PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I. LỜI NÓI ĐẦU:
Chính tả (chính: đúng, tả:viết, kể) theo cách hiểu trực tiếp là cách viết hợp
chuẩn (lối viết dúng duy nhất). Theo đó chính tả là hành động tiêu chuẩn hóa chữ
viết của một ngôn ngữ va øpho biến duy trì chuẩn mực này trong cộng đồng xã hội.
Chuẩn sẽ bao gồm tất cả các biểu hiện của chữ viết như: đường nét của các con
chữ biểu thò nguyên âm và phụ âm, cách đặt dấu thanh điệu, cách viết hoa, viết
tắt, cách thể hiện từ phiên âm tiếng nước ngoài.
Chính tả là một trong các phân môn của môn Tiếng Việt mang một ý nghóa
quan trọng đối với việc học tốt môn chính tả cũng như các môn học khác ở tiểu
học nói riêng và các cấp học khác nói chung. Do đó, việc nói và viết theo đúng
nguyên tắc chính tả,theo đúng đặc điểm chính tả mang một ý nghóa hết sức quan
trọng và cần thiết.
II. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG:
Vấn đề tìm hiểu nguyên nhân cũng như đưa ra một số biện pháp giúp học
sinh khắc phục các lỗi chính tả thường gặp mang một ý nghóa hết sức quan trọng.
Thật vậy, trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học là bậc học nền
tảng, xây dựng và phát triển trí tuệ, tình cảm đạo đức, thẩm mó, thể chất cho trẻ
em nhằm hình thành cơ sở ban đầu vững chắc cho sự phát triển toàn diện vềå nhân
cách cũng như trí tuệ của một con người. Trong đó Tiếng Việt (phân môn Chính
tả) góp một phần lớn trong sự hình thành và phát triển một cá nhân hoàn thiện.
Việc đưa ra một số biện pháp giúp học sinh tránh một số lỗi thường gặp giúp giáo
viên vận dụng vào công việc giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn trong các tiết dạy
cũng như học sinh (viết đúng hơn) học tốt hơn trong tiết học.
III. LÍ DO CHỌN ĐỀØ TÀI:
Về khách quan: Hiện nay trong trường Tiểu học, vấn đề sai lỗi chính tả của
học sinh là vấn đề cấùp thiết cần được quan tâm và đưa ra các biện pháp khắc
phục. Tại sao vậy? Chính tả là một phân môn của Tiếng Việt, góp một phần quan
trọng để học môn Tiếng Việt nói riêng và tất cả các môn học khác nói chung ở
Tiểu học cũng như ở các cấp học khác cao hơn. Học tốt môn Chính tả, các em sẽ
đọc đúng, viết đúng từ, câu từ đó em sẽ hiểu đúng văn bản cũng như để người
V. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Nghiên cứu đề tài này để tạo cơ sở cho bản thân dạy tốt hơn môn Chính tả
cũng như học sinh học tốt hơn môn Chính tả.
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG (GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ)
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
“Một số kinh nghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Chính tả" tạo cơ sở
ban đầu cho giáo viên trong quá trình dạy học và theo đó giúp học simh học tốt
hơn phân môn Chính tả.
Qua đề tài này, bản thân tôi mong muốn góp một phần nhỏ kinh nghiệm
của mình chia sẻ cùng đồng nghiệp đồâng thời muốn mhận được sự chia sẻ góp ý
chân thành từ các bạn đồng nghiệp để có thể có thêm kinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy.
II. THỰC TRẠNG :
Trong quá trình giảng dạy, được sự quan tâm tạo điều kiện của Ban Giám
hiệu Trường Tiểu học Phước Tín A, giáo viên có tài liệu hỗ trợ cho việc dạy môn
Chính tả. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy cũng gặp rất nhiều khó khăn :
Học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều, chưa có ý thức cao về viết chính tả và chưa
được sự quan tâm nhiều của gia đình cũng như do ảnh hưởng rất lớn của phương
ngữ (nói sao – viết vậy)
III. CÁC GIẢI PHÁP VẬN DỤNG
Trong quá trình giảng dạy chính tả nói riêng và các môn học khác nói
chung, để khắc phục một thực trạng nào đó cần tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến
thực trạng đó. Theo đó để đưa ra các biện pháp giúp học sinh khắc phục lỗi chính
tả, trước hết giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân học sinh viết sai lỗi chính tả (sai
chỗ nào và do đâu).
1. Nguyên nhân học sinh sai lỗi chính tả ở Tiểu học .
Xét về nguyên tắc xây dựng chính tả :
Nguyên tắc ngữ âm học : Đây là những nội dung đònh hướng cơ bản cho
việc viết. Nó xuất phát từ thói quen tự nhiên của con người trong quá trình tiến
hành các thao tác với chữ viết. Nội dung của nguyên tắc này là phát âm như thế
Với những nét riêng trong nguồn gốc lòch sử hình thành mà chữ viết hiện
nay vẫn còn tồn tại nhiều biểu hiện gây khó khăn cho người viết. Điển hình là do
cảm nhận ngữ âm không chính xác nên một âm thanh (âm vò) đã được biểu thò
bằng nhiều hình thức con chữ khác nhau. Qua đó tạo ra sự bất cập cho chính chữ
viết : đọc giống nhau, viết khác nhau.
Các trường hợp một âm nhiều chữ viết :
a) Âm đầu :
c d
/k / q / z /
gi
ng
g / /
/ / ngh
gh
o
b. m đệm : / w /
u
c. m chính : i a a
/i/ /ă/ / /
y ă e
â
Có 3 nguyên âm đôi: uô iê ươ
/ uo / / / / /
ua yê ưa
i ng
o / i / / /
d. Âm cuối: / u / y nh
u
c
/ k /
mẹo chính tả giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát có hệ thống.
Tóm lại, phát huy tính có ý thức trong dạy học chính tả sẽ tiết kiệm được thì
giờ và mang lại kết quả nhanh chóng, chắc chắn, cụ thể (có thể kiểm tra ngay)
hơn nữa còn gây được hứng thú cho học sinh.
b . Nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực và phương pháp tiêu cực
(xây dựng cái đúng loại bỏ cái sai ).
Bên cạnh phương pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả,
hướng dẵn học sinh luyện tập nhằm hình thành các kó xảo chính tả) cần phối hợp
phương pháp tiêu cực (đưa ra những trường hợp viết sai chính tả, hương dẫn học
sinh phát hiện sửa lỗi, rồi từ đó hướng học sinh đi đến cái đúng). Nói cách khác,
việc hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả cần tiến hành đồng thời với việc
hướng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trong các bài viết.
c. Nguyên tắc dạy học chính tả theo vùng phương ngữ :
Đây là nội dung giảng dạy chính tả phải sát hợp với phương ngữ. Nói cách
khác phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu
vực, từng vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy, phải xacù đònh được trọng
điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực.
Bên cạnh việc áp dụng các nguyên tắùc dạy học chính tả trong quá trình
giảng dạy, giáo viên cần đưa ra một số phương pháp giúp học sinh viết đúng
chính tả trong từng tiết học. Cụ thể :
2.1. Ghi nhớ mặt chữ của từ :
Đây là một biện pháp đòi hỏi người học phải có tính kiên trì bền bỉ bởi nó
yêu cầu nhiều thời gian công sức nhưng kết quả nó hình thành biểu tượng vững
chắc về chữ viết cho học sinh. Với phương pháp này đòi hỏi người học phải đọc
nhiều viết nhiều để nhớ được chính xác hình thức con chữ trong từng trường hợp
cụ thể. Muốn vậy, giáo viên cần động viên học sinh dành nhiều thời gian hơn cho
việc viết cũng như đọc thêm sách báo để cho các em tiếp xúc nhiều với chữ viết
từ đó tạo cơ sở để nói đúng viết đúng đặc biệt là các tiếng có vần khó như : quét ,
quanh, khúc khuỷu, ngoèo…
2.2. Cung cấp cho học sinh đầy đủ qui đònh chính tả mang tính pháp lệnh Nhà
phải viết hoa theo quy tắc trên. VD : Hai Bà Trưng, Ông Gióng …
Tương tự tên đòa lí có cấu tạo một danh từ chung và một danh tù riêng kết hợp
các từ chỉ phương hướng như Đông, Tây, Nam, Bắc được coi là một tổ hợp chỉ tên
riêng và phải viết hoa con chữ cái đầu của tất cả các âm tiết.VD : Đèo Ngang,
Tháp Rùa, vùng Đông Bắc, miền Tây Nam Bộ …
Ở một vài trường hợp mà các từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật được
lâm thời dùng làm tên riêng của nhân vật, lúc này cũng chỉ viết hoa con chữ cái
đầu tạo thành tên riêng. VD: bác Gấu, anh Cần Cẩu
- Viết hoa tên cơ quan, tổ chức đoàn thể xã hội :
+ Theo quy đònh sẽ viết hoa con chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và của các âm
tiết đầu của bộ phận tạo thành tên riêng. VD: Uỷ ban Dân số Kế hoạch Gia
đình,Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…
+ Tên của các chức vụ danh hiệu cao quý mà nhà nước phong tặng cho các cá
nhân khi cần viết hoa để bày tỏ ý kính trọng của người viết thì cũng viết hoa theo
quy tắc này: Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,Ngài Tổng Bí thư Liên hợp quốc…
c.2 Viết hoa tên riêng không phải tiếng Việt : Bao gồm tên riêng được biểu thò
trong các từ có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài hoặc tiếng các dân tộc thiểu số.
- Tên các dân tộc thiểu số ở Việt Nam sẽ được viết hoa các chữ cái đầu của tất
cả các âm tiết trong trường hợp nó đã được phát âm theo hệ thống ngữ âm tiếng
việt: Ha øNhì, Sán Diều… Riêng các từ biểu thò tên riêng, tên đòa lí thuộc các dân
tộc thiểu số nếu có cấu tạo đa âm tiết và các âm tiết này đọc liền nhau thì chỉ viết
hoa con chữ cái đầu tiên và sử dụng dấu ngang nối giữa các âm tiết : Vương quốc
Chăm- pa, đồng chí Y Ngông Niếc-đăm…
- Trường hợp các tên riêng nước ngoài:
+ Nếu tên riêng đã được phiên âm theo cách đọc Hán Việt thì sẽ viết giống tên
Việt Nam: Tây Ban Nha, Ba Lan ….
+ Trường hợp phiên âm trực tiếp và viết theo sát với cách đọc : Viết hoa con chữ
cái đầu đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó và sử dụng dấu ngang nối giữa
các âm tiết : Vờ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, Phi-đen Ca-xtơ-rô
+ Tên cơ quan tổ chức nước ngoài chủ trương là dòch nghóa sang tiếng Việt để viết
Anh Ngang, Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào?
(Phan Ngọc)
b.2. Luật hỏi ngã trong từ Hán Việt :
Quy luật xuất hiện : Nếu một từ Hán Việt được bất đầu bằng mộ trong các phụ
âm: m, n, nh, v, l, d, ng thì phần lớn chúng đựoc viết là dấu ngã: mó học, ngũ
quả,tham nhũng, vó nhân, lễ nghi, diễn giải,
Trường hợp các âm tiết Hán Việt không thuộc về tồn tại phụ âm trên, phần lớn
chúng sẽ mang dấu hỏi: ảo, ảnh, bảo tàng, quản lí…
Quy tắc trên được tổng kết bằng câu:
Mình nên nhớ viết là dấu ngã.
c.Phân biệt d/gi:Một số quy tắc:
c.1. Trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt: Trường hợp xuất hiện của d / gi có liên quan
đến sự tồn tại của âm đệm, âm (dờ) xuất hiện trước âm đệm phải viết là d : doạ,
duyệt, doanh, duy, duyên…
c.2. Trong từ Hán Việt :
- Nếu một từ mang dấu ngã hoặc dấu nặng mà có phụ âm đầu là (d) thì phần lớn
sẽ viết thành con chữ d :dạ hội, diễn viên…
- Nếu một từ mang dấu sắc hoặc dấu hỏi thì sẽ viết là con chữ gi : giảng giải, giá
cả …
- Nếu một từ mang thanh ngang hoặc thanh huyền căn cứ vào một trong hai biểu
hiện sau :
Sau nó là nguyên âm( a) thì viết là gi : gia đình, giang sơn …
Sau nó không phải là nguyên âm( a) thì viết là d : di cư, diêm vương…
c.3 Trong từ láy : d và gi không bao giờ láy với nhau.
Ở từ láy có hai mô hình :
- d-d : dai dẳng, dòu dàng, du dương…
- gi-gi : giỏi giang , gìn giữ, giàn giụa ,gióng giả…
2.3. Luyện phát âm chuẩn trên cơ sở đó viết đúng chính tả và vận dụng các
mẹo luật chính tả.
Muốn viết đúng chính tả cần phát âm đúng. Khắc phục và sửa chửa cách
VD2:Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
( Nguyễn Khuyến )
*/ Căn cứ vào các quy tắc sau :
- Khả năng kết hợp của “l” và ”n” trong cấu trúc âm tiết có âm đệm hoặc
không có âm đệm: “l” đứng trước âm đệm còn “n” thì không (trừ tiếng noãn): loa,
loan, luật…
- Khả năng cấu tạo từ láy với các âm tiết bắt đầu bằng “l”, “n”:
+ “l” và “n ” láy âm với nhau trong một từ láy:”l” có thể láy với nhiều phụ âm
khác (trừ n): lạnh lùng, lo lắng, lâm thâm… “n” thì ngược lại chỉ láy với chính nó
mà thôi, không láy với bất kì phụ âm nào khác: no nê, não nề, nao núng …
+ Trong các từ láy vần chỉ có “l” đứng ở dầu âm của tiếng thứ nhất còn “n” thì
không: lò dò, liên miên, loắt choắt, lướt thướt… cũng theo đó xét ở tiếng thứ hai thì
“n” chỉ có thể xuất hiện khi đầu của tiếng thứ nhất là “gi” hoặc tiếng thứ nhất
không có âm đầu: gian nan, áy náy, ảo não…ngược lại,”l”xuất hiện với nhiều âm
đầu khác của tiếng thứ nhất lảng bảng, khéo léo, cheo leo…
+ Dựa vào hiện tượng đồng nghóa hoặc gần nghóa để viết đúng chính tả: những từ
có từ đồng nghóa bắt đầu bằng “nh” thì viết âm đầu là “l”: nhài-lài,nhỡ-lỡ,nhầm-
lầm,nhố nhăng-lố lăng,nhấp nháy-lấp láy, nhem nhuốc-lemluốc…Những từ có từ
gần nghóa bắt đầu bằng “đ” thì viết âm đầu là “n” : này-đây, nọ-đó, nào-đâu…
Phân biệt “ch” và”tr” mẹo luật để rèn luyện và sửa chữa:
- Khả năng kết hợp của “ch” và “tr” trong cấu trúc âm tiết có âm đẹm hoặc
không có âm đệm: nếu trong âm tiết có oa, oă, oe, thì âm tiết đó chỉ có thể có âm
đầu là “ch” (không viết là tr).(Trừ trường hợp âm đệm “u” đứng trước “y” hoặc
“yê”: truy, truyền trong các âm tiết HánViệt)
- Khả năng cấu tạo từ láy :
+ “ch” và “tr”không láy âm đầu với nhau trong một từ láy.
+ Trong từ láy vần trừ vài từ viết là “tr”(trót lọt, trọc lóc, trụi lũi, trẹt lét) còn lại
+Viết x trong một số trường hợp: chỉ tên thức ăn , đồ dùng nấu nướng:xôi, xúc
xích…,chỉ sự nhỏ đi,sút đi: xì, xẹp, nhỏ xíu…
Hiện tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy trường Tiểu học Phước Tín A nên
trong đề tài này tôi chỉ tập trung 1 số biện pháp sửa lỗi cho học sinh lớp 4. Trong
quá trình giảng dạy, tôi phát hiện một số lỗi mà học sinh thường hay mắc phải
như: sai phụ âm đầu (v/d/gi); sai âm chính (o/ô); sai âm cuối (n/ng; n/nh; t/c); sai
dấu thanh (hỏi/ngã).
Các lỗi mà học sinh mắc phải trong quá trình viết chính tả hầu hết là do ảnh
hưởng của phương ngữ. Ngay từ ban đầu, bản thân là giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi
luôn luôn hướng theo chuẩn phát âm: phát âm chuẩn và hướng cho học sinh có
thói quen phát âm theo chuẩn phát âm. Đây là một trong những biện pháp được
tôi áp dụng thường xuyên, liên tục trong quá trình lên lớp. Trong biện pháp này,
đòi hỏi một thời gian dài và sự kiên trì nỗ lực cố gắng của cả giáo viên lẫn học
sinh. Nói viết theo chuẩn ngôn ngữ không chỉ trong giờ học chính tả.
Ngoài việc cung cấp một cách đầy đủ các quy luật quy tắc chính tả, đối
với học sinh của mình ( chủ yếu phát âm theo phương ngữ Nam Bộ ) trong các bài
tập chính tả lựa chọn, tôi lựa chọn những kiểu bài mà học sinh dễ sai, dễ lẫn do
ảnh hưởng của phương ngữ mình.
*/ Đối với các loại lỗi: o/ô; n/nh: cho học sinh làm các bài tập dạng điền tiếng
chứa âm vần đó vào đoạn văn, thơ. VD: Tìm những chữ bò bỏ trống trong mẫu
chuyện sau chứa o hoặc ô:
Người không biết cười.
Nhà văn Mó nổi tiếng Mác Tuên rất có khiếu khôi hài. Ai đã dự những buổi nói
chuyện của ông thì không thể nào không bật cười vì những câu nói dí …….
những mẩu chuyện …… hỉnh. Nhưng trong một lần gặp gỡ …
.chúng. Mác Tuên rất ngạc nhiên thấy một ông già suốt buổi không thèm nhếch
mép, mặc dù ai nấy cười ngả cười nghiêng. Mãi đến lúc ra về, Mác Tuên mới biết
ông gia đó bò điếc từ mấy năm rồi. Ông dự buổi… …. Chuyện chỉ vì muốn
biết mặt nhà văn…… tiếng.
( TV4 Tập 2. T 134 )
quê.
- Diều bay, diều lá tre bay lưng trời. Sáo tre, sáo trúc bay lưng trời… … đưa
tiếng sáo, ,… ……nâng cánh……
( TV4 Tập 1, T38 )
Trong trường hợp này, học sinh dễ lẫn sự xuất hiện của các âm trong từ do
đó ngoài việc cho học sinh làm nhiều dạng bài tập như trên cần chú ý đến biện
pháp chuẩn phát âm cho học sinh (cho học sinh phát âm nhiều lần giữa các trường
hợp các em sai).Trên cơ sở của việc phát âm đó cung cấp cho học sinh một cách
đầy đủ về nghóa của từ và sự xuất hiện của nó trong từng trường hợp cụ
thể.VD:Sửa lỗi nhầm lẫn của 2 tư:ø lan/ lang. Đầu tiên, cho học sinh phát âm
chuẩn để phân biệt 2 tiếng sau đó cho học sinh nhận diện sự khác biệt của 2 tiếng
cũng như sự xuất hiện của chúng trong các trường hợp khác nhau:
Lan: Mở rộng dần phạm vi ra trên một bề mặt(lan man, lan toả, lan truyền, lan
tràn );
Lang: có từng đám loang lổ trên bộ lông hoặc ngoài da;thầy thuốc đông y (lang
băm, lang ben…)
Trong quá trình giảng dạy, tôi còn cho học sinh làm cuốn sổ tay chính tả để
ghi những lỗi sai của mình (ghi từ viết sai và sửa đúng ngay bên cạnh) đồng thời
cho học sinh làm dạng bài tập tập phát hiện và sửa lỗi trong bài chính tả của
mình.
VD: Tập phát hiện và sửa lỗi trong bài chính tả của em. Ghi các lỗi và cách sửa
từng lỗi vào sổ tay chính tả của :
M: Lỗi nhầm lẫn s/x
Viết sai Viết đúng
xắp lên xe sắp lên xe
Lỗi nhầm lẫn hỏi/ngã:
Viết sai Viết đúng
tưỡng tượng tưởng tượng
Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy cần chú ý đến các nguyên tắc dạy học chính
tả (nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức và chính tả không có ý thức, nguyên tắc
cách cấu âm của âm vò mắc lỗi so sánh với cách cấu âm chuẩn từ đó viết
đúng chính tả.
- Phát âm theo đúng chữ viết chính tả.
- Để rèn luyện phát âm hiệu quả, giáo viên cần khắc phục tư tưởng tự ti
ngại khó cho học sinh tạo cho học sinh ý thức rèn luyện thường xuyên và lâu
dài.Người giáo viên phải kiên trì mềm dẻo, không nóng vội, cần phải xây
dựng không khí lớp học sôi nổi tươi vui để các em ngày càng hào hứng, yêu
thiùch học môn chính tả hơn.
- Khuyến khích cho học sinh giúp nhau sửa lỗi chính tả trong từng bài viết
của từng tiết học.
rên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi trong việc rèn luyện và
sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4 mà tôi đã áp dụng và thấy đem lại hiệu
quả nhất đònh trong quá trình dạy học của mình. Kính mong Ban lãnh đạo các cấp
và các đồng nghiệp xem xét và góp ý chân thành để đề tài của tôi được hoàn
thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
T
Phước Tín, ngày 20 tháng1 năm 2009
Người thực hiện:
NHẬN XÉT VÀ XẾP LOẠI
Ý kiến nhận xét của Tổ chuyên môn
Xếp loại: