BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
_________________
TRẦN THANH NGUYÊN
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TIỀN GIANG
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NGỌC OÁNH
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là nhờ sự động viên, giúp đỡ và hướng dẫn
tận tình của quý thầy cô giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học khóa 15, của quý thầy
cô ở Phòng Khoa học Công nghệ – Sau Đại học và các bạn học viên lớp Cao học
Tâm lý học khóa 15 trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, của Ban
Giám hiệu và các thầy cô giáo ở các khoa, phòng trường Đại học Tiền Giang, của
các bạn đồng nghiệp và sinh viê
n các lớp đại học khóa 06 trường Đại học Tiền
Giang. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô và các bạn học viên đã
động viên, giúp đỡ, cộng tác để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Đặc biệt, tác giả mong muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc gởi đến thầy giáo
– Phó Giáo sư Tiến sĩ BÙI NGỌC OÁNH – người đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ và
hướng dẫn chu đáo để tác giả hoà
n thành bản luận văn này.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBGV:
Cán bộ giáo viên
LTQĐTD:
Lây truyền qua đường tình dục
KHHGĐ:
Kế hoạch hóa gia đình
NSP:
Ngành ngoài sư phạm
SKSS:
Sức khỏe sinh sản
SP:
Ngành sư phạm
SV:
Sinh viên
SVSP:
Sinh viên ngành sư phạm
SVNSP:
Sinh viên ngành ngoài sư phạm
UNICEF:
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
UNFPA:
của nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới các vấn đề về SKSS trở thành vấn
đề nổi cộm ở nhiều nước. Hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15
đến 19 tuổi sinh con,
chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra trên tòan thế giới. Trong số các
trường hợp mắc các bệnh lây qua quan hệ tình dục cứ 20 người mắc bệnh thì có 1 người ở
lứa tuổi vị thành niên và 1/2 trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV/AIDS là những người
dưới tuổi 25. Ở Việt Nam hiện nay, cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến SK
SS
vị thành niên . Tình trạng nạo, phá thai ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên ngày một gia
tăng.
Ở Việt Nam, kể từ Hội nghị Quốc tế “Dân số và phát triển”, hàng loạt các cuộc nghiên
cứu về SKSS đã được thực hiện. Hướng nghiên cứu SKSS ở nhóm dân số trẻ (15–24 tuổi)
cũng mới thực sự được quan tâm và phat triển trong thời gian gần đây. Trong đó, các công
trình nghiên cứu về nhận thức sức khỏe sinh sản của sinh viên đại học nhất là ở khối ngành
sư phạm cũng còn ở gi
ai đoạn khởi đầu. Đây là việc làm cần thiết để chuẩn bị cho sinh viên
đương đầu với những vấn đề của cuộc sống liên quan đến SKSS của họ. Thêm nữa, sự hiểu
biết thiếu đầy đủ, đúng đắn về SKSS có
thể đẩy các sinh viên vào nguy cơ tình dục không
lành mạnh, không an toàn; có thể đẩy các bạn gái vào nguy cơ có thai ngoài ý muốn hoặc
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS Nhận thức của lớp trẻ trong
khu vực về các vấn đề SKSS bao gồm tình dục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh
thai, quan hệ tình dục an toàn còn nhiều hạn chế. “Ở Việt Nam, theo thống kê có 40%
thanh thiếu niên cho biết rằng họ không hiểu gì về các biện phá
p tránh thai” [5,tr.12]. Sự
thiếu hiểu biết chung về quá trình sinh sản và bản năng sinh dục của con người cùng với
quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng ngày một tăng khiến lớp trẻ phải đối mặt với
các nguy cơ nói trên.
