến lạm phát.
- Hay do sự dốc tiền để dành ra chi tiêu do tâm lý người dân trước cuộc sống bất ổn.
Khi đó, người dân thường dùng số tiền mặt cố đổ đi mua hàng vì lo sợ tiền mất giá.
Vì thế, cung tiền lớn hơn đột ngột và làm cho giá tăng nhanh vàgây ra lạm phát.
- Sự can thiệp quá lớn của ngoại tệ vào thị trường nội hóa làm cho đồng ngoại tệ
đóng vai trò nội tệ tạo ra cung tiền lớn và kết quả làm tăng giá nội hóa.
- Chính sách tiền tệ mở rộng sẽ kích thích tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong nền kinh
tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng cung, thì cũng
dẫn đến lạm phát.
Bùi Thị Ngọc K42F4
P
P
1
Y
P
AS
3
P
3
P
2
AS
2
AS
1
AD
1
Nội dung tóm tắt: Tranh luận về nguyên nhân gây ra lạm phát, quan điểm của các
trường phái kinh tế học khác nhau. Sử dụng mô hình P-STAR và kiểm chứng tính
thích hợp của nó đối với nền kinh tế Việt Nam thông qua công cụ kinh tế lượng. Từ
đó đưa ra những chính sách khả dĩ trong vấn đề kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
trong trung hạn.
- “Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp may mặc trên địa bàn Hà Nội”: LVF.000272- Trường Đại
Học Thương Mại.
Nội dung tóm tắt: Bài viết đưa ra một số lý luận liên quan và thực trạng về ảnh
hưởng của lạm phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty May 10, công
ty TNHH Minh Trí. Từ đó để đưa ra một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của lạm
phát đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội.
- “Học thuyết Keynes và suy thoái kinh tế”, đăng trên thời báo kinh tế Sài Gòn
online, thứ 2 ngày 09/02/2009.
Nội dung tóm tắt: Bài viết đã đưa ra lý thuyết tổng quát của J.M.Keynes làm trung
tâm và lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng. Nguyên lý cầu hữu hiệu
khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định. Do đó, vào
Bùi Thị Ngọc K42F4
12
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng
(tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền
kinh tế ra khỏi thời kỳ suy thoái. Từ đó để nhìn vào vận dụng nguyên lý kích cầu
của Keynes trong quá khứ và nền kinh tế hiện đại. Có rất nhiều những quan điểm
khác nhau xoay quanh việc vận dụng lý thuyết này trong nền kinh tế suy thoái.
- “Lạm phát hành trình và giải pháp chống lạm phát ở Việt Nam”: TS. Lê Quốc Lý,
xuất bản năm 2005.
Nội dung tóm tắt: Tác giả đã phân tích và tổng hợp những vấn đề lý luận và phương
pháp luận về lạm phát, về ổn định kinh tế vĩ mô, về tăng trưởng và phát triển, về
mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát. Ngoài ra, tác giả còn nêu kinh nghiệm
tùy thuộc vào mức độ dịch chuyển của tổng cung và tổng cầu mà sản lượng có thể
tăng hoặc giảm hoặc không đổi
Bùi Thị Ngọc K42F4
14
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
a. Y không đổi, P tăng
b. Y tăng, P tăng
Bùi Thị Ngọc K42F4
15
P
P
Y
P
AS
P’
AS’
AD
AD’
Y Y*
Y
P
P
Y
P
AS
P’
AS’
AD
AD’
Y’ Y*
thì cũng không theo kịp tốc độ tăng giá. (3) là các loại thuế lũy tiến như thuế thu
nhập sẽ tăng lên nhanh chóng vì lạm phát đẩy thu nhập dân chúng lên mức cao và
Bùi Thị Ngọc K42F4
P
P
Y
P
AS
P’
AS’
AD
AD’
Y Y*
Y
Y’
16
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
buộc phải chịu thuế suất cao hơn. Trong khi đó, mức thu nhập cao hơn có lúc chỉ bù
đắp cho việc tăng giá.
