1
ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG - KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM
THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG:
2
Đối với bất cứ quốc gia nào, hoạt động ngân hàng (NH) luôn là huyết mạch của nền kinh tế, sự
ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trong việc ổn định và phát
triển nền kinh tế đất nước. Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng vốn cho
sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định và lành mạnh hệ thống
ngân hàng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội (trong đó có chi tiêu của
Chính phủ và tiêu dùng của cá nhân và doanh nghiệp) cũng phải được lành mạnh hóa. Người vay
tiền sử dụng đồng vốn không hiệu quả, những khó khăn đó cũng sẽ đổ dồn gánh nặng cho ngân
hàng. Chính vì vậy, tái cấu trúc ngân hàng đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền
kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009) xuất phát từ
việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh
giá lại toàn bộ hoạt động của các NH. Việc tái cấu trúc NH trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi
quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh
nặng về vốn còn dồn lên vai NH, thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải
đặc biệt quan tâm.
Trước những biến động phức tạp thời gian gần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát
triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền
kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước
là 3 trụ cột trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Cho đến nay, Việt Nam đã có 5 NHTM Nhà nước (mặc dù một số NH đã được Cổ phần nhưng
Nhà nước chiếm giữ cổ phần chi phối), 1 NH Chính sách xã hội, 1 nh phát triển, 37 NHTMCP,
48 chi nhánh NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 48 văn phòng đại
diện NH nước ngoài, 17 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1 QTDTW với 24 chi
định đảm bảo giám sát chặt chẽ cũng như phân khúc thị trường để đảm bảo cho các NH
này hoạt động hiệu quả.
Nhóm 3, là nhóm NH đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải cầu trúc lại. NHNN
sẽ tham gia giám sát chặt chẽ, yêu cầu các NH lớn sẽ tham gia mua cổ phần, tham gia vào
quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư; mua lại hoặc hợp nhất, sáp nhập
nếu cần.
Phương châm của quá trình tái cơ cấu là không để NH nào đổ vỡ, đảm bảo quyền lợi của người
gửi tiền và khách hàng của NH. Đây cũng là nguyên tắc được Chính phủ đảm bảo trong quá trình
tái cơ cấu các NH.
Các ngân hàng thương mại Việt nam đang và sẽ phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do
chất lượng tài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị
và về quản lý rủi ro. Do vậy, Chính phủ cần phải nhanh chóng đưa ra được chương trình tái cơ
cấu ngành để giúp các ngân hàng không bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán do khánh
kiệt về vốn và khôi phục năng lực của hệ thống ngân hàng giúp thúc đẩy nền kinh tế nhanh hồi
phục
Trong năm năm gần đây nhờ có chính sách cởi mở của Chính phủ, hệ thống ngân hàng Việt nam
đã tăng trưởng mạnh kể cả về quy mô tài sản và số lượng các ngân hàng. Tính đến ngày
31/12/2010, theo NHNN, tổng tài sản trong hệ thống đã lên tới hơn 3,5 triệu tỷ VND (175 tỷ
USD) và dự nợ cho vay ở mức 125 tỷ USD tương đương với 120% GDP của nền kinh tế (Thái
lan: 100%, Hàn Quốc 80%). Đây là một mức nợ cao báo động so với cung bậc hiện tại của kinh
tế Việt Nam.
Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn rất nhiều so với GDP (30% năm trong ba năm từ
2008 đến 2010), các ngân hàng đã tạo ra một lượng cung tiền cực kỳ lớn ra nền kinh tế và hậu
quả là lạm phát cao. Các doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn rẻ trước đó đã đầu tư tràn lan
kém hiệu quả và vấn đề nợ xấu đang là vấn đề thời sự nhất của ngành ngân hàng.