Cung cấp thông tin và giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục có thể giúp cho
trong công tác tại đơn vị cũng như thực hiện tốt hơn vai trò của cộng tác viên tại trung tâm
tư vấn.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Tiền Gia
ng về sức khỏe
sinh sản; từ đó đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho
sinh viên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
3.2. Thực trạng nhận thức của sinh viên trường đại học Tiền Giang về SKSS
3.3. Đề xuất một số biện pháp cơ bản góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên
trường đại học Tiền Giang về SKSS
4. Giới hạn đề tài
4.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài này chỉ nghiên cứu mức độ nhận thức
của sinh
viên trường đại học Tiền Giang về SKSS
4.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chủ yếu ở đối tượng là sinh
viên đại học với số lượng là 332 sinh vin thuộc khoa sư phạm, khoa cơ bản thuộc năm thứ
nhất.
4.3. Giới hạn về không gian nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu sinh viên thuộc hệ
đào tạo chính quy, học tại cơ sở chính và cơ sở 1 của trường.
5. Kh
ách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục SKSS cho sinh viên hệ đại học chính quy thuộc khoa sư phạm
và khoa cơ bản năm thứ nhất trường đại học Tiền Giang.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của sinh viên trường đại học Tiền Giang về SKSS.
6. Giả thuyết khoa học
Bên cạnh đó còn khảo sát:
- Đánh giá của SV về nhận thức SKSS
- Nguyê
n nhân ảnh hưởng đến nhận thức của SV về SKSS.
- Mức độ ảnh hưởng của các nguồn thông tin giúp SV có hiểu biết về SKSS.
- Các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của SV
Cấu trúc bảng hỏi: Bảng hỏi được xây dựng dựa vào các nội dung cơ bản về
SKSS tập trung vào việc biết, hiểu và vận dụng của SV. Trong đó có các câu hỏi là các tình
huống giả định để tìm hiểu khả năng vận dụng kiến t
hức về SKSS của SV.
7.2.1.3. Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của SV trường đại học Tiền Gang về
SKSS, chúng tôi thực hiện khảo sát trên toàn bộ SV hệ đại học chính quy thuộc năm thứ I ở
hai khoa Sư phạm và khoa Cơ bản (Vì trường đại học Tiền Giang mới tuyển sinh đại học từ
năm học 2006 – 2007), gồm SV của 5 lớp: Toá
nA, ToánB, Ngữ văn (thuộc khoa Sư phạm)
và Quản trị Kinh doanh, Tài chánh Kế toán (thuộc khoa Cơ bản).
- Tổng số phiếu phát ra: 360 phiếu
- Tổng số phiếu thu vào: 332 phiếu
- Số phiếu hợp lệ là 332 phiếu và được phân bố như sau:
Lớp Nam Nữ Tổng cộng
Đại học ToánA 18 21 39
Đại học ToánB 18 22 40
Đại học Ngữ văn 10 28 38
Đại học Quản trị kinh doanh 40 32 72
Đại học Tài chánh Kế toán 34 109 143
Cộng 120 212 332
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) là vấn đề khá mới mẻ, lý thú, nhạy cảm. Vấn đề
này đã thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Chính vì vậy, từ việc nhận
thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục dân số cho thế hệ trẻ, và kể từ sau Hội nghị
quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD), chương t
rình
dân số chuyển hướng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dân số, trong đó trọng tâm là
nội dung chăm sóc SKSS. Hầu hết các nghiên cứu về SKSS ở các nước trên thế giới và ở
Việt Nam thường hướng về đối tượng thanh, thiếu niên và nhất là vị thành niên và thường là
học sinh ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Có t
hể nói, việc nghiên cứu SKSS nói chung và nghiên cứu SKSS vị thành niên
đã được tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phát triển nhưng thường được
gọi với những tên gọi khác nhau chẳng hạn như sức khỏe vị thành niên hay giới tính, tình
dục thanh thiếu niên. Có lẽ, kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại
Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD) khi đã có định nghĩa ch
ính thức về SKSS thì việc nghiên
cứu SKSS nhất là cho đối tượng thanh thiếu niên đang là “mối quan tâm của không những
các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ được đẩy
lên một trình độ mới”[27,tr.426].