2.2.2.3. Đối với cơ cấu kinh tế
Lạm phát có thể làm thay đổi cơ cấu kinh tế do giá các loại hàng hóa không thay đổi
theo cùng một tỷ lệ. Giá tăng nhanh, làm tăng giá trị sản lượng tính theo giá hiện
hành. Nguồn sản xuất sẽ chảy về ngành đó làm tăng sản lượng của ngành. Đồng
thời sản lượng của ngành khác có thể giảm xuống. Kết quả là tỷ trọng của ngành có
giá tăng nhanh hơn sẽ cao hơn ngành có giá tăng thấp. Vì vậy, cơ cấu kinh tế thay
đổi.
2.2.2.4. Đối với hiệu quả kinh tế
- Làm biến dạng cơ cấu đầu tư: Khi lạm phát xảy ra, các doanh nghiệp không muốn
đầu tư vào những dự án có khoảng thời gian thu hồi vốn dài làm cho việc sử dụng
các nguồn lực của nền kinh tế trong dài hạn bị giảm sút và có thể làm cho tổng cung
kinh doanh những mặt hàng có giá tăng mạnh sẽ đem về mức doanh thu cao hơn;
ngược lại, những mặt hàng có mức độ tăng giá chậm hơn so với các mặt hàng khác
thì doanh thu lại có xu hướng giảm xuống.
Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ: đây là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất
đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, khối lượng tiêu thụ càng lớn thì
doanh thu đem về càng nhiều. Có thể nói, sự biến động lên xuống bất thường của
giá cả là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến việc tiêu thụ của doanh nghiệp.
Trong thời kỳ lạm phát, sự tăng lên quá nhanh của chỉ số giá có thể làm cho
những dự tính của doanh nghiệp trở nên sai lệch, những dự án đầu tư của doanh
nghiệp không mang lại kết quả như mong muốn; các kế hoạch kinh doanh bị thay
đổi liên tục cho phù hợp với những biến động của thị trường,… từ đó dẫn tới doanh
thu của doanh nghiệp cũng bị biến động theo, có thể tăng lên, giảm xuống hoặc
không đổi tùy vào sự ứng phó của từng doanh nghiệp.
Các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước như chính sách tài khóa, chính
sách tiền tệ, chính sách tiền lương,… Có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất, và ngược lại, có những chính
sách đã gây không ít khó khăn, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến hiệu quả và doanh thu của doanh
nghiệp.
2.2.3.2.Lạm phát và chi phí.
Lạm phát làm gia tăng chi phí của mọi thành phần trong xã hội cả về thời
gian và tiền bạc, đặc biệt là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lạm phát đã tác động
không nhỏ tới chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh, thể hiện qua một số khía
cạnh sau:
Bùi Thị Ngọc K42F4
18
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
Khó khăn trong huy động vốn: Do các ngân hàng tăng cường thắt chặt nguồn
vốn cho vay bằng cách tăng lãi suất cùng với việc ưu tiên các khoản vay lớn hơn để
giảm chi phí giao dịch khiến cho các doanh nghiệp phải chịu mức chi phí vốn tăng
chi phí). Ngoài ra, mục đích chính của hoạt động sản xuất kinh doanh lại là lợi
Bùi Thị Ngọc K42F4
19
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
nhuận sau thuế, mà các biểu thuế lại khó có thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất
ngờ của lạm phát. Do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế và khiến cho các
doanh nghiệp phải chịu mức thuế suất cao hơn. Kết quả là tỷ lệ lạm phát càng cao
thì lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp càng giảm.
2.2.3.4.Lạm phát và năng suất lao động.
Năng suất lao động chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: thời gian lao
động, trình độ thành thạo, kinh nghiệm, tinh thần làm việc, tiền lương và các chế độ
đãi ngộ khác,… Trong đó, chính sách tiền lương là một trong số những yếu tố chính
tác động đến năng suất lao động của doanh nghiệp, đặc biệt trong thời kỳ lạm phát
cao. Một chính sách tiền lương khoa học, hợp lý sẽ có tác dụng động viên, khuyến
khích công nhân viên chức phấn khởi, tích cực lao động, nâng cao năng suất và
ngược lại. Ngoài ra, tâm lý bất ổn trước thời cuộc khi mà giá cả sinh hoạt leo thang
từng ngày, đời sống gặp nhiều khó khăn cũng sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động
của nhân viên. Thêm vào đó, để giảm bớt khó khăn trong thời kỳ này, một số doanh
nghiệp đã chọn giải pháp cắt giảm số lao động, giảm chi phí tiền lương, dẫn tới tâm
lý bất an, lo lắng của những nhân viên còn lại trong doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng
đến hiệu quả và năng suất lao động.