Nới lỏng chính sách đã làm gia tăng cạnh tranh trong ngành và làm tăng giá trị sản phẩm dịch vụ
cho khách hàng, nhưng không khuyến khích được các ngân hàng phát triển một cách thận trọng
và bền vững. Các ngân hàng đã huy động một khối lượng vốn khổng lồ và tăng trưởng ồ ạt hoạt
động tín dụng trong khi nhiều ngân hàng mới thành lập chưa có đủ chuyên môn, công nghệ và
nhân sự tốt để quản lý hiệu quả nguồn vốn và quản lý tốt rủi ro. Ngành ngân hàng được coi là
khoảng 65- 100% vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng của Trung Quốc. Tức là nếu hệ
thống ngân hàng Trung Quốc không được tái cấu trúc về vốn hay tăng vốn, thì các ngân hàng sẽ
mất gần hết vốn tự có trong một vài năm tới. Tại Châu Âu, tỷ lệ tổng nợ NPL tại Cộng hòa Ailen
là EUR 109 tỷ chiếm 20% tổng dư nợ. Tại Tây Ban Nha, các ngân hàng đã hạch toán lỗ từ nợ
NPL lên đến tới 9% GDP.
Thứ hai, mặc dù nhiều ngân hàng của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu
(Capital Adequacy Ratio “CAR”) trên 8% nhưng trên bình diện chung, tỷ lệ CAR này cũng rất
khác nhau giữa các ngân hàng và nhóm ngân hàng.
Quan trọng hơn, tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếu như hạch toán đúng dự phòng cho các
khoản nợ NPL. Lý do là chất lượng tài sản suy giảm làm cho chi phí dự phòng gia tăng, làm ăn
mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn tự có. Theo số liệu của StoxPlus, vốn chủ sở hữu của 43
ngân hành thương mại (không tính ngân hàng phát triển và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài)
là 276 ngàn tỷ đồng (khoảng 14 tỷ USD) vào thời điểm 30/12/2010.
5
Việc rà soát cụ thể và chính sác khả năng mất vốn của hệ thống ngân hàng là cấp thiết hơn bao
giờ hết. Chúng ta chỉ có thể biết được tình hình tài chính và vốn thực tế của các ngân hàng sau
khi thực hiện xong công tác rà soát này.
Thứ ba, liên quan đến vấn đề thanh khoản, các diễn biến về cuộc đua lãi suất gần đây của các
ngân hàng đã cho thấy những khó khăn về thanh khoản của hệ thống và nó đã phản ánh vào mức
lãi suất qua đêm lên đến hơn 20% trong đầu tháng 10/2011. Theo biểu đồ đường cong lãi suất
dưới đây, các ngân hàng đã sẵn sàng trả lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài dạn và các ngân
hàng phải huy động vốn bằng mọi giá để giải tỏa tạm thời vấn đề căng thẳng về luồng tiền.
Vấn đề thanh khoản của hệ thống còn thể hiện ở việc nhiều cán bộ tín dụng tại nhiều ngân hàng
cũng được giao nhiệm vụ đi tiếp thị trực tiếp khách hàng để huy động vốn tiết kiệm. Rất hiếm
như ở Việt Nam, người gửi tiết kiệm lại được “mặc cả” với ngân hàng về lãi suất.
Trên thị trường quốc tế, khi Lehman Brothers phá sản vào thời điểm tháng 10/2008, thị trường
tiền tệ hoảng loạn các ngân hàng không còn tin tưởng nhau nữa và dừng cho vay lẫn nhau hoặc
đòi lãi cao, lãi suất LIBOR qua đêm đã tăng lên đến 8% trong khi đó lãi suất LIBOR kỳ hạn 6
tháng chỉ có 3%.
KINH NGHIỆM CÁC GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
Theo số liệu báo cáo, tổng các khoản NHNN cho các ngân hàng thương mại vay vào thời điểm
31/12/2010 là 210 ngàn tỷ đồng (US$10 tỷ), nếu không tính các khoản vay cho các ngân hàng
quốc doanh và bán quốc doanh thì tổng dư nợ cho vay là 87 ngàn tỷ đồng (US$4.3 tỷ).
Theo kinh nghiệm của Thái Lan năm 1998, Chính phủ Thái bắt tất cả các ngân hàng phải hạch
toán đầy đủ dự phòng cho các khoản nợ xấu vào chi phí (xóa nợ hay writeoff) và qua đó giảm
vốn chủ sở hữu. Khi đó các ngân hàng có vốn chủ sở hữu rất thấp so với trước khi xóa các khoản
nợ xấu.
