LỜI MỞ ĐẦU
Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ trung và dài hạn đã xuất hiện từ
rất sớm trên thế giới. Những lợi ích to lớn mà nó đem lại cho việc tài trợ và đầu
tư đã giúp cho ngành cho thuê phát triển hết sức nhanh và mạnh mẽ. Bởi lẽ cho
thuê tài chính chủ yếu là cấp tín dụng cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn
có nhu cầu mở rộng đầu tư phát triển sản xuất nhưng không đủ điều kiện để vay
vốn từ các Ngân hàng Thương Mại. Vì thế họ tìm đến tín dụng thuê mua bởi đây
là một hình thức tài trợ đơn giản, nhưng lại có tính an toàn và hiệu quả cao.
Những lợi thế đó đã mang lại một ý nghĩ vô cùng to lớn đối với Việt Nam một
quốc gia mà các chủ thể kinh tế chủ yếu có quy mô còn hạn chế và việc tiếp xúc
với các nguồn tài trợ còn khó khăn.
Tuy có một ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng ngành cho thuê tài chính lại
thâm nhập vào Việt Nam khá muộn và chưa được biết đến rộng rãi bởi các
doanh nghiệp kinh doanh do họ vẫn còn thói quen vay vốn từ Ngân hàng
Thương mại. Với một số lượng công ty cho thuê tài chính còn hạn chế, đối tượng
cho thuê, tài sản cho thuê và các loại hình nghiệp vụ cho thuê còn chưa đa dạng,
việc quản lý cho thuê còn nhiều bất cập do đó chưa thể đáp ứng được nhu cầu
thuê tài sản của các tổ chức và cá nhân.
Theo thời gian thì hoạt động cho thuê tài chính cũng dần khẳng định được
vị trí của mình trong nền kinh tế, đồng thời với việc Việt Nam ra nhập WTO
năm 2006 đã mở ra cho ngành cho thuê cả những thử thách cũng như những cơ
hội mới. Thực tế cho thấy nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất của các tổ chức, cá
nhân ngày càng tăng lên đó là một cơ hội vàng để mở rộng quy mô hoạt động
Chuyên đề tốt nghiệp
cho thuê, đồng thời có thể học hỏi được những kinh nghiệm của các công ty cho
thuê tài chính nước ngoài để tự hoàn thiện mình. Tuy nhiên, Một lực lượng công
ty cho thuê tài chính nước ngoài có nguồn lực hùng hậu và kinh nghiệm lâu đời
sẽ là một trở ngại to lớn đối với các công ty cho thuê tài chính trong nước. Đứng
trước thách thức và cơ hội đó, Đề tài " Mở rộng tín dụng thuê mua tại công ty
cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam" được lựa chọn với hi
vọng đóng góp ý kiến để mở rộng hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam.
quốc gia có ngành kinh doanh cho thuê sớm nhất với Công ty cho thuê đầu tiên
là Orient Leasing Corporation được thành lập năm 1973. Tiếp đó, Hoạt động này
dần xuất hiện tại Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonexia. Đầu những năm 80 thì cho thuê
tài chính đã phát triển ở hầu khắp các nước Châu Á.
Hiện nay nghiệp vụ cho thuê tài chính được cung cấp không chỉ bởi các
công ty mà còn do các Ngân hàng thương mại (NHTM), bởi mục tiêu của các
NH này là trở thành một tập đoàn tài chính đa năng với nhiều ngành nghề kinh
doanh trong đó có dịch vụ cho thuê. Hoạt động này được coi là một trong các
nghiệp vụ tín dụng nhằm cung cấp vốn trung và dài hạn cho các chủ thể kinh tế
trong và ngoài nước. Nhằm tạo ra sự chuyên môn hoá cho hình thức tín dụng
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
này, ngân hàng thương mại đã thiết lập cho mình các công ty trực thuộc để kinh
doanh ngành cho thuê phong phú và đa dạng này, nhằm mục đích mở rộng mạng
lưới, phát triển sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng tín dụng ngày
càng tăng của các doanh nghiệp và cá nhân.