Hướng nghiên cứu SKSS trong đối tượng thanh thiếu niên ở nước ngoài thường
tập trung nghiên cứu về những vấn đề cụ thể, nhạy cảm của SKSS như vấn đề nạo phá thai,
sinh đẻ sớm, vấn đề qua
n hệ tình dục trước hôn nhân, các bệnh LTQĐTD đã cho chúng ta
thấy những “như những con số biết nói” thật bất ngờ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
“hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn. Ở Châu Phi thai nghén ngoài
dự định dao động từ 50% - 90% trong số vị thành niên chưa chồng và 25% - 40% trong số
vị thành niên có chồng” [27,tr.428].
Theo các nghiên cứu ở nhiều nơi trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đã chỉ
Đáp ứng chương trình hành động quốc tế và thực hiện chiến lược quốc gia về dân số
và chăm sóc SKSS, ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động giáo dục dân số
cũng đã chuyển hướng sang giáo dục S
KSS nói chung và SKSS cho vị thành niên nói riêng.
Theo đó đã có hàng loạt các cuộc nghiên cứu về SKSS đã được thực hiện. Đặc biệt hướng
nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi về SKSS ở nhóm dân số trẻ từ 15 tuổi đến 24 tuổi
cũng mới thực sự được quan tâm và phát triển trong những năm gần đây cùng với quá trình
hội nhập và đổi mới. Mặc dù c
òn khá mới mẻ nhưng chúng ta đã sớm nhận ra vị trí quan
trọng của giai đoạn 10 -19 tuổi (trong đó có đối tượng SV) trong quá trình phát triển của
cuộc đời mỗi con người. Do vậy, chỉ hơn mười năm qua cùng với sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước, sự vào cuộc của các nhà khoa học, sự hỗ trợ về mặt tài chính và khoa học của các
tổ chức quốc tế, đã có hàng c
hục công trình và đề tài nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của
SKSS nói chung và SKSS vị thành niên nói riêng. Tuy nhiên, các nghiên cứu đa phần
thường được tiếp cận dưới góc độ Y tế - bệnh học và thời gian qua chúng ta cũng chưa có
một dự án nào một cách toàn diện với quy mô quốc gia về SKSS vị thành niên.
- Điều tra về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) mang tính chất rộng lớn
vào năm 2003 do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, , WHO thực hiện đã mô
tả tương đối đa
dạng về các mối quan hệ bạn bè, SKSS và vấn đề tình dục; quan niệm, thái độ, hành vi và
trải nghiệm của thanh thiếu niên về các vấn đề SKSS. Đồng thời, cũng qua báo cáo điều tra
đã nêu lên nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về SKSS như nhận thức về 4 chủ đề
SKSS: Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD); Hiểu biết về chu kỳ kinh
nguyệt; Nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai; Việc sử dụng bao ca
o su.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đề xuất và thử nghiệm giải pháp đưa giáo dục giới tính
vào trường trung học tại thành phố Hồ Chí Minh”do Sở Khoa học công nghệ, Trung tâm tư
vấn tâm lý gia đình và trẻ em thành phố Hồ Chí Minh thực hiện vào năm 2004 đã nêu thực
Các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS đối với SV đại học sư phạm cũng
đang còn ở giai đoạn khởi đầu.
- Tác giả Trần Thị Minh Ngọc với công trình nghiên cứu về “Khảo sát nhận thức của
sinh viên đại học sư phạm về SKSS” vào năm 2004 ở 1440 SV thuộc bốn trường đại học sư
phạm: Thái Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vinh đại diện cho các trường đại học
sư phạm ở bốn m
iền Bắc, Trung, Nam và miền núi phía Bắc, đã cho thấy thực trạng mức độ
nhận thức của sinh viên đại học sư phạm còn rất hạn chế, không đồng đều. Có sự chênh lệch
mức độ nhận thức của sinh viên đại học sư phạm theo giới tính, năm học, học lực, ngành
học, khu vực về 7 nội dung cốt lõi của SK
SS: 1. Khái niệm SKSS, đối tượng SKSS, nội
dung SKSS; 2. Giới tính; 3. Tình ạn, tình yêu, hôn nhân; 4. Tình dục an toàn; 5. Mang thai,
nạo phá thai; 6. Biện pháp tránh thai; 7. Bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS. Đồng thời cũng qua
nghiên cứu đó, tác giả cũng đề xuất các biện pháp tác động sư phạm nhằm phát triển nhận
thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS.[34,tr.40-58]
- Với công trình nghiên cứu về “Thực nghiệm nâng cao nhận thức của sinh viên sư
phạm về SKSS” vào năm 2005 cũng của tác giả Trần Thị M
inh Ngọc tiến hành ở 358 SV
sư phạm Hà Nội, thực nghiệm với 3 nội dung cơ bản: tình dục an toàn, các biện pháp tránh
thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục bằng biện pháp tác động sư phạm thực hiện
qua 2 hình thức: tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ theo từng chủ đề về SKSS; tổ chức thi tìm hiểu
SKSS thông qua trò chơi “hái hoa dân chủ” có giải bài tập tình huống. Qua kết quả thực
nghiệm đã cho thấy nhận thức của sinh viên sư phạm đư
ợc nâng lên nhờ các biện pháp tác
động sư phạm nhưng mức độ thay đổi nhận thức về các nội dung SKSS là không đồng đều,
phụ thuộc nhất định vào các tác động sư phạm [36,tr.37-39]
- Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS của sinh viên sư
phạm đã phản ánh thực trạng mức độ nhận thức của SV sư phạm về việc biết, hiểu, vận
dụng liên quan đến các vấn đề cốt lõi của SKSS, các biện phá
phân kỳ lứa tuổi do tính liên tục của quá trình phát triển tạo ra, nhìn chung có thể chấp nhận
xác định lứa tuổi thanh niên trong đó có thanh niên SV là từ 15 đến 24 tuổi. Tuy nhiên, cũng
cần nhận thấy rằng các ngưỡng t
uổi trên và ngưỡng tuổi dưới có thể dịch chuyển chút ít (độ
1-2 tuổi) tuỳ thuộc vào các đặc điểm phát triển lịch sử xã hội, đặc điểm giới và cả đặc điểm
phát triển cá nhân.
Chính vì vậy, việc xem xét và đưa ra các quan niệm, định nghĩa về lứa tuổi
thanh niên SV nhìn chung là chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề tranh cãi.
- Theo Từ điển Giáo dục học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Sinh viê
n là
người học của một cở sở giáo dục cao đẳng, đại học” [18,tr.343]. Theo cách hiểu này, có
thể phân loại sinh viên theo nhiều phạm trù khác nhau. Thí dụ sinh viên tập trung, sinh viên
chính quy, sinh viên không tập trung, sinh viên tại chức, sinh viên tự do, Hơn nữa, do nhu
cầu thống kê, người ta có thể phân biệt sinh viên thông thường và sinh viên thuộc hệ thống
giáo dục không chính quy (giáo dục thường xuyên) và có một hệ số quy đổi từ sinh viên
không c
hính quy sang sinh viên chính quy.
- Về độ tuổi theo Điều 1, chương I, Luật thanh niên 2005, thanh niên trong đó
có cả thanh niên sinh viên là “công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.
- Quan điểm cho rằng tuổi thanh niên sinh viên thuộc giai đoạn tuổi thanh niên
là phù hợp xét theo nhiều mặt. Theo cách hiểu đó, tuổi thanh niên là “giai đoạn phát triển
bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bước vào tuổi trưởng thành” [17,tr.61]. Tuy nhiên
việc phát dục hay trưởng thành về mặt sinh dục của mỗi trẻ em là hoàn toàn khác nhau. Hơn
thế nữa, việc xác định chuẩn thế nào là người trưởng thành cũng khác nhau. Chính vì vậy,
theo cách nhìn nhận trên thì khó mà xác định được giới hạn về tuổi thanh niên. Trên thực tế,
người ta thường đưa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội để xác định lứa tuổi thanh
niên.
- Cũng có quan niệm cho rằng nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn của
cuộc đời. Quan niệm
nhiều tác giả, lứa tuổi thanh niên sinh viên nên bắt đầu từ 19 tuổi và kết thúc vào khoảng
24–25 tuổi. Sỡ dĩ như vậy là vì khi ở độ tuổi 24, 25 c
on người đã hoàn tất sự phát triển về
thể chất thể hiện ở: sự tăng lên về chiều cao, trong lượng của cơ thể, sự hoàn thiện về cấu
tạo và chức năng của các bộ phận trong cơ thể Đồng thời ở tuổi 25 cũng là dấu mốc cuối
cùng kết thúc giai đoạn đào tạo dài nhất ở trường đại học như đại học y, đại học dược sinh
viên phải hoàn thành khóa học trong thời gian 6 năm.
Tóm lạị: Từ cách tiếp cận các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Tuổi thanh
niên SV là công dân Việt Nam, trong độ tuổi từ 19 đến 23-
25 tuổi, nhóm dân số trẻ ở “thời
kỳ chuyển tiếp sau”; là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về mặt thể chất sang sự trưởng
thành về mặt tâm lý –xã hội; là lứa tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường đại học, cao đẳng,
dạy nghề
1.2.1.2. Khái niệm về sức khỏe sinh sản
- Bối cảnh ra đời của khái niệm SKSS.
Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chúng ta không thấy đề cập hay nhắc đến
khái niệm
SKSS mà chỉ nói đến các vấn đề về giới tính, giáo dục giới tính, sức khỏe, văn
hóa tính dục, tình dục. Khái niệm SKSS được khởi nguồn từ các nước phương Tây và theo
hướng hòa nhập xuất hiện ở Việt Nam thời gian gần đây. Thực chất SKSS không phải là cái
gì xa lạ mà nó chỉ là “một bộ phận của sức khỏe con người nói chung” [
27,tr.422].
Theo tác giả Đào Xuân Dũng: Khái niệm SKSS “có nguồn gốc từ những năm 50
của thế kỷ XX khi xuất hiện tình trạng gia tăng dân số quá nhanh ở nhiều nước đang phát
triển buộc chính phủ nhiều nước phải quyết định hành động để giảm bớt sự tăng nhanh dân
số” [25,tr.47]. Vì thế trong thập niên 60 của thế kỷ XX, nhiều chương trình kế hoạch hóa gia
đình (KHHGĐ) đã ra đời ở nhiều nước và trở thành động lực bước đầu cho những nỗ lực
toàn cầu trong nghiê
n cứu vấn đề sinh sản người.
này thường đi vào những phương thức điều chỉnh sự phát triển dân số, KHHGĐ, giáo dục
dân số
+ Nghiên cứu theo góc độ Y học: việc nghiên cứu này thường là hướng những
tri thức khoa học về các vấn đề của SKSS, những vấn đề thuộc về kỹ thuật của KHHGĐ
+ Nghiên cứu việc giáo dục SKSS cho t
hanh thiếu niên cũng như cho người
lớn, đặc biệt là cho trẻ vị thành niên, trẻ ngoài nhà trường.
Kể từ sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo, Ai Cập vào
tháng 09/1994, việc nghiên cứu về SKSS ngày càng được phát triển.
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục SKSS được đặc biệt quan tâm trong tình hình hiện
nay ở mọi đối tượng nhất là vị thành niên vì nhóm đối tượng này có nguy cơ cao. Bởi lẽ,
nhóm
đối tượng này dễ mắc bệnh LTQĐTD, nghiện hút ma tuý như HIV/AIDS và nhiều
bệnh lây nhiễm khác, thậm chí còn là vấn đề thách thức về SKSS. Thực tế những nội dung
này chỉ mới được giới thiệu trong thời gian gần đây, nhưng đã được nhiều cơ quan ban
ngành trong xã hội xem xét tích cực. Năm 1998, Ủy ban Nhà nước về các vấn đề xã hội đã
khuyến cáo Quốc hội, Chính phủ và các tỉnh “Phát triển chương trình SKSS quốc gia ba
o
gồm chương trình quốc gia chăm sóc bà mẹ trẻ em, nâng cao chất lượng của các dịch vụ
KHHGĐ và phát triển chương trình SKSS thanh thiếu niên”[4,tr.26-27] và “năm 2004, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đưa nội dung giáo dục dân số - SKSS vào chương trình đào
tạo trong các trường sư phạm”[38,tr.134] cũng như thực hiện chương trình giáo dục về
SKSS ở các nhà trường từ trung học cơ sở đến trung học p
hổ thông.
Trước đây, khi nói đến khái niệm SKSS thường người ta cho rằng đó là những
vấn đề liên quan đến KHHGĐ, đến vấn đề sinh sản và sức khỏe của phụ nữ. Ngày nay, mọi
người đều nhận thấy rằng sức khỏe sinh sản có nội hàm rộng hơn bao gồm nhiều vấn đề về
lối sống, quan hệ yêu đương, tri thức về KHHGĐ, về hoạt động tình dục và nhiều vấn đề
khác.
đề cập đến khái niệm sức khỏe tình dục vì chúng có liên quan mật thiết nhau và sức khỏe
tình dục được xem là một bộ phận của nội dung SKSS.
Khái niệm sức khỏe tình dục đã đư
ợc đề cập từ thập niên 70 của thế kỷ XX
(1975) trước khi tổ chức Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập
năm 1994. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe tình dục được phát biểu như sau: “Sức
khỏe tình dục là tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình cảm, tri thức và xã hội của con người
có tính dục, sao cho cuộc sống con người phong phú, tốt đẹp hơn về nhân cách, giao tiếp và
tình yêu”
(Nguồn: Sex Education in the eighties- Lorna Brown-p.248)
Điều đó chứng tỏ rằng, hành vi tính dục của con người không còn là “vấn đề
riêng tư của cá nhân mà đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội” [12,tr.52]. Hành vi tính
dục của con người trước đây thường chịu sự nhìn nhận, đánh giá khắt khe và biến đổi theo
thời gian, theo sự phát triển xã hội. Hiện nay đã ra đời những quan niệm cởi mở hơn, tiến bộ
hơn do việc chúng ta ngà
y càng hiểu rõ bản chất sinh học, ảnh hưởng tâm lý, giá trị nhân
bản và tác động xã hội của nó. Đồng thời sức khỏe tình dục, ngoài ý nghĩa nhân bản của nó
còn thể hiện một bước tiến quan trọng trong quan niệm về bình đẳng nam nữ và đã trở thành
“một nội dung được quan tâm nhiều trong khoa học xã hội về phụ nữ”.
Khi nói đến sức khỏe tình dục, c
húng ta cũng cần xem xét đến yếu tố có liên quan
như: vấn đề tình dục an toàn và lành mạnh, tình dục có trách nhiệm, việc giáo dục tình dục,
vì sao cần coi hành vi tình dục người là một thực thể sức khỏe Có như vậy, trong điều
kiện nhất định mới có thể trang bị tương đối đầy đủ cho các loại đối tượng trong đó có thanh
niên.
- Nội dung cơ bản của vấn đề SKSS.
Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cai
ro của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc
(UNFPA), SKSS bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau đó là SKSS,
+ Ý thức và trách nhiệm trong quan hệ yêu đương, quan hệ tình dục.
+ Ý thức tôn trọng phụ nữ, tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ [38, tr.135-136].
Theo tác giả Đào Xuân Dũng, nội hàm của
SKSS có thể tóm tắt ở các điểm chính
sau đây:
+ Hành vi sinh sản và tình dục có trách nhiệm.
+ Dịch vụ KHHGĐ rộng rãi và thuận tiện.
+ Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và đảm bảo thai nghén và sinh nở an toàn.
+ Kiểm soát có hiệu quả các bệnh nhiễm khuẫn đường sinh sản.
+ Phòng và điều trị vô sinh.
+ Loại trừ phá thai không an t
oàn.
+ Phòng và điều trị các bệnh ác tính ở cơ quan sinh sản.
Ngoài ra SKSS còn có ảnh hưởng qua lại với nhiều khía cạnh khác của sức khỏe,
đặc biệt là HIV/AIDS, sức khỏe trẻ em, sức khỏe vị thành niên, tình dục, lối sống và môi
trường [25,tr.49-50].
Thực tế ở Việt Nam khi đề cập đến nội dung của SKSS thường người ta hay nhắc
đến 7 vấn đề ưu tiên sau đây :
+ Quyền sinh sản.
+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
+ Kế hoạch hóa gia đì
nh.
+ Nạo phá thai.
+ Bình đẳng giới.
+ Sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn
+ SKSS vị thành niên [54,tr.4]
Theo Chuẩn quốc gia về Chăm sóc SKSS, Bộ Y tế nội dung chủ yếu của SKSS
gồm các vấn đề sau:
Chăm sóc phụ nữ khi mang thai, chăm sóc bà mẹ và trẻ trong khi sinh và sau khi
ang thai, sinh đẻ và nuôi con. Chức năng
đặc thù này xét về mặt đạo lý và giá trị được xem là chức năng xã hội vì nó quan tâm đến cả
hai giới mặc dù hiện nay vấn đề ưu tiên trong SKSS là dành ưu tiên cho phụ nữ nhưng chính
bản thân nam giới đôi khi cũng không được hưởng đầy đủ về SKSS như vấn đề vô sinh ở
nam giới, rối loạn chức năng tình dục của na
m giới mà hiện nay ở nước ta ít có cơ sở y tế
và thầy thuốc chuyên khoa chữa trị. Do vậy nói đến SKSS phải là “tình trạng khỏe mạnh về
thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của
bộ máy sinh sản” và cần phải chú ý việc chăm sóc SKKS đến cả hai giới mặc dù có thể một
giới nào đó được ưu tiên chăm sóc nhiều hơn.
Từ những nội dung trên, có thể nói rằng: “SKSS là bộ phận qua
n trọng và điển
hình của đời sống giới tính, gắn bó mật thiết với những yếu tố khác của đời sống giới
tính”[38,tr.136]
Theo các nội dung trên về SKSS, có thể được trình bày ở nhiều tài liệu khác nhau,
theo những cách viết khác nhau nhưng tất cả đều phác họa những vấn đề cơ bản về SKSS.
Vấn đề quan trọng theo chúng tôi là cần xác định đúng nội dung cần thực hiện đảm bảo phù
hợp ở mức cao cho từng l
oại đối tượng, xem xét các vấn đề ưu tiên khi giới thiệu, giảng
dạy, giáo dục, tư vấn, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng thanh thiếu niên trong đó có SV.
Hướng tiếp cận của chúng tôi về nội dung SKSS trong đề tài này là theo cách trình bày của
tác giả Bùi Ngọc Oánh vì nó đầy đủ nhưng lại rất cụ thể và rõ ràng.
1.2.
1.3. Sức khỏe sinh sản tuổi thanh niên
Hầu như các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều cho rằng
SKSS là một khái niệm mới chưa được hiểu một cách thống nhất. Những nội dung chủ yếu
của SKSS là gì? đối với từng loại đối tượng cần cung cấp cho họ những vấn đề nào, còn
rất ít người biết đến. Tuy nhiên người ta đều thống nhất rằng: “thanh niên nên theo c
huẩn
dung giáo dục.
- Làm rõ khái niệm giới tính và sự khác biệt nam nữ về giới tính.
- Nhấn mạnh tính đạo đức trong qua
n hệ tình dục nam nữ, văn hóa tình dục. Vấn
đề tình dục trong tình yêu. Tác hại của quan hệ tình dục trước hôn nhân.