Cũng như phương án 1.1 nhưng điểm hay của phương án này là sau khi writeoff thì vốn chủ sở
hữu của các ngân hàng sẽ rất thấp và khi đó rất có lợi cho Chính phủ. Ví dụ nếu trước khi hạch
toán vốn của ngân hàng cần tái cấu trúc và 1.000 tỷ thì Chính phủ góp thêm vốn 200 tỷ thì chỉ
chiếm 20%. Tuy nhiên nếu nợ xấu của ngân hàng này cần writeoff là 800 tỷ thì vốn sau khi điều
chỉnh chỉ còn 200 tỷ. Khi đó Chính phủ Thái bơm thêm 200 tỷ vào vốn điều lệ tức là đã được sở
hữu 50% ngân hàng này.
Đây đã được xem là biện pháp rất cứng rắn của Chính phủ Thái Lan trước sức ép của Ngân hàng
Thế giới WB và Quỹ tiền Tệ Quốc tế IMF, những đơn vị tài trợ chính cho cuộc tái cấu trúc này.
Giải pháp 1.3: Vốn đối ứng (Matching Fund Scheme)
Chính phủ tiến hành rà soát và xác định nhóm ngân hàng “xấu” cần phải tái cấu trúc và lúc đó
Chính phủ sẽ khuyến khích nhà đầu tư từ bên ngoài. Đây là hình thức đồng tài trợ hay đầu tư. Ví
dụ nếu nhà đầu tư bỏ 1.000 tỷ vào tăng vốn cho ngân hàng nào đó gặp khó khăn thì Chính phủ
cũng cam kết góp vốn thêm 1.000 ngàn tỷ để vực dậy ngân hàng này. Vốn này thường được
dùng từ các quỹ đặc biệt do Chính phủ lập ra để tái cấu trúc ngành.
7
Giải pháp 1.4: Mở rộng room sở hữu nước ngoài trong thời gian nhất định
Đây là biện pháp mà Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng thành công. Một số ngân hàng được
tăng hạn mức cho nhà đầu tư nước ngoài (room) lên mức rất cao, ví dụ 75% từ mức 30% hiện tại
của Việt Nam, để nhà đầu tư mới có thể vào kiểm soát, chi phối và vực dậy trong khoảng thời
gian 10 năm. Cổ đông nước ngoài phải cam kết sau thời hạn 10 năm thì phải giảm tỷ lệ sở hữu
của họ xuống mức theo luật định thông qua việc bán lại cho cổ đông trong nước hoặc chỉ phát
hành cho cổ đông trong nước để giảm tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Đây là biện pháp mà Ngân hàng
Nhà nước có thể tính để nhằm thu hút nhà đầu tư nước ngoài trong khoảng thời gian khó khăn
GBP 35.000 (US$55.000) lên GBP 85.000 (US$ 135.000) sau khủng hoảng tài chính năm 2008.
Tại Philiphines, mức bảo bảo hiểm tiền gửi là 500.000 peso (US$12.000).
Nhóm giải pháp 4: Nhóm giải pháp chính sách
8
Cải thiện về môi trường kinh doanh, quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro, v.v. Đây là nhóm
các giải pháp mang tính lâu dài và đòi hỏi sự đồng bộ. Ví dụ tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
muốn thành công thì phải tái cấu trúc cả hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là khối các doanh
nghiệp nhà nước, các vấn đề về mất cân đối về kỳ hạn cho vay và huy động, v.v. Đây là các rất
học búa trong mọi chương trình cải tổ bởi nó không đơn thuần là các vấn đề về mặt kỹ thuật tài
chính. Bài viết này không đi sâu vào các vấn đề mang nặng tính định tính này
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM
GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Ngành nghề kinh doanh của VCB: Bao gồm (Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
công ty cổ phần số 0103024468 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.Hà Nội cấp ngày 02 tháng 6 năm
2008):
1. Hoạt động chính là dịch vụ tài chính:
Trọng tâm là hoạt động ngân hàng thương mại với lĩnh vưc truyền thông là ngân hàng
bán buôn (kinh doanh phục vụ khách hàng doanh nghiệp)
Hoạt động ngân hàng bán lẻ:
o Hoạt động trong lĩnh vực tiêu dùng
o Dịch vụ cho vay gắn với bất động sản – cho vay cầm cố, cho vay mua nhà…
o Kinh doanh dịch vụ tài chính phục vụ khách hàng thể nhân…
Bảo hiểm:
o Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
o Bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm…
Ngân hàng đầu tư:
o Kinh doanh và đầu tư chứng khoán
o Hoạt động quản lý tài sản/quỹ đầu tư…
o Dịch vụ tư vấn mua, bán, chia tách, sáp nhập công ty…
sở áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất, duy trì vai trò chủ đào tạo tại Việt Nam và trở
thành một trong 70 định chế tài chính hàng đầu Châu Á vào năm 2015 – 2020, có phạm
vi hoạt động quốc tế.