1.2KHÁI NIỆM CHO THUÊ VÀ CÁC HÌNH THỨC CHO THUÊ.
1.2.1 Khái niệm cho thuê.
Cho thuê là một giao dịch được ràng buộc bởi hợp đồng giữa hai chủ thể -
bên chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản, trong đó bên chủ sở hữu tài sản
chuyển giao tài sản cho bên đi thuê trong một thời gian nhất định và bên sử dụng
tài sản phải thanh toán tiền thuê và thực hiện một số nghĩa vụ khác như bảo
dưỡng tài sản, sử dụng tài sản theo quy định hợp đồng cho bên chủ sở hữu tài
sản.
1.2.2 Đặc điểm cho thuê.
Là thỏa thuận giữa bên thuê và bên đi thuê. Từ đó phát sinh sự tách rời
quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng tài sản, tức là bên cho thuê có quyền sở
hữu tài sản, còn bên đi thuê có quyền sử dụng tài sản trong thời hạn thuê.
Bên đi thuê có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu trong thời
sản.
Trách nhiệm bảo trì,
đóng bảo hiểm..
Bên cho thuê Bên đi thuê.
Quyền chọn mua Hợp đồng không quy định
quyền chọn mua
Hợp đồng có quy định
quyền chọn mua
Trách nhiệm đối với
rủi ro
Bên cho thuê chịu phần lớn
rủi ro trừ rủi ro do lỗi bên
đi thuê gây ra.
Bên đi thuê chịu phần lớn
rủi ro, kể cả rủi ro không
phải do mình gây ra.
1.2.4 Lợi ích của tài trợ cho thuê.
1.2.4.1 Lợi ích đối với nền kinh tế.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
∗ Hoạt động cho thuê góp phần tích cực vào việc huy động vốn,
hỗ trợ nền kinh tế phát triển.
Nghiệp vụ cho thuê có mức độ rủi ro thấp hơn so với các hình thức tài trợ
vốn khác, phạm vi và điều kiện tài trợ rộng rãi hơn các hình thức tín dụng khác
nên đã có tác dụng thu hút vốn tạm thời của các thành phần kinh tế, cá nhân và
nhất là khuyến khích các định chế tài chính trung gian để đầu tư vốn kinh doanh.
Tín dụng thuê mua còn là một kênh thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài thông qua
việc các công ty cho thuê tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các tổ chức
tài chính tín dụng quốc tế.
∗ Bên đi thuê không cần phải thế chấp tài sản hay ký quỹ bảo
đảm.
Đặc trưng của phương pháp này là người sử dụng tài sản được quyền sử
dụng và hưởng dụng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tài sản đó trong một
thời gian nhất định.Còn người cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu đối với tài sản.
Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không
đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước.
∗ Thủ tục thuê đơn giản và thuận tiện.
Trên góc độ của tổ chức tín dụng, thủ tục thuê cơ bản tương tự như thủ tục
vay vốn Ngân hàng do thuê tài chính về cơ bản cũng là một hình thức tín dụng
trung và dài hạn.
Trên góc độ doanh nghiệp, thủ tục xét duyệt dự án thuê tài chính trong
một số trường hợp đơn giản hơn so với thủ tục lập dự án vay vốn ngân hàng. Lý
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
do cơ bản là công ty cho thuê tài chính vẫn giữ được quyền sở hữu đối với tài
sản trong suốt thời hạn thuê và không có thủ tục liên quan đến tài sản đảm bảo.
∗ Thuê tài chính đáp ứng được nhu cầu tài trợ 100% giá trị thiết
bị cho doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý công ty cho thuê tài chính có thể tài trợ đến 100% vốn đầu
tư thiết bị cho thuê. Với ưu điểm này, tín dụng thuê mua đã khuyến khích các
doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cả chiều rộng lẫn chiều sâu, làm tăng năng lực
sản xuất của doanh nghiệp cũng như toàn nền kinh tế nói chung.
∗ Phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt.
Công ty cho thuê tài chính có thể thiết kế nhiều chương trình cho thuê với
cách thức thanh toán tiền thuê khác nhau phù hợp với dòng tiền của dự án và khả
năng của bên thuê trong khi phương thức thanh toán tiền thuê của ngân hàng
thường cứng nhắc hơn. Bên thuê có thể được phép thanh toán ít tiền thuê vào
thời gian đầu của dự án khi dòng tiền chưa nhiều và thanh toán tiền thuê nhiều
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp
đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với bên đi thuê là
khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục
thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong
thời hạn thuê các bên không được đơn phương chấm dứt hợp đồng.
1.3.2 Tiêu chí của một giao dịch cho thuê tài chính.
Theo ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế ( IASC ) thì bất cứ một giao dịch
thuê mướn nào thỏa mãn một trong bốn điều kiện sau sẽ được coi là giao dịch
cho thuê tài chính:
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
− Quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển giao cho người thuê khi kết thúc
hợp đồng.
− Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với mức giá tượng trưng
tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.
− Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời hạn hữu dụng của tài sản.
− Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do người thuê trả tương đương
hoặc lớn hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.
1.3.3 Phân loại cho thuê tài chính.
1.3.3.1 Các loại cho thuê tài chính cơ bản.
∗ Cho thuê tài chính hai bên.
Theo phương thức này, trước khi thực hiện nghiệp vụ cho thuê, tài sản cho
thuê đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê bằng cách mua tài sản hoặc tự xây
dựng.
∗ Cho thuê tài chính ba bên.
Theo phương thức này, bên cho thuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo
yêu cầu của bên đi thuê và đã được hai bên thỏa thuận theo hợp đồng thuê. Quy
trình tài trợ có sự tham gia của ba bên bao gồm: Bên đi thuê, bên cho thuê và bên
cung cấp.
Khi người cần tài sản muốn đi thuê nhưng không thể trực tiếp thực hiện từ
những bên cho thuê chuyên nghiệp. Trong trường hợp đó đòi hỏi phải áp dụng
phương thức cho thuê giáp lưng. Đó là phương pháp mà trong đó thông qua sự
đồng ý của bên cho thuê chuyên nghiệp, bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ
hai thuê lại tài sản đó.
Bên đi thuê thứ nhất chỉ là trung gian giữa bên cho thuê và bên đi thuê thứ
hai nhưng về mặt pháp lý thì bên đi thuê thứ nhất phải chịu trách nhiệm về việc
thực hiện hợp đồng với bên cho thuê.
1.4 CHO THUÊ VẬN HÀNH
1.4.1 Khái niệm cho thuê vận hành.
Cho thuê vận hành (Cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản
trong thời gian ngắn thường là một năm., theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho
thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho
Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản. Bên cho thuê giữ quyền sở hữu
tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng.
1.4.2 Tiêu chí của một giao dịch cho thuê vận hành.
Thuê vận hành là một thỏa thuận thuê thoả mãn điều kiện sau:
− Có thời hạn ngắn hơn nhiều so với đời sống hữu ích của tài sản.
− Tổng số tiền mà người thuê phải trả cho người cho thuê nhỏ hơn nhiều so
với giá gốc của tài sản.
− Người thuê có quyền hủy ngang sau khi báo trước với người cho thuê
trong khoảng thời gian đã thỏa thuận.( thường rất ngắn ).
− Người cho thuê phải chịu toàn bộ chi phí vận chuyển, bảo trì, bảo hiểm
mọi rủi ro, thiệt hại không phải do người thuê gây ra.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
1.5NỘI DUNG CỦA CHO THUÊ.
1.5.1 Chủ thể tham gia trong nghiệp vụ cho thuê.
1.5.1.1 Bên đi thuê
+ Cho thuê tài chính.
+ Mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính ( tái cho thuê).
