MỤC LỤC
MỤC LỤC..........................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................4
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................4
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài........................................................................6
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu.......................................................................7
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu...........................................................8
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài...............................................................................9
6. Bố cục của Luận văn.......................................................................................9
CHƯƠNG I......................................................................................................10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ VĂN BẢN QPPL VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QPPL
CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG..............................................................10
1.1 Khái niệm văn bản QPPL.............................................................................10
1.2 Khái niệm văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành..........................14
1.2.1 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương là sự cụ thể hóa các qui
định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên.....................15
1.2.2 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh ở địa phương.........................................................................16
1.3 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của chính quyền địa phương....17
1.4 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương.................18
1.4.1 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân.......18
1.4.2 Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của Ủy ban nhân dân..........20
1.5 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương........................................21
1.5.1 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo thời gian...22
1.5.2 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo không gian24
1
1.5.3 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo đối tượng áp
dụng..........................................................................................................25
1.6 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành
......................................................................................................................26
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất..........51
3.3.2 Đổi mới việc lập chương trình xây dựng văn bản QPPL.....................53
3.3.3 Đổi mới quy trình soạn thảo văn bản QPPL........................................55
3.3.4 Đổi mới quy trình thẩm định văn bản QPPL của HĐND và UBND....56
3.3.5 Đổi mới quy trình lấy ý kiến, thông qua và công bố văn bản QPPL.....58
3.3.6 Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại các cấp
chính quyền địa phương tại thành phố Hải Phòng.......................................59
3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với văn bản QPPL và hoạt
động ban hành văn bản QPPL....................................................................60
KẾT LUẬN......................................................................................................62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................64
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp
pháp, thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn là một trong những chủ
trương quan trọng đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa (XHCN) và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Pháp
luật, trước hết là kết quả của việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách,
đường lối, định hướng phát triển của một quốc gia và trở thành quy ước hành
xử chung cho mọi người trong xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt trong việc
bảo đảm sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là công cụ quản
lý xã hội hữu hiệu nhất của mỗi nhà nước. Điều 12 Hiến pháp 1992 đã ghi
nhận: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này cho thấy, trong công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân với mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được xác định là một đòi hỏi cấp thiết.
Mặt khác, tăng cường pháp chế XHCN là điều kiện tối cần thiết bảo đảm thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời
quốc gia, có vị trí địa lý quan trọng, là 1 trong 3 tỉnh thuộc tam giác phát triển
kinh tế phía bắc. Trong những năm qua thành phố Hải Phòng đã đạt được
nhiều thành tựu trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Trong lĩnh vực văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL, các cấp
chính quyền ở thành phố Hải Phòng đã chú trọng đến công tác văn bản QPPL
và ban hành ra nhiều văn bản quy phạm cụ thể hóa các văn bản của cơ quan
Nhà nước cấp trên; tổ chức, động viên nhân dân thực hiện pháp luật và đưa
nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
5
được, công tác văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các
cấp chính quyền địa phương tại thành phố Hải Phòng vẫn chưa đáp ứng được
với nhu cầu quản lý, với những thay đổi của đời sống xã hội và bộc lộ một số
vấn đề bất cập so với yêu cầu lý luận và thực tiễn. Những bất cập này đã đưa
đến tình trạng ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận nhân dân giảm sút,
dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật; tội phạm và vi phạm pháp luật có
chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp. Đặc biệt, nạn quan liêu, tham nhũng
và sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công
chức đang là một trong những nguy cơ trực tiếp đe dọa sự sống còn của hệ
thống chính trị, gây bất bình và làm giảm lòng tin của nhân dân, gây ra tình
trạng khiếu nại, khiếu kiện đông người kéo dài.
Để khắc phục những bất cập trên, đặt các quan hệ xã hội dưới sự điều
chỉnh của các QPPL cần nghiên cứu một cách nghiêm túc các vấn đề liên
quan đến văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp
chính quyền tại thành phố Hải Phòng, để từ đó đề ra các biện pháp nâng cao
chất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp
chính quyền tại thành phố Hải Phòng.
Từ yêu cầu cấp thiết như đã nêu ở trên, tôi chọn đề tài “Văn bản quy
phạm pháp luật và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các
cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản QPPL và hoạt động ban hành
văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng; đề cập đến
những vấn đề về đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, từ đó tìm ra những
phương hướng và biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng văn bản QPPL
7
và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố
Hải Phòng. Để thực hiện mục đích nghiên cứu, tác giả tập trung vào những
nội dung cơ bản sau:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về văn bản QPPL và hoạt động ban hành
văn bản QPPL của chính quyền địa phương;
- Thực trạng văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của
các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng;
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản QPPL và hoạt động ban
hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền tại thành phố Hải Phòng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của
chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các
quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân; những đánh giá về việc xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật được trình bày trong các văn kiện đại hội, các nghị quyết
của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn bản QPPL đã ban hành, các báo cáo,
tổng kết về văn bản QPPL và hoạt động ban hành văn bản QPPL của các cấp
chính quyền tại thành phố Hải Phòng.