- Tình bạn, tình yêu lành mạnh. Tình yêu và sự lựa chọn bạn đời chuẩn bị cho
hôn nhân. Tri thức về hôn nhân và gia đình. Văn hóa ứng xử trong quan hệ nam nữ.
- Thụ thai và sự phát triển của thai. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bào
thai.
- Tội phạm
tình dục và phòng tội phạm tình dục.
- Các biện pháp tránh thai. Hậu quả của việc có thai ngoài ý muốn và nạo phá
thai ở thanh niên.
- Các bệnh LTQĐTD.
- Vấn đề của nhựng cặp vợ chồng trẻ.
- Lơị ích của việc KHHGĐ.
Trong các nội dung vừa trình bày, nhằm phục vụ cho đề tài này, theo chúng tôi
cần làm rõ một số vấn đề sau:
* Giới tính và sự khác biệt nam nữ
- Khái niệm g
iới tính
Có nhiều quan niệm khác nhau liên quan đến khái niệm này nhưng chúng tôi
chọn cách tiếp cận khái niệm giới tính của giáo sư Trần Trọng Thuỷ: “Giới tính là tất cả
những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ” [43,tr.164] và của tác giả
Bùi Ngọc Oánh “Giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa
nam và nữ”[36.tr.29] là đầy đủ, chặt chẽ. Có quan điểm
nói đến giới tính là nói đến vấn đề
sinh sản, là đặc điểm khác biệt về sinh học giữa nam và nữ chủ yếu liên quan đến chức năng
sinh sản là chưa đầy đủ.
+ Tình bạn là gì?
Người ta có nhiều quan niệm khác nhau về tình bạn. Có người thích chơi với
nhóm bạn nhiều người, nhóm có những hoạt động cùng yêu thích, nhóm có cùng chí hướng
và ước mơ Dù phong cách của từng người thế nào đi nữa nhưng ai cũng cảm thấy kiêu
hãnh được làm thành viên của một nhóm
bạn nào đó và thường nhóm bạn của mình được
xem là một phần của “gia đình mình”
Theo nhiều tài liệu tiếp cận, chúng tôi nhận thấy đều thống nhất với định nghĩa:
“Tình bạn là loại tình cảm gắn bó giữa hai người hoặc một nhóm người với nhau trên cơ sở
hợp nhau về tình tình, giống nhau về sở thích, có sự phù hợp về xu hướng ( thế giới quan, lý
tưởng, niềm tin, hứn thú ) và một số nét nhân cách khác mà qua đó mỗi người đều tìm thấy
ở bạn mình một cái “tôi” thứ hai ít nhiều có tính chất lý tưởng”
[5,tr.58], [19,tr.25], [45].
Chính vì vậy, thông qua mối quan hệ bạn bè, mỗi người có thể bộc lộ, khám phá, tự kiểm tra
và đánh giá bản thân bằng việc so sánh mình với người khác, đồng thời dựa vào sự đánh giá
của mình để tự hiểu mình, tự điều chỉnh, tự giáo dục và hoàn thiện mình.
Một điều cần lưu ý là chỉ đến cuối tuổi thiếu niên trở lên mới có tình bạn t
hân
theo đúng nghĩa của nó dựa trên sự giống nhau về xu hướng. Và càng đến tuổi thanh niên
tuổi trưởng thành, “tình bạn thân càng ổn định, càng bền vững kể cả tình bạn cùng giới cũng
như tình bạn khác giới”[45,tr.110].
+ Đặc điểm của tình bạn tốt
Bản chất của tình bạn là tình người, là kết tinh từ tình người. Cho nên giữa tình
bạn và tình người có quan hệ mật thiết không tách rời nhau. Đặc điểm của tình bạn tốt đòi
hỏi biểu hiện ở các dấu hiệu sau :
Có sự phù hợp về xu hướng
Có sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Có sự chân thành, tin cậy và có t
rách nhiệm cao đối với nhau.