+ Tư vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến cho thuê tài chính.
+ Thực hiện các nghiệp vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến
cho thuê tài chính.
∗ Bên cho thuê có quyền:
Kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản cho thuê.
Mua và nhập khẩu tài sản cho thuê theo yêu cầu bên thuê và nắm giữ
quyền sở hữu tài sản thuê trong suốt thời hạn cho thuê.
Yêu cầu bên thuê đặt tiền ký cược hoặc yêu cầu bảo lãnh cho hợp đồng.
Yêu cầu bên thuê bồi thường thiệt hại khi bên thuê vi phạm hợp đồng cho
thuê tài chính.
∗ Bên cho thuê có nghĩa vụ:
Kí hợp đồng mua tài sản với bên cung ứng theo điều kiện thỏa thuận giữa
bên cho thuê và bên đi thuê. Bên cho thuê không chịu trách nhiệm về việc tài sản
cho thuê không được giao đúng với điều kiện đã thỏa thuận với bên đi thuê.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Đăng ký quyền sở hữu, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản cho thuê.
Thực hiện đầy đủ, đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng.
1.5.1.3 Nhà cung cấp
Là bên cung cấp tài sản cho bên thuê theo hợp đồng mua bán với bên cho
thuê. Trong trường hợp mua rồi cho thuê lại thì nhà cung cấp chính là bên cho
thuê. Thông thường nhà cung cấp là các nhà sản xuất hay các công ty kinh doanh
mua bán máy móc thiết bị.
Nhà cung cấp có trách nhiệm trước bên đi thuê bởi những ràng buộc trong
trường hợp mua bán với bên cho thuê về các điều khoản chủng loại, chất lượng,
thời hạn giao hàng, bảo hành, bảo trì…
Nhà cung cấp không có trách nhiệm với bên đi thuê do không có quan hệ
− Chi phí quản trị chung: bao gồm tất cả các loại chi phí biến đổi và chi
phí cố định trong quản lý của văn phòng công ty thuê mua tài chính được phân
bổ cho thiết bị cho thuê và một tỉ lệ nhất định để dự phòng cho khoản tiền đã chi
tiêu cho giao dịch thuê mua đó.
− Khoản dự phòng cho trường hợp không thu hồi được vốn tài trợ: độ
lớn của khoản dự phòng cho sự thiệt hại do không thu hồi được vốn tài trợ xác
định dựa trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động cho thuê trước đó.
− Lợi nhuận biên: Phụ thuộc vào mức lợi nhuận trên vốn tài trợ. Mức lợi
nhuận này chịu sự chi phối của yếu tố cạnh tranh tại khu vực thị trường đang
diễn ra giao dịch.
− Giá trị còn lại: Tuỳ theo giá trị còn lại của tài sản thuê mà người cho thuê
tính toán mức giá cho phù hợp. Nếu tài sản được chuyển giao cho người thuê vào
thời điểm kết thúc hợp đồng với mức giá tượng trưng hay hoàn toàn miễn phí, thì
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
16
Chuyên đề tốt nghiệp
người cho thuê thường định giá cao hơn so với tài sản được chuyển giao với giá
trị thị trường hay trả lại cho người cho thuê, bởi trong giá thuê có bao hàm tiền
mua phần giá trị còn lại.
Lãi suất cho thuê, thời hạn cho thuê và kì hạn cho thuê.
Lãi suất cho thuê tài chính được tính toán trên cơ sở lãi suất cho thuê
trung và dài hạn và tỷ lệ phí. Như đã phân tích ở trên, tỷ lệ phí trong cho thuê tài
chính thường cao hơn các loại hình tài trợ khác. Do vậy, lãi suất luôn phải điều
chỉnh tùy vào đối tượng khách hàng và tài sản cho thuê. Mặt khác, lãi suất cho
thuê luôn phải phù hợp với các quy định vĩ mô ví như áp dụng lãi suất cố định
hoặc áp dụng mức lãi suất thả nổi. Đồng thời đó cũng là mức thỏa thuận giữa hai
bên trong hợp đồng.
Thời hạn cho thuê tài chính là khoảng thời gian tính từ thời điểm bên
thuê nhận nợ tiền thuê tài chính cho đến khi trả hết nợ tiền thuê đã được thỏa
thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Thời điểm nhận nợ tiền thuê tài chính
giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động. Do đó việc mở rộng
cho thuê tài chính là một vấn đề hết sức cần thiết.
Để mở rộng cho thuê tài chính thì cần phải hội tụ được các điều kiện:
∗ Sự phát triển của thị trường cho thuê tài chính được thể hiện ở
cung và cầu về tín dụng thuê mua.
Về phía cầu: thể hiện ở nhu cầu thuê tài sản là động sản hoặc bất động sản
tăng lên giành cho mục đích mở rộng kinh doanh hoặc cho mục đích tiêu dùng
và sinh hoạt. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu này ngày càng
tăng lên.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Về phía cung: Thể hiện ở bản thân tiềm năng của công ty cho thuê tài
chính. Đó chính là tình hình tài chính lành mạnh của công ty, khả năng huy động
nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu tài trợ, khả năng quản lý
hoạt động cho thuê cũng như khả năng cung ứng các nghiệp vụ cho thuê đối với
khách hàng
∗ Hệ thống những văn bản pháp luật quy định hoạt động cho thuê
tài chính.
Một khi những quy định và hướng dẫn mang tính pháp lý rõ ràng và cụ
thể, không có sự chồng chéo trong các văn bản pháp luật, thì đó làm một điều
kiện giúp cho ngành cho thuê tài chính phát triển, các tổ chức kinh doanh trong
ngành cho thuê tài chính có cơ sở để cung ứng các dịch vụ cho thuê mà không
gặp phải những khó khăn trong xử lý nghiệp vụ và xử lý những tranh chấp.
∗ Sự phát triển của thị trường đồ cũ.
Khi thị trường đồ cũ phát triển, Doanh nghiệp cho thuê sẽ có thị trường để
phát mại hoặc thanh lý tài sản cho thuê đã qua sử dụng dễ dàng hơn, nhờ đó thu
được tiền để bù đắp vốn thâm hụt, từ đó có nguồn để tiếp tục tài trợ dự án khác.
∗ Tính liên kết giữa công ty cho thuê tài chính và nhà cung cấp
phải chặt chẽ hơn.
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ mở rộng cho thuê nhanh hay chậm.
Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ < 0 : công ty đã thu hẹp cho thuê.
Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ > 0: công ty đã mở rộng cho thuê.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Nếu tốc độ tăng trưởng kỳ sau lớn hơn tốc độ tăng trưởng kỳ trước thì
phản ánh việc mở rộng cho thuê ngày càng nhanh.
1.6.3.2 Số lượng khách hàng đến thuê.
Số lượng khách hàng bao gồm cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.
Đây là chỉ tiêu phản ánh bởi một con số tuyệt đối sao cho số lượng khách hàng
kỳ này cao hơn số lượng khách hàng kỳ trước có mối quan hệ tín dụng với Công
ty. Chỉ tiêu số lượng khách hàng là chỉ tiêu phản ánh mở rộng về quy mô, số
lượng khách hàng càng nhiều có nghĩa là công ty đã đáp ứng được nhu cầu vốn
của nhiều cá nhân và tổ chức hơn.
1.6.3.3 Thị phần cho thuê của công ty.
Khi nghiên cứu về mở rộng cho thuê cần phải nghiên cứu thị phần công ty
để có được đánh giá bao quát. Trên cùng địa bàn hoạt động công ty cạnh tranh
với công ty khác. Nếu các chỉ tiêu dư nợ, tỷ trọng cho thuê, tốc độ dư nợ hay số
lượng khách hàng các kỳ đều tăng so với kỳ trước nhưng xét trên địa bàn lại bị
giảm thị phần ( giả sử công ty luôn thường xuyên chiếm % thị phần nhưng trong
kỳ nghiên cứu thị phần cho thuê giảm xuống) thì không thể được kết luận mở
rộng cho thuê hoàn toàn. Điều này chứng tỏ các công ty khác đang gia tăng cạnh
tranh trong thu hút khách hàng đến với thuê tài sản.
1.6.3.4 Lợi nhuận.
Mục tiêu hoạt động của Công ty là kinh doanh đem lại lợi nhuận có thể vì
vậy bất cứ hoạt động nào của công ty cũng cần phải đảm bảo được. Mở rộng cho
vay không phải chỉ cần gia tăng dư nợ, gia tăng số lượng khách hàng mà là phải
đảm bảo khoản cho thuê đó sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, để có lợi nhuận
qua các kỳ.
Chuyên đề tốt nghiệp
Mặt khác cơ cấu vốn huy động được cũng có ảnh hưởng: nếu nguồn vốn
huy động được chủ yếu là ngắn hạn thì công ty bị hạn chế lớn trong hoạt động
cho thuê tài chính, vì vậy công ty mà vay được nguồn vốn trung và dài hạn thì
tạo thuận lợi cho công tác cho thuê vì bản chất của nghiệp vụ cho thuê là tín
dụng trung và dài hạn.
∗ Quy trình, thủ tục, phương thức cho thuê của công ty.
Mỗi đối tượng khách hàng khác nhau đều có đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh, trình độ quản lý khác nhau dẫn đến nhu cầu vay vốn mà công ty đặt
ra cũng khác nhau. Vì thế quy trình, thủ tục cho thuê cần được xây dựng phù
hợp, trung hòa được hai mục tiêu là an toàn và tạo điều kiện thuận lợi cho khách
hàng, áp dụng linh hoạt đối với mỗi khách hàng trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
∗ Mạng lưới chi nhánh công ty và đội ngũ cán bộ công ty.
Mạng lưới chi nhánh, đại lý, phòng giao dịch là nơi mà thu hút khách hàng
đến với công ty nên đó là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến mở rộng cho
thuê. Khách hàng sẽ có điều kiện để tiếp xúc với phương thức cho thuê tài sản
tốt hơn là những công ty không có mạng lưới rộng.
Ngoài ra việc mở rộng mạng lưới công ty không chỉ thể hiện ở việc mở
thêm nhiều chi nhánh mới mà còn được thể hiện ở việc cán bộ công ty đến từng
địa bàn, tiếp xúc với khách hàng, phổ biến về hoạt động mới mẻ này, hướng dẫn
tận tình cho cá nhân và tổ chức có nhu cầu vay vốn. Quan trọng hơn đó là thái độ
phục vụ, hiểu biết của các cán bộ, nhân viên của cả công ty, vì đây là những
người gây ấn tượng với khách hàng.
1.6.4.2 Các nhân tố từ phía khách hàng.
∗ Nhu cầu thuê tài sản của khách hàng.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhu cầu thuê của khách hàng ảnh hưởng đến giá trị của tài sản cho thuê,
nó có thể là giảm dư nợ cho thuê hoặc làm tăng dư nợ cho thuê. Không những
∗ Các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn.
Trên cùng một địa bàn thường có rất nhiều các công ty cho thuê tài chính
cùng hoạt động và tập trung tại những trung tâm lớn. Vì thế sự cạnh tranh giữa
là khốc liệt trong việc chiếm lĩnh thị trường và tạo uy tín đối với các doanh
nghiệp. Đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì việc mở rộng cho thuê càng khó khăn.
Vì thế công ty cho thuê tài chính cần có nhiều dịch vụ tiện ích, có chính sách tín
dụng phù hợp hơn như lãi suất cho thuê, thời hạn cho thuê cần phải linh hoạt thì
mới có khả năng vượt qua được đối thủ cạnh tranh.
Vũ Thị Mai Ngân Tài chính doanh nghiệp 45B
25