NHTMCP NTVN xác định chiến lược phát triển tập trung vào các nội dung:
Tiếp tục đổi mới và hiện đại hóa toàn diện mọi mặt hoạt động - bắt kịp với trình độ khu
vực và thế giới;
Tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế sẵn có của NHNT cũng như của các cổ đông mới –
phát triển, mở rộng lĩnh vực hoạt động một cách hiệu quả theo cả chiều rộng và chiều
sâu.
2. Sứ mạng kinh doanh của VCB
Luôn mang đến cho khách hàng sự thành đạt
Bảo đảm tương lai trong tầm tay của khách hàng
Sự thuận tiện trong giao dịch và các hoạt động thương mại trên thị trường
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VCB
10
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, NHNT chính thức được thành lập theo Quyết định
số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sở
tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là NHNN).
Theo Quyết định nói trên, NHNT đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu
tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối
ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác
(vận tải, bảo hiểm ), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ
gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh
toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)
Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản
lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân
hàng Trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống
đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo mô
hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng
(27%), giao dịch ngoại tệ (chiếm 1/3 khối lượng thanh toán ngoại tệ của toàn Việt Nam),
phát hành thẻ tín dụng (40%) và thẻ ghi nợ nội địa (33%).
• Là một trong 4 ngân hàng (NH) quốc doanh hàng đầu Việt Nam, đứng thứ 3 về tổng tài
sản và thứ 2 về lợi nhuận (tính đến 9/2007).
• Thị phần thanh toán nhập khẩu của VCB luôn được duy trì ở mức từ 20%-30% toàn thị
trường.
NỘI DUNG THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU VIETCOMBANK:
Về tỷ lệ nợ xấu: chỉ số NPL năm 2010 của VCB là: 2,8%, thấp hơn chỉ số ngành (3,1%).
Tuy nhiên, việc cải thiện hệ số này là một điều cần thiết. Theo các chuyên gia thì các
khoản cho vay tập đoàn Vinashin ước tính khoản 3.000 tỷ đồng hiện được ghi nhận như
khoản nợ thông thường (chưa phải nợ xấu). Vì vậy, chúng tôi đề xuất cải thiện tỷ lệ nợ
xấu như sau:
- Kiểm soát chất lượng tín dụng:
+ Chuyển hướng tập trung cho vay bán lẻ.
+ Đa dạng hóa thành phần cho vay, không quá tập trung vào một ngành hoặc một
vài khách hàng lớn.
- Cải thiện các quy định về nợ xấu để đánh giá trung thực nợ xấu dựa vào chất
lượng khoản vay chứ không chỉ dựa vào lịch sử trả nợ.
- Thành lập công ty chuyên xử lý tài sản xấu.
Về vốn tự có: chỉ số CAR của VCB là: 8,37%, cao hơn mức quy định của NHNN nhưng
dưới mức tối thiểu quy định của chuẩn mực quốc tế (IFRS). Các đề xuất:
- Kêu gọi đầu tư của các tổ chức nước ngoài bằng cách bán bớt lượng cổ phần của
Nhà nước hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây cũng là cách để VCB cải thiện
khả năng cạnh tranh, trình độ quản lý.
- Mua lại, sáp nhập với các Ngân hàng khác để tăng quy mô để có thể cạnh tranh
với các Ngân hàng nước ngoài.
Vấn đề về thanh khoản:
- Tăng chất lượng dịch vụ khách hàng để giữ chân khách hàng gửi tiền. Giao chỉ
tiêu đến từng nhân viên.
- Nâng cao công nghệ để khuyến khích người dân thanh toán không dùng tiền mặt: