Xác định hàm lượng Rhodamin B trong hạt dưa và gia vị bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao - Pdf 26

Tài liệu tập huẩn
PHẦN I. MỞ ĐẦU
Ô nhiễm thực phẩm là vấn đề đang được cả nhân loại quan tâm, ; nó không
chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng mà còn liên quan đến phát triển
kinh tế, thương mại, du lịch.
Muốn kiểm soát được ô nhiễm thực phẩm, chỉ có một biện pháp duy nhất là
thiết lập được hệ thống phân tích nguy cơ. Hệ thống pPhân tích nguy cơ là giải pháp
chủ động, dự phòng một cách tích cực, cơ bản, toàn diện, được thực hiện ở bất cứ
quốc gia nào nếu ở đó muốn có một thị trường thực phẩm an toàn.
Sau khi phát hiện Sudan đỏ trong các sản phẩm từ ớt bột ở Trung Quốc, mới
đây, người ta lại phát hiện Rhodamin B, loại chất để nhuộm len và lụa, có trong các
sản phẩm gia vị của Trung Quốc nhập khẩu vào Tây Ban Nha.
Bước đầu, cơ quan chức năng xác định chất nhuộm Rhodamin B đi vào các
sản phẩm ớt là xuất phát từ việc sử dụng thuốc trừ sâu tại các cánh đồng trồng ớt.
Tận dụng đặc tính phát quang của Rhodamin B, nông dân dùng chúng để giúp kiểm
soát lượng thuốc bảo vệ thực vật phun lên cây ớt. Một số loại dầu thực vật cũng phát
hiện thấy hóa chất phát quang này và người ta cũng nghi chúng bị dùng để kiểm soát
thuốc trừ sâu khi phun lên các loài cây lấy dầu.
Ngoài ra, không chỉ với ớt bột hay các chất gia vị nói chung, chất tạo màu
Rhodamin B có nguy cơ xuất hiện trong hầu hết sản phẩm lương thực, thực phẩm đi
từ cây trồng có dùng phân bón hóa học
Lo ngại nguy cơ xâm nhập của Rhodamin B vào các loại thực phẩm, Ủy
ban Gia vị châu Âu đang tìm cách ra lệnh cấm triệt để việc sử dụng Rhodamin B
trong tất cả các khâu liên quan đến quá trình sản xuất lương thực và thực phẩm.
Chi tử là quả của cây dành dành
Thị trường thực phẩm Việt Nam rất đa dạng, đặc biệt chúng ta nhập rất nhiều
loại thực phẩm từ Trung Quốc. Ngoài những thực phẩm nhập vào theo đường chính
thống, còn rất nhiều loại thực phẩm trôi nổi không được kiểm soát chất lượng an
toàn vệ sinh. Ở Việt Nam lần đầu tiên Rhodamin B được phát hiện trong cây chi tử -
một loại dược liệu để điều chế thuốcdùng trong đông y. Gần đây, thông tin về việc
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 1

của một hỗn hợp. Trong sắc ký các chất khác nhau được tách dựa trên sự phân chia
khác nhau của chúng vào hai pha luôn tiếp xúc và không hoà lẫn vào nhau : một pha
tĩnh và một pha động. Pha tĩnh được nhồi trên cột, pha động đi qua cột. Khi hỗn hợp
cần tách được pha động kéo qua cột, chất nào có ái lực mạnh hơn với pha tĩnh sẽ di
chuyển chậm hơn, vì vậy các chất có thể tách khỏi nhau.
1.2. Quá trình sắc ký:
Quá trình tách sắc ký thường bao gồm 3 giai đoạn chính:
a. Đưa hỗn hợp lên pha tĩnh: đưa hỗn hợp lên cột.
b. Cho pha động chạy qua pha tĩnh: dung môi qua cột, kéo theo các chất di
chuyển trên pha tĩnh với tốc độ khác nhau, tách khỏi nhau và có vị trí khác nhau trên
cột tạo thành sắc đồ (sắc ký đồ). Giai đoạn này gọi là khai triển sắc ký
(development).
Nếu tiếp tục cho pha động chạy thì các chất có thể lần lượt bị kéo ra khỏi cột.
Đó là quá trình rửa giải (elution) và dung môi được dùng là dung môi rửa giải
(eluent), dịch hứng được ở cuối cột gọi là dịch rửa giải (eluate).
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 3
Tài liệu tập huẩn
Nếu các chất được tách trên pha tĩnh (sắc ký khai triển) ta có thể lấy từng
phần pha tĩnh có mang chất (phân đoạn bột trên cột) đem chiết lấy chất.
Nếu các chất được tách ra ngoài pha tĩnh (sắc ký rửa giải) ta có thể hứng lấy
các phân đoạn dịch rửa giải có chất.
c. Phát hiện các chất : các chất màu có thể phát hiện dễ dàng, các chất không
màu có thể phát hiện bằng đèn tử ngoại hay bằng các thuốc thử. Trong sắc ký rửa
giải có thể phát hiện các chất khi chúng đi ra khỏi cột bằng cách cho dung dịch rửa
giải đi qua một bộ phận phát hiện gọi là detectơ (detector) đặt sau cột.
1.3. Phân loại các phương pháp sắc ký.
-Sắc ký hấp phụ (adsorption chromatography): pha tĩnh là chất rắn có khả
năng hấp phụ. Pha động có thể là chất lỏng hay chất khí.
-Sắc ký phân bố (partition chromatography): pha tĩnh được giữ trên bề mặt
một chất rắn gọi là chất mang (support), chất mang phải là chất trơ, không tham gia