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên
cứu đề tài gồm:
- Phương pháp phân tích;
- phương pháp tổng hợp;
- phương pháp hệ thống.
Bên cạnh những phương pháp truyền thống, luận văn còn sử dụng kết
QPPL.
Tập quán pháp là tập quán đã lưu truyền trong xã hội, được nhà nước
thừa nhận và nâng lên thành pháp luật. Tập quán pháp có những hạn chế làm
cho nó không thể trở thành hình thức (nguồn) chủ yếu của pháp luật XHCN.
Cụ thể là: tập quán pháp được hình thành từ các tập quán, mà các tập quán
thường được xác lập một cách tự phát, ít biến đổi và có tính cục bộ cao. Hơn
nữa, tập quán pháp được hình thành không phải từ cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, do đó nó không thể phản ánh tập trung đầy đủ ý chí, lợi ích
của toàn thể nhân dân lao động và cũng không đáp ứng được một trong những
yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa là triệt để tôn trọng giá trị pháp lý của
các văn bản do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.
10
Tiền lệ pháp là các quyết định có trước về từng vụ việc cụ thể của cơ
quan hành chính cấp trên hoặc cơ quan xét xử cấp trên được nhà nước thừa
nhận là khuôn mẫu để các cơ quan tương ứng ngang cấp và cấp dưới giải
quyết những vụ việc tương tự xảy ra sau này. Tiền lệ pháp, xét về nguồn gốc
cũng có những hạn chế làm cho nó không thể được coi là hình thức (nguồn)
chủ yếu của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Điều đó thể hiện ở chỗ, tiền lệ pháp
được hình thành từ hoạt động thực tiễn của cơ quan hành pháp và tư pháp,
chứ không phải do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành. Vì thế dễ
tạo ra sự tùy tiện, phá vỡ tính thống nhất của pháp luật và không phù hợp với
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đối với văn bản QPPL, sở dĩ được coi là hình thức (nguồn) chủ yếu nhất
và quan trọng nhất của pháp luật xã hội chủ nghĩa vì nó có những đặc điểm
mà tập quán pháp và tiền lệ pháp không thể có được. Theo khoản 1, điều 1
Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định:
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành
hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy
định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có
hành đúng hình thức do pháp luật quy định. Tại điều 2 của Luật ban hành văn
QPPL năm 2008 quy định rõ chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm với tên gọi khác nhau. Ví dụ: Bộ trưởng được ban hành văn bản QPPL
dưới hình thức là thông tư; HĐND các cấp được ban hành văn bản QPPL
dưới hình thức là nghị quyết… nếu các chủ thể này ban hành các văn bản
không dưới những tên gọi được quy định ở trên thì dù có chứa đựng các
QPPL cũng không được coi là văn bản QPPL vì không đúng tên gọi do Luật
ban hành văn bản QPPL năm 2008 quy định.
12
Ba là: Có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được
Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội. Từ khái niệm này ta thấy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Các quy tắc xử sự chính là
những khuôn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân
theo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh. Các QPPL
được chứa đựng trong các văn bản QPPL. Trong quan hệ giữa các QPPL và
văn bản QPPL thì các QPPL là nội dung còn văn bản QPPL là hình thức. Từ
đó khẳng định văn bản QPPL luôn luôn chứa đựng các QPPL. Đây là đặc
điểm quan trọng nhất của văn bản QPPL.
Tính bắt buộc chung của các QPPL được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ
thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà QPPL quy định. QPPL được đặt ra
không phải cho những chủ thể cụ thể mà cho các chủ thể không xác định. Đây
là điểm khác biệt với văn bản áp dụng pháp luật, bởi vì nội dung văn bản áp
dụng pháp luật bao giờ cũng chứa đựng quy tắc xử sự riêng đối với cá nhân, tổ
chức cụ thể được xác định. Vì vậy văn bản QPPL được áp dụng nhiều lần trên
thực tế còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ có hiệu lực duy nhất một lần.
Văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp
tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, tổ chức, hành chính, kinh tế. Trong trường
định, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực trong phạm vi địa phương,
được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội địa
phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bên cạnh những đặc điểm của
văn bản QPPL nói chung, văn bản QPPL của chính quyền địa phương còn có
những đặc điểm riêng như sau:
14
1.2.1 Văn bản QPPL của chính quyền địa phương là sự cụ thể hóa
các qui định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
Về phương diện lý luận và thực tiễn, các cơ quan Nhà nước ở trung ương
dù có cố gắng đến mấy cũng không thể ban hành được một hệ thống pháp luật
phù hợp với yêu cầu của mọi địa phương trong toàn quốc. Vì mỗi địa phương
có những đặc điểm riêng không nơi nào giống nơi nào. Chính vì vậy, để phù
hợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các quy định của cơ quan
Nhà nước ở trung ương, các cơ quan Nhà nước địa phương ban hành văn bản
QPPL để cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của địa phương. Hơn
nữa, quan hệ xã hội với tư cách là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, vốn đã
phức tạp lại đang trong quá trình chuyển đổi đầy biến động. Trong điều kiện
như vậy, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật nước ta là cần có nhiều loại
văn bản với giá trị pháp lý khác nhau (được các cấp khác nhau ban hành) thì
mới phúc đáp được yêu cầu của đời sống xã hội hiện nay. Pháp luật, vì vậy,
không những chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội mà yêu cầu đặt ra lúc này là phải
góp phần ổn định các quan hệ xã hội, đưa các hoạt động vào khuôn khổ, trật
tự của nó.
Trước những đòi hỏi từ thực tiễn, nhiệm vụ hướng dẫn, thi hành Hiến
pháp, luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên là một nhiệm vụ tất yếu
của các cấp chính quyền địa phương khi ban hành văn bản QPPL để cụ thể
hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên vào
từng hoàn cảnh, từng điều kiện cụ thể của địa phương.
Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, các cơ quan chính quyền địa phương
ban hành các văn bản trên cơ sở thi hành trực tiếp các quy định của luật và
chỉnh bởi văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước cấp trên, thì các cơ quan
16
chính quyền địa phương căn cứ vào chức năng, quyền hạn của mình theo luật
định chủ động ban hành các văn bản QPPL phù hợp với các văn bản của các
cơ quan Nhà nước cấp trên đề điều chỉnh các quan hệ này.
1.3 Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của chính
quyền địa phương
Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND đã quy định cụ thể
phạm vi ban hành văn bản QPPL của các cấp chính quyền địa phương (điều
2), cũng như việc phân cấp thẩm quyền cho các cấp trong những phạm vi, lĩnh
vực nhất định. Nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của HĐND,
UBND được quy định cụ thể tại chương II Luật ban hành văn bản QPPL của
HĐND và UBND trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp và thống nhất với các quy
định của Luật tổ chức HĐND, UBND năm 2003.
Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND được giới
hạn bởi mức độ thực hiện thẩm quyền, nghĩa là HĐND và UBND chỉ được
ban hành trong giới hạn luật định, không được ban hành văn bản vượt thẩm
quyền. Quy định này nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật ở địa phương,
tránh việc các chủ thể lạm quyền, tùy tiện đưa ra các quyết định gây ảnh
hưởng đến hiệu lực của văn bản QPPL và bảo đảm tính thống nhất của văn
bản QPPL.
Văn bản QPPL của chính quyền địa phương được ban hành dưới hình
thức nghị quyết (đối với các văn bản QPPL của HĐND các cấp), quyết định,
chỉ thị (đối với các văn bản QPPL của UBND các cấp).
Việc quy định rõ hình thức văn bản QPPL còn có ý nghĩa thực tiễn sâu
sắc, đặc biệt là trong quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân. Bằng hình thức
văn bản, đối tượng thi hành có thể nhận biết ngay ai đã ban hành văn bản đó
(ví dụ với hình thức văn bản là nghị quyết người dân có thể nhận biết ngay đó
là văn bản của HĐND). Sự phân biệt này góp phần thể hiện tính công khai,
17
ban hành nghị quyết cơ bản ổn định.
Chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND cấp tỉnh được
xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, yêu cầu quản lý Nhà nước ở
địa phương, bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên,
bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương. Việc lập dự kiến
chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND do Thường trực HĐND chủ trì,
phối hợp với UBND và trình HĐND quyết định tại kỳ họp cuối năm. Trong
trường hợp cần điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND thì
Thường trực HĐND phối hợp với UBND điều chỉnh và báo cáo HĐND tại kỳ
họp gần nhất. [6,tr 6]
Việc dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND trình hoặc do cơ
quan, tổ chức khác trình theo sự phân công của Thường trực HĐND.[6,tr 6]
Việc lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh như sau: Căn
cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn thảo tổ chức
lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp
của nghị quyết. Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả
lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo nghị
quyết. Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy
ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý
kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết. [6, tr7]
Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải được cơ quan tư pháp cùng cấp
thẩm định. Cơ quan tư pháp sau khi nhận được yêu cầu thẩm định phải làm
báo cáo thẩm định và gửi đến cơ quan soạn thảo chậm nhất bảy ngày trước
19
ngày UBND họp. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý
kiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo nghị quyết.
Sau khi có kết quả thẩm định của cơ quan tư pháp, UBND có trách
nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc
cơ quan được quy định trong thời hạn 05 ngày. Trong trường hợp lấy ý kiến
của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định, chỉ thị thì cơ quan lấy
ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ nhận ý
kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng
được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo quyết định, chỉ thị.
Dự thảo quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh phải được cơ quan tư
pháp cùng cấp thẩm định trước khi trình UBND.
Sau khi nhận được báo cáo thẩm định của cơ quan tư pháp, cơ quan soạn
thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định, chỉ thị đến UBND chậm nhất là năm ngày
trước ngày UBND họp.
Dự thảo quyết định, chỉ thị được thông qua khi có quá nửa tổng số thành
viên UBND biểu quyết tán thành. Chủ tịch UBND thay mặt UBND ký ban
hành quyết định, chỉ thị.
Trình tự, thủ tục ban hành quyết định, chỉ thị của UBND cấp huyện và
cấp xã không có bước lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng.
Các bước khác giống với trình tự ban hành quyết định, chỉ thị của UBND cấp
tỉnh nhưng đơn giản hơn.
1.5 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương
Hiệu lực là một vấn đề quan trọng của văn bản QPPL. Là những văn bản
thuộc hệ thống pháp luật, văn bản QPPL của chính quyền địa phương cũng bị
21
chi phối bởi những nguyên tắc chung về cách xác định hiệu lực văn bản
QPPL. Bên cạnh đó, cùng với việc tuân thủ những nguyên tắc chung về hiệu
lực của văn bản QPPL, hiệu lực văn bản QPPL của HĐND và UBND còn
phải căn cứ vào các yếu tố: Tính chất, vị trí, thẩm quyền của HĐND và
UBND, loại và tính chất, đặc điểm, nội dung của văn bản quy phạm do các cơ
quan chính quyền Nhà nước địa phương ban hành.
1.5.1 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo thời gian
Hiệu lực về thời gian là khoảng thời gian văn bản QPPL có giá trị bắt
buộc thi hành được xác định từ thời điểm có hiệu lực đến thời điểm chấm dứt
các vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp (Trong trường hợp phải giải quyết các
vấn đề phát sinh đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch
bệnh, an ninh, trật tự) thì có thể quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.
Văn bản QPPL của địa phương không được qui định hiệu lực trở về
trước.[6, tr13]
Thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL
Là hình thức văn bản có vị trí, vai trò cụ thể hóa, chi tiết hóa nội dung
các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, vì vậy, khi văn bản gốc đóng vai
trò là cơ sở ban hành văn bản hết hiệu lực thì nghị quyết, quyết định, chỉ thị
của các cơ quan chính quyền địa phương cũng hết hiệu lực theo, điều này
không phụ thuộc vào việc thời điểm hết hiệu lực có được nêu trong văn bản
hay không.
Ngoài ra, thời điểm hết hiệu lực của văn bản QPPL của HĐND và
UBND còn được quy định như sau:
Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản, được thay thế
bằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó, bị hủy bỏ
23
hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền,
không còn đối tượng điều chỉnh.[6, tr13]
1.5.2 Hiệu lực văn bản QPPL của chính quyền địa phương theo
không gian
Theo nguyên tắc chung, văn bản QPPL do các cơ quan Nhà nước ở
trung ương ban hành có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc, văn bản QPPL do
cơ quan địa phương cấp nào ban hành sẽ có hiệu lực trên phạm vi địa
phương đó.
Trong trường hợp văn bản QPPL của HĐND, UBND có hiệu lực trong
phạm vi nhất định của địa phương thì phải được xác định ngay trong văn bản đó.
Văn bản QPPL của HĐND, UBND có hiệu lực áp dụng đối với cơ
quan, tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ xã hội được văn bản QPPL
đó điều chỉnh.
theo không gian và theo đối tượng áp dụng, có thể đi đến kết luận rằng:
Những đối tượng nêu trên phải tuân thủ văn bản của hai loại cơ quan: HĐND
và UBND nơi họ đang ở và HĐND và UBND có quyền quản lý trực tiếp,
thường xuyên đối với họ. Hay nói cách khác, văn bản QPPL của HĐND và
UBND có thể có hiệu lực đối với đối tượng thuộc quyền quản lý của mình
đang ở một địa phương khác. Ví dụ: cá nhân, mặc dù không cư trú, song khi
đang ở một địa bàn lãnh thổ nào thì phải chấp hành các quy định về bảo đảm
trật tự an toàn giao thông đường bộ hay những quy định về phí, lệ phí của
HĐND và UBND quản lý địa bàn đó. Trên cơ sở này, quản lý Nhà nước được
bảo đảm một cách toàn diện, triệt để và đồng bộ.
25