2.2.3.5.Lạm phát và thị phần.
Trước tình hình lạm phát cao, khó khăn trong huy động vốn cùng với sự
chững lại của các dự án đã khiến nhiều doanh nghiệp phải điêu đứng, các dự án đầu
tư hay phát triển sản phẩm bị đình trệ, không mở rộng được sản xuất kinh doanh,
các hoạt động PR và quảng bá bị cắt giảm để tiết kiệm chi phí,… Đó là một số
nguyên nhân dẫn đến giảm thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên,
tùy thuộc vào khả năng nhạy bén, ứng phó cũng như quản trị của doanh nghiệp mà
có thể dẫn tới các kết quả khác nhau. Có doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ phải thu
hẹp sản xuất kinh doanh, ngừng hoạt động, thậm chí lâm vào phá sản; lại có doanh
nguyên vật liệu đầu vào. Theo đó, các khoản chi phí về vật tư, bao bì, xăng dầu,
điện nước, thuê cửa hàng, kho bãi, chi phí lao động,… đều tăng lên nhanh chóng,
làm tổng chi phí của doanh nghiệp tăng cao. Thêm vào đó, trong thời kỳ khó khăn
như vậy, các khoản chi phí về quảng cáo, PR, khuyến mại của doanh nghiệp không
những không thể cắt giảm mà còn phải tăng cường hơn nữa, rầm rộ hơn nữa để kích
cầu mua sắm, thu hút sự chú ý của khách hàng. Và đây là một trong những khoản
chi phí chiếm phần lớn trong tổng chi phí của các siêu thị, trung tâm điện máy lớn
hiện nay.
Lạm phát và lợi nhuận:
Doanh thu chỉ tăng ít hoặc giảm nhẹ, cộng thêm chi phí tăng cao khiến cho
lợi nhuận của doanh nghiệp trong thời kỳ lạm phát cao sẽ không tăng cao, thậm chí
Bùi Thị Ngọc K42F4
21
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
còn có thể giảm. Như vậy, tỷ lệ lạm phát càng cao thì tỷ suất lợi nhuận theo doanh
thu và chi phí của doanh nghiệp càng giảm.
Lạm phát và năng suất lao động:
Chính sách tiền lương là một trong số những yếu tố chính tác động đến năng
suất lao động của doanh nghiệp, đặc biệt trong thời kỳ lạm phát cao. Một chính sách
tiền lương khoa học, hợp lý, tức là đạt hiệu quả trong sử dụng chi phí tiền lương sẽ
tác động tích cực đến năng suất lao động và ngược lại.
Lạm phát và thị phần:
Cuộc cạnh tranh giữa các trung tâm điện máy lớn ngày càng trở nên gay gắt,
đặc biệt trong thời gian gần đây, khi mà thị trường rộng mở cho cả các doanh
nghiệp nước ngoài. Vì vậy, thị phần của các doanh nghiệp phân phối điện máy
trong nước đang bị đe dọa. Và vấn đề về thị phần càng trở nên khó khăn hơn khi mà
lạm phát tăng cao, đặc biệt là tăng đột biến như năm 2008. Một mặt, doanh nghiệp
vẫn phải giữ vững thị phần của mình bằng cách hình thức marketing, khuyến mãi
độc đáo, giảm giá sản phẩm để kích thích mua sắm, tăng doanh thu. Mặt khác, còn
phải tăng cường hệ thống kênh phân phối, đẩy mạnh tiêu thụ, mở rộng địa bàn hoạt
khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi lạm phát xảy ra. Và những ứng phó của
doanh nghiệp trước tình hình biến động đó.
- Cách tiến hành: mẫu phiếu phỏng vấn được phát cho 10 chuyên gia là những
trưởng, phó phòng kinh doanh trả lời. Kết quả thu về 10 phiếu hợp lệ
- Ưu, nhược điểm của phương pháp: có thể tìm hiểu rõ hơn tình hình kinh doanh,
ướng phó của doanh nghiệp. Nhưng vẫn mang tính chất chủ quan trong những
câu trả lời.
• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Cách tiến hành: sử dụng các nguồn dữ liệu trên internet, tạp chí và đặc biệt là
bảng báo các kết quả hoạt động kinh doanh của INDECO.
- Cách xử lý dữ liệu: từ những kết quả thu thập được ta chọn lấy những thông tin
cần thiết phục vụ cho vấn đề cần nghiên cứu.
Bùi Thị Ngọc K42F4
23
Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương mại
3.1.2. Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu
- Phương pháp thống kê, so sánh
- Phương pháp minh họa bằng các biểu đồ, đồ thị.
- Sử dụng phần mềm SPSS: là phần mềm ứng dụng trong phân tích thống kê, mô tả
và xử lý dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các phiếu điều tra.
3.2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ
MÔI TRƯỜNG
3.2.1. Tình hình chung của kinh tế thế giới trong thời gian gần đây
Theo số liệu chính thức của cơ quan thống kê Zimbabwe, tỷ lệ lạm phát tại
quốc gia châu Phi này là 66.000% trong năm 2007. Còn tính ở thời điểm tháng 3
năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở đây đã là 100.000% so với cùng kỳ năm ngoái. Lạm
phát ở Nga, Việt Nam, Argentina và Venezuela hiện đều đang ở mức 2 con số. Lạm
phát cũng đã bắt đầu xuất hiện tại Nhật Bản, đất nước xưa nay vốn chỉ biết tới giảm
phát (giá cả đi xuống). Tháng 2 vừa qua, lạm phát của Nhật là 1%, cao nhất trong
nhiều thập kỷ trở lại đây. Tại Trung Quốc, các cơ quan chức năng cũng đang hết
Dominique Strauss-Kahn nhận định: “Khả năng kinh tế thế giới tăng trưởng trở lại
vào năm 2010 là hoàn toàn có thể nếu các chính sách kinh tế tốt được áp dụng. Vấn
đề quan trọng nhất lúc này là cải thiện hệ thống tài chính”.
3.2.2 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Lạm phát là một căn bệnh thâm niên của nền kinh tế. Lạm phát vừa phải
thường được các nước cố gắng duy trì như một chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Ở Việt Nam cũng cố gắng duy trì lạm phát ở mức độ vừa phải nhưng tình
hình lạm phát diễn biến vô cùng phức tạp. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á
năm 1997, Việt Nam 2 năm liền rơi vào tình trạng giảm phát là năm 2000 và 2001
với mức -0,6%. Lạm phát dần quay trở lại từ năm 2004 với mức 9.5% do các chính
sách kích cầu mạnh mẽ cùng sự leo thang của giá nhiều mặt hàng trên thế giới. Năm
2005 là 8,4% tưởng chừng như đã có dấu hiêu suy giảm khi chỉ còn 6,6% trong năm
2006 thì Năm 2007, lạm phát tăng đến 2 con số độ 12,63% đã gây nên hoang mang
cho người dân và cả các nhà lãnh đạo đất nước. Lạm phát thực sự bùng nổ và thực
sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm 2008. Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 7 năm
2008 khi lên tới trên 30% (YoY). Kết thúc năm 2008, lạm phát lùi về còn 19.89%,
đây là mức cao nhất trong vòng 17 năm qua. Trong đó CPI của lương thực tăng cao
nhất và đạt 49.16%.
Lạm phát của nước ta vào quí I/2009 khoảng gần 14,5%, cả năm khoảng 7%
và dự báo mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy, tăng trưởng kinh tế
của Việt Nam trong năm 2010 ở mức 6%. Lạm phát có thể tăng từ 7% trong năm
2009 lên mức hai con số do tăng trưởng tín dụng mạnh trong thời gian gần đây. Giá
hàng hóa thế giới cao trở lại cũng sẽ tác động đến giá cả trong nước. Cũng có đồng
dự báo về lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới là HSBC (ngân hàng Hồng Kông
– Thượng Hải) đã cảnh báo “Với sự gia tăng của giá nguyên liệu đầu vào và giá
Bùi Thị Ngọc K42F4
25