qua cột sắc ký, tới detectơ và cho pic trên sắc đồ (tính từ lúc tiêm đến lúc xuất hiện
đỉnh của pic).
t
0
: là thời gian lưu của một chất không bị lưu giữ (là chất di chuyển với tốc
độ của pha động). t
0
thường được gọi là thời gian chết.
t
R
càng lớn, chất tan bị lưu giữ càng mạnh và di chuyển càng chậm.
b-Thời gian lưu hiệu chính t’
R
được tính theo công thức:
t’
R
= t
R
- t
0Hình 1: Sắc đồ một chất
2.1.2. Tốc độ di chuyển tỷ đối của hai chất:
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 5
w
Thời gian, phút
w = chiều rộng pic
đường nền
t

Để tách riêng hai chất, cần có α > 1, thường chọn α trong khoảng 1,05 đến
2,0. α càng lớn hai chất càng tách ra khỏi nhau, với α quá lớn thời gian phân tích sẽ
kéo dài.
2.2 Sự doãng píc và hình dáng píc.
Như trên đã trình bày, hình dáng của pic và sự doãng píc liên quan chặt chẽ đến
sự tách sắc ký. Hình dáng lý tưởng của píc là píc đối xứng. Trên thực tế píc sắc ký
thường chỉ gần đối xứng. Để đánh giá tính bất đối của píc người ta dùng hệ số bất
đối AF (Asymmetry Factor).

AF = b / a

h
b = phần chiều rộng phía sau của píc.
a = phần chiều rộng phía trước của píc. a b
w
1/10
= a+b = chiều rộng của píc được 10% h
đo ở 1/10 chiều cao của píc.
Hình 2
Tính bất đối của pic
Một cột được nhồi tốt sẽ có AF trong khoảng 0,9 -1,1.(xác địnhAF với píc
của các chất chuẩn).
Cũng có thể dùng hệ số đối xứng SF (symmetry factor):
SF= w
1/20
/ 2a trong đó w
1/20
được đo ở 1/20 chiều cao của pic
Sự doãng píc (peak spreading) hay sự mở rộng dải là một hiện tượng đặc biệt
quan trọng trong sắc ký và được nghiên cứu qua thuyết về đĩa và thuyết động học.



b
R
W
t
trong đó W
b
= chiều rộng píc ở đáy píc.
hay N = 5,54
2
2/1








W
t
R
với W
1/2
= chiều rộng píc đo ở nửa chiều cao của pic.
Và từ đó tính H : H = L/N
Qua đây ta thấy rõ : khi cột có hiệu lực cao (H nhỏ N lớn)
thì W
b

S
=
AB
RARB
WW
tt
,2/1,2/1
)(18,1
+

trong đó W là chiều rộng pic ở
đáy và W
1/2
là chiều rộng pic ở nửa
chiều cao
Hình 4 R
S
và sự tách 2 pic
Với hai pic có độ lớn tương đương thì:
R
s
= 0,75 hai pic không tách tốt, còn xen phủ nhau nhiều.
R
s
= 1,0 hai pic tách khá tốt,còn xen phủ nhau 4%
R
s
=1,5 hai pic tách gần hoàn toàn (chỉ xen phủ 0,3%)
2.4. Trường hợp tách nhiều chất, ảnh hưởng của thành phần dung môi và
nhiệt độ.

môi (thành phần dung môi biến đổi dần trong quá trình chạy sắc ký, bắt đầu từ một
hệ dung môi yếu hơn và kết thúc bằng một hệ mạnh hơn so với hệ dung môi dùng ở
sắc đồ a) ta có sắc đồ b ở đó các pic được phân bố đều và tách rất tốt. Chương trình
dung môi có thể chia làm nhiều đoạn với các kiểu biến đổi thành phần dung môi
khác nhau.
Để giải các bài toán tách nhiều chất với yêu cầu thời gian phân tích càng ngắn
càng tốt, nếu không thể chọn một điều kiện sắc ký thích hợp, ta có thể dùng phương
pháp biến đổi dần dần điều kiện sắc ký theo một chương trình nào đó.
Trong sắc ký lỏng, hay dùng chương trình hoá dung môi (rửa giải gradient).
3. Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao:
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 10
1
2
3
4
5
7
6
8
Tài liệu tập huẩn
Hình 8 giới thiệu sơ đồ nguyên tắc chung cho các máy HPLCHình 8
1-Bình chứa dung
môi ;
2- Lọc dung môi
3- Bơm cao áp;
4- Bộ tiêm mẫu5- Cột
sắc ký;

Tài liệu tập huẩn
Phương pháp phổ biến là dùng van tiêm có vòng chứa mẫu (sample
loop) với dung tích xác định và chính xác. Có thể thay đổi các vòng mẫu dung tích
khác nhau: 5 đến 500 µl. Loại 20µl được dùng phổ biến. Tiêm bằng van tiêm có độ
chính xác cao. Hình 9 Mô tả một loại van tiêm
Van tiêm có hai vị trí của rô-to, vị trí (a) để nạp mẫu (load) vào vòng mẫu, vị
trí (b) để tiêm mẫu (inject) bằng cách cho dung môi qua vòng mẫu để đưa mẫu lên
cột.
3.4. Cột sắc ký lỏng hiệu năng cao
Cột bằng thuỷ tinh dùng ở áp suất thấp (dưới 50 at), được bọc trong một vỏ
thép. Cột bằng thép không gỉ được dùng phổ biến.
Cột phân tích thường dài 10-30 cm có đường kính trong 4-10 mm, hạt chất
nhồi cỡ 5-10 µm. Với chất nhồi cỡ 3-5 µm có thể dùng các cột ngắn (3-10 cm) và
nhỏ (1- 4,6 mm). Loại cột này có hiệu lực rất cao, có số đĩa lý thuyết lên đến
100.000 đĩa cho 1 m cột. Đường kính ngoài của cột thường là 1/4 inch.
Cột điều chế có thể có kích thước lớn hơn cột phân tích nhiều lần. Cột bán
điều chế nhỏ nhất (để tách lấy lượng nhỏ chất để đem phân tích) thường có đường
kính trong 9-12 mm dài 50 cm hoặc hơn nữa.
Chất nhồi cột thường là silicagel hoặc có bọc một lớp mỏng chất hữu cơ. Bên
cạnh silicagel người ta còn dùng những hạt khác: nhôm oxyt, polyme xốp, chất trao
đổi ion.
3.5. Detector:
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 12
Hình 9. Van tiêm mẫu:
1- Vòng chứa mẫu, 2- Bình dung môi và bơm, 3- Cột sắc ký
4- Nơi nạp mẫu vào vòng chứa mẫu 5- Phần mẫu còn thừa
Tài liệu tập huẩn
Là bộ phận phát hiện các chất khi chúng ra khỏi cột và cho các tín hiệu được
ghi trên sắc đồ. Các loại detector được dùng phổ biến là:
- Detector đo chỉ số khúc xạ (RI) là detector vạn năng nhưng kém nhạy.

Tài liệu tập huẩn
CH
3
CH
3
CH
3
CH
3
| | | |
- Si - OH + Cl - Si – R → - Si – O – Si – R + HCl
| | | |
CH
3
CH
3
CH
3
CH
3
Nhóm silanol
của silicagel
Dẫn chất
Clorosilan
Dẫn chất
Siloxan
- Nếu R là một nhóm ít phân cực như octyl (C
8
), octadecyl (C
18

4.2. Sắc ký hấp phụ (sắc ký lỏng – rắn: LSC)
Là phương pháp phát triển sớm nhất và được dùng phổ biến. Trong phương
pháp này chất tan bị giữ trên bề mặt pha tĩnh tức là chất hấp phụ và bị dung môi đẩy
ra (phản hấp phụ). Sắc ký hấp phụ cũng thường được gọi là sắc ký pha thuận
(normal phase)
-Các pha tĩnh và động: pha tĩnh là những bột mịn, xốp, có diện tích bề mặt
riêng lớn (Spherisorb S 10W: 220 m
2
/g). Silicagel và nhôm oxyd là những chất được
dùng nhiều trong sắc ký hấp phụ nhưng silicagel là chất được ưa dùng hơn cả. Ở đây
các chất càng phân cực càng bị lưu giữ mạnh và ra chậm khi rửa giải.
Về pha động, dưới đây cho ta một dãy một số các dung môi với sức rửa giải
tăng dần: Hexan, benzen, cloroform, aceton, butanol, methanol.
Dãy này xếp theo khả năng đẩy các chất ra khỏi chất hấp phụ. Có thể dùng
hỗn hợp vào dung môi theo tỷ lệ thích hợp.
4.3. Sắc ký trao đổi ion:
Là phương pháp sắc ký trong đó các nhựa trao đổi ion.
- Nhựa trao đổi ion (ionit). Đó là những hợp chất cao phân tử có chứa nhóm
chức có khả năng trao đổi ion (nhóm trao đổi)
- Nhựa trao đổi cation (cationit) có 2 loại: Cationit acid mạnh có nhóm -SO
3
H
và được ứng dụng rộng rãi, cationit acid yếu có nhóm - COOH.
- Nhựa trao đổi anion (anionit) cũng có 2 loại: Anionit base mạnh có nhóm
amoni bậc 4 - N(CH
3
)
3
+
OH

-
+ SO
4

[ R (CH
3
)
3
]
2
SO
4

+ 2OH
-
(2)
Phương pháp này được dung để tách các ion vô cơ và hữu cơ.
4.4. Sắc ký lỏng trên gel (size exclusion; sk loại theo cỡ)
Sắc ký loại theo cỡ (size exclusion chromatogrphy) là một phương pháp mới
phát triển và được ứng dụng chủ yếu cho các chất có phân tử lượng lớn.
- Chất nhồi cột và các pha: chất nhồi ở đây là các hạt gel.
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 15
Tài liệu tập huẩn
- Chất nhồi cho sắc ký loại theo cỡ là những hạt xốp của silicagel hay polime có
kích thước nhỏ (khoảng 10 µm). Pha tĩnh là dung môi nằm trong các lỗ xốp của hạt,
pha động là dung môi chảy giữa các hạt.
• Các phân tử chất tan có kích thước lớn (bằng cỡ lớn, cỡ trung bình của các lỗ
xốp) thì sẽ không bị lưu giữ và di chuyển theo dung môi (tức là bị loại).
• Các phân tử nhỏ hơn có thể khuếch tán vào lỗ xốp.
• Các phân tử rất nhỏ so với lỗ xốp sẽ đi sâu vào các lỗ này và coi như bị sa

Định tính bằng sắc ký dựa vào t
R
không cho ta kết quả hoàn toàn chắc chắn.
Việc xác nhận một chất không có mặt trong hỗn hợp (vì không có pic tương ứng
trên sắc đồ) thường chắc chắn hơn xác nhận sự có mặt một chất. Dù sao cũng nên
nhớ là pic không xuất hiện có thể do lượng chất quá nhỏ, cũng có thể là do điều kiện
đo không thích hợp (ví dụ chọn nhầm bước sóng mà chất không hấp thụ).
Sắc ký thường được dùng để kiểm tra độ tinh khiết của mẫu thử (không được
có các pic ứng với các tạp chất).
5.2. Định lượng :
Sắc ký là phương pháp rất thuận lợi để định lượng một chất trong hỗn hợp vì
chất đó được tách khỏi các chất khác, và đồng thời được định lượng dựa vào việc đo
chiều cao hay diện tích của pic.
Với các pic nhọn thì phương pháp đo chiều cao cho kết quả chính xác hơn
Khi pic tù hay lệch thường đo diện tích tốt hơn.
Hiện nay hầu hết các máy sắc ký đều có phần mềm cho phép đo diện tích pic
bằng phương pháp tích phân.
Sau đây là một số phương pháp định lượng thường dùng trong sắc ký:
5.2.1. Phương pháp đường chuẩn. (Calibration curve).
Phương pháp dùng phổ biến hiện nay là phương pháp đường chuẩn. Pha một
số dung dịch chất chuẩn (hay chất đối chiếu) có nồng độ khác nhau đã biết. Thông
thường người ta pha 4-6, có thể tới 10 dung dịch. Môi trường pha dung dịch chuẩn
có thể là dung môi hay dung dịch có thành phần càng giống môi trường của mẫu thử
càng tốt. Nếu môi trường ít có ảnh hưởng thì có thể pha trong dung môi tinh khiết
thích hợp hay trong dung môi pha động của phương pháp sắc ký.
Đem các dung dịch chuẩn chạy sắc ký, đo chiều cao hoặc diện tích pic rồi lập
đường chuẩn tức là đường biểu diễn sự phụ thuộc của diện tích hay chiều cao của
pic đối với nồng độ. Trên trục tung là chiều cao hay diện tích pic, trên trục hoành là
nồng độ hay hàm lượng chất. Thông thường người ta sử dụng các đường chuẩn có
dạng đường thẳng.

i
và H
t
/ H
i

trong đó: S
e
,S
i
và S
t


các

diện tích pic chuẩn nội, chuẩn ngoại và chất thử,
: H
e
,H
i
và H
t


các

chiều cao pic chuẩn nội, chuẩn ngoại và chất thử.
Phương pháp chuẩn nội có thể cho sai số thấp (có thể đạt tới 0,5 - 1%).
5.2.3. Phương pháp đường chuẩn thêm (Standard addition)

n
i
i
i
S
S

trong đó
i
S
là diện tích pic của chất thứ i trong hỗn hợp,


=
n
i
i
S
1
là tổng diện tích các pic ứng với các chất của hỗn hợp trên sắc đồ.
PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP SẮC KÝ LỎNG HIỆU
NĂNG CAO HPLC
2.1 Nguyên tắc chung về phương pháp HPLC
Sắc ký lỏng là quá trình tách xảy ra trên cột tách với pha tĩnh là chất rắn và
pha động là chất lỏng (sắc ký lỏng - rắn). Mẫu phân tích được chuyển lên cột tách
dưới dạng dung dịch. Khi tiến hành chạy sắc ký, các chất phân tích được phân bố
liên tục giữa pha động và pha tĩnh. Trong hỗn hợp các chất phân tích, do cấu trúc
phân tử và tính chất lí hoá của các chất khác nhau, nên khả năng tương tác của
chúng với pha tĩnh và pha động khác nhau. Do vậy, chúng di chuyển với tốc độ khác

pha động là các dung môi hữu cơ không phân cực hay ít phân cực như: n-
hexan, toluene…Hệ này có thể tách đa dạng các chất không phân cực hay ít
phân cực.
• Sắc ký pha ngược (hay pha đảo): pha tĩnh thường là các chất không phân cực
như silica đã được ankyl hoácác alkyl mạch C8, C18, không phân cực, loại
thông dụng nhất là –C
18
H
37
, gắn (liên kết) trên silica; còn pha động là các chất
phân cực như : nước, methanol, axetonitrilacetonitril…Trong rất nhiều
trường hợp thì thành phần chính của pha động lại là nước nên rất kinh tế. Hệ
này được sử dụng để tách các chất có độ phân cực rất đa dạng: từ rất phân
cực, ít phân cực tới không phân cực [2].
2.3. Pha động trong HPLC [1]
Pha động trong sắc ký lỏng nói chung có những yêu cầu sau:
- Pha động phải trơ với tướng pha tĩnh
- Bền vững và không bị phân huỷ trong quá trình chạy sắc ký
- Hoà tan được mẫu
- Phải có độ tinh khiết cao
- Có độ nhớt thấp và phù hợp với detector
- Không quá đắt
Một pha động phù hợp là một dung môi hoặc hỗn hợp dung môi góp phần tốt
nhất có thể được vào phép tách. Phù hợp ở đây là phù hợp về độ phân cực, về
detector cũng như các tính chất cần thiết khác như khả năng tạo phức.
Có thể chia pha động làm hai loại: là pha động có độ phân cực cao và pha
động có độ phân cực thấp.
Loại thứ nhất có thành phần chủ yếu là nước, các alcol như methanol,
acetonitril, tuy nhiên để phân tích các chất hữu cơ, cần thêm các dung môi khác để
giảm độ phân cực. Pha động loại này được dùng trong sắc ký pha liên kết ngược.

hiện các phép tách tự động nhiều mẫu phân tích.
2.5. Một số đại lượng đặc trưng của HPLC
2.5.1 Thời gian lưu
Khi được nạp tiêm vào cột sắc ký, các chất phân tích sẽ bị giữ lại trên cột
trong một khoảng thời gian nhất định. Đó chính là thời gian lưu của nó, tính từ lúc
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 22
Tài liệu tập huẩn
mẫu được nạp tiêm vào cột cho đến lúc chất tan được rửa giải ra khỏi cột ở điểm có
nồng độ cực đại
t
Ri
= t
o
+ t’
Ri
Trong đó: t
o
là thời gian chết (thời gian lưu của chất không bị lưu giữ)chất phân tích
nằm trong pha động)
t’
Ri
là thời gian lưu giữ thực của chất phân tích trên cột tách
2.5.2 Số đĩa lí thuyết
Hiệu lực của cột tách được đo bằng số đĩa lí thuyết N của cột.công thức dưới đây có
sửa
2
1/2
2
2
i

không), ta có thể dùng hệ số đối xứng F:
2a
W
=
F
:
W: chiều rộng pic đo ở 1/20 chiều cao của pic
Viện Kiểm nghiệm ATVSTP quốc gia 23
Tài liệu tập huẩn
a: khoảng cách từ chân đường vuông góc hạ từ đỉnh pic đến mép đường
cong phía trước tại vị trí 1/20 chiều cao pic.
Ta cũng có thể đánh giá tính cân đối xứng theo công thức:
A
B
S
=
A: khoảng cách từ chân đường vuông góc hạ từ đỉnh pic đến mép đường
cong phía trước tại vị trí 1/10 chiều cao pic.
B: khoảng cách từ chân đường vuông góc hạ từ đỉnh pic đến mép đưòng
cong phía sau tại vị trí 1/10 chiều cao pic.
S = 1,0 ÷ 1,05 là pic rất đẹp (lí tưởng)
S = 1,5 là chấp nhận được
S = 2 là pic xấu
S = 4 là pic rất xấu
2.5.4 Hệ số tách chọn lọc α (selectivity factor), còn gọi là hệ số tách
Hệ số táchHệ số chọn lọc α là đại lượng đánh giá khả năng tách 2 chất bằng
phương pháp sắc ký và là tỉ số thời gian lưu của 2 chất: α = tt’
ARB
/t’
B

A
và W
B
là chiều rộng đáy pic của A và B
Theo qui luật phân bố của Gaoxo và Rayley, điều kiện tối thiểu để cho 2 chất
A và B tách ra khỏi nhau thì cực tiểu của pic A nằm gần nhất vị trí cực đại của B, và
để tách hoàn toàn rõ ràng thì cực tiểu của pic phía sau B phải kề với cực tiểu phía
sau pic A, tức là R
AB
= W
A
+ W
B
2.6. Phân tích định tính và định lượng bằng HPLC
2.6.1 Phân tích định tính
Một trong các đại lượng đặc trưng cho sự tách sắc ký của các chất trong một
hệ pha đã chọn là thời gian lưu của các chất. Nghĩa là trong một hệ pha và trong các
điều kiện tách HPLC đã chọn thì mỗi chất phân tích sẽ có thời gian lưu khác nhau và
cố định. Chính đại lượng này là một tính chất hay thông số để định tính các chất
trong một hỗn hợp mẫu.
Vì vậy, sau khi đã chọn được các điều kiện tối ưu cho quá trình sắc ký, tiến
hành ghi sắc đồ của mẫu phân tích, và xác định thời gian lưu của từng pic ứng với
mỗi chất trong sắc đồ. Sau đó so sánh thời gian lưu của chất phân tích với thời gian
lưu của chất chuẩn, từ đó sẽ xác định được trong mẫu phân tích có những chất nào.
2.6.2 Phân tích định lượng
Trong HPLC có thể dùng một trong 2 phương pháp là phương pháp đường
chuẩn hoặc phương pháp thêm tiêu chuẩn để định lượng. Việc dùng phương pháp
nào trong hai phương pháp đó tuỳ thuộc vào loại mẫu phân tích và hàm lượng chất
phân tích
H


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status