Tác động của lạm phát đến tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TCT trên thị trường Hà Nội - Pdf 26

TÓM LƯỢC
1
Trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành điện đã đóng góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. Điện góp phần sản xuất
và đáp ứng nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Điện quan trong thì
dây cáp điện cũng trở thành mặt hàng quan trọng. Để có thể đứng vững trong môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì việc phát triển thị trường tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết, và công ty TNHH Thương Mại và
Dich Vụ TCT kinh doanh sản phẩm dây cáp điện đã nhận thức được điều đó. Mở rộng
thị trường là việc cần thiết để phát triển nhưng vẫn phải chịu nhiều tác động của môi
trường kinh tế vĩ mô. Lạm phát là nhân tố gây ảnh hưởng lớn nhất đến công ty. Đề tài:
“Tác động của lạm phát đến tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH
Thương mại và Dịch vụ TCT trên thị trường Hà Nội” dưới đây tập trung phân tích
những lý thuyết về lạm phát và thực trạng tác động của lạm phát tới mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ
TCT trên thị trường Hà Nội thông qua các phương pháp so sánh, toán thống kê, chỉ
số…. Hy vọng rằng, đề tài hoàn thành có thể giúp doanh nghiệp đánh giá một cách
khách quan khả năng phát triển thị trường, đồng thời cung cấp những cơ sở cần thiết
cho công tác hoạch định chính sách của công ty trong thời gian tới.LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn tận
tình của giáo viên hướng dẫn và được phía Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, em đã
có một quá trình nghiên cứu tìm hiểu và học tập nghiêm túc để hoàn thành đề tài. Kết
quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân mà còn có sự giúp đỡ của Quý thầy cô,
gia đình và bạn bè.
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế - Luật trường ĐH Thương Mại đã quan tâm, tạo
điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến ThS. Hoàng Anh Tuấn - thầy đã hướng dẫn,
giúp đỡ về mặt phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt quá trình thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè - những người đã luôn

của người dân giảm, nhu cầu tiêu dùng giảm kéo theo cầu về hàng hóa dịch vụ trên thị
trường cũng giảm đi
Lạm phát luôn là vấn đề mà cả nhà nước và doanh nghiệp quan tâm, vì lạm phát
có tác động rất lớn đến nhiều mặt của nền kinh tế và đời sống nhân dân.Trong những
năm qua có nhiều biến động phức tạp, những biến động của lạm phát đã ảnh hưởng
đến nền kinh tế nói chung và cũng ảnh hưởng đến hoạt động, lợi ích của các doanh
nghiệp nói riêng.Thực tế cho thấy rằng trong giai đoạn 20 năm vừa qua(1985-2005) tỉ
lệ lạm phát ở nước ta đã biến động rất mạnh qua từng năm.Tỷ lệ lạm phát giữa các
năm chênh lệch khá lớn. Có năm tỷ lệ lạm phát đã ở mức lạm phát phi mã. Song cũng
có năm tỷ lệ lạm phát lại ở mức lạm phát âm.Về mặt lý thuyết, trong lý thuyết tiền tệ
cổ điển và cận đại, cũng như hiện đại lạm phát tiền tệ vẫn được xem như là một căn
bệnh kinh niên của kinh tế hàng hóa mà chưa có một loại “thuốc đặc trị” nào có thể
loại bỏ nó ra khỏi đời sống kinh tế. Lạm phát tiền tệ luôn luôn gắn liền với tình trạng
mất giá của đồng tiền. Khi tình trạng mất giá của đồng tiền xảy ra một cách thường
xuyên và liên tục với mức độ lớn thì mọi hoạt động kinh tế sẽ bị đình trệ, nhiều vấn đề
tiêu cực trong đời sống kinh tế-xã hội sẽ nảy sinh. Lạm phát tiền tệ đã và đang trở
thành “nan y” cho mọi nền kinh tế sản xuất hàng hóa mà người ta chỉ mới biết cách
5
kìm chế và đẩy lùi nó chứ chưa bao giờ triệt phá nó đến tận gốc được.Vì vậy, một nền
kinh tế đang trong tình trạng lạm phát cần phải có ngay các giải pháp để kiểm soát để
kiềm chế và đẩy lùi nó.
Mỗi công ty đều chịu ảnh hưởng của lạm phát, Công ty TNHH Thương mại và
Dịch vụ TCT cũng không thể tránh khỏi,Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TCT
là công ty kinh doanh trên lĩnh vực phân phối dây cáp điện có đầu vào rất nhạy cảm
với lạm phát nên không thể tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát. Vậy cụ
thể công ty phải chịu ảnh hưởng nhu thế nào và công ty cần làm gì để khắc phục
những khó khăn khi chịu ảnh hưởng của lạm phát. Em xin trình bày về đề tài “Tác
động của lạm phát đến tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của Công ty TNHH Thương
mại và Dịch vụ TCT trên thị trường Hà Nội”
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

nhuận.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã bám sát vào mục tiêu nghiên cứu, giải
quyết các vấn đề lý luận liên quan tới phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm và ảnh
hưởng của lạm phát đến tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời các công trình nghiên cứu cũng
phân tích thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện và đưa ra các
giải pháp nhằm phát triển thị trường.
Tuy nhiên, các công trình nêu trên mới chỉ đưa ra các giải pháp một cách chung
nhất, và những giải pháp thị trường mà các công trình nghiên cứu đưa ra mới chỉ mang
tính cục bộ, phù hợp với sản phẩm mà đề tài đó nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống, phân tích những vấn đề lý luận liên quan tới vấn đề nghiên
cứu, luận văn giải quyết vấn đề ảnh hưởng của lạm phát đến tiêu thụ sản phẩm dây cáp
điện theo hướng tiếp cận mới. Nếu như các đề tài trước tập trung giải quyết bài toán
thị trường theo hướng tiếp cận nghiên cứu thực trạng, tìm ra giải pháp thì luận văn tiếp
cận theo hướng kết hợp giữa nghiên cứu thực trạng và đánh giá tác động của lạm phát
tới quá trình tiêu thụ sản phẩm dựa vào các tài liệu mà công ty cung cấp và các tài liệu
tham khảo thu thập được. Từ đó tổng hợp kết quả, rút ra kết luận đánh giá hoạt động
phát triển thị trường của công ty để đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp. Đó là
tính mới của đề tài.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Do đặc thù của nhập và phân phối sản phẩm dây cáp điện chịu ảnh hưởng rất
nhiều của lạm phát. Vì vậy, lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Qua đề tài nghiên cứu, em muốn hiểu rõ hơn tình hình lạm phát ở Việt Nam
trong thời gian gần đây, đồng thời xem xét ảnh hưởng của của lạm phát tới hoạt động
tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của doanh nghiệp trên thị trường Hà Nội.
Việc nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giả quyết các vấn đề sau:
• Tìm hiểu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
• Ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm dây cáp điện của
doanh nghiệp trên thị trường Hà Nội.
7

của doanh nghiệp từ năm 2010 tới nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sau khi xây dựng lý thuyết về phát triển thị trường, đề tài đi sâu vào khảo sát
thực tế vấn đề nghiên cứu bằng cách sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu tài
liệu. Dữ liệu sơ cấp sẽ được thu thập và phân tích từ: các tài liệu, báo cáo của đơn vị
8
thực tập, từ sách báo, tạp chí và từ Internet). Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp
khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh dữ liệu, phương pháp chỉ số.
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích: Nhằmthu thập các số liệu liên quan đến vấn đề phát triển thị trường
sản phẩm dây cáp điện, cũng như thu thập ý kiến các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu
các nguồn từ đơn vị thực tập và từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Cách thức:
- Thu thập tài liệu từ báo cáo kinh doanh của công ty TNHH Thương mại và
Dịch vụ TCT
- Thu thập thông tin từ các nguồn: báo, tạp chí, internet…
- Tham khảo các bài viết, công trình nghiên cứu các năm trước.
Nắm được nội dung cơ bản về vấn đề nghiên cứu, tiến hành tìm kiếm thông tin
liên quan phục vụ cho việc viết bài thông qua mạng internet, tham khảo những thông
tin, tin tức trong các bản tin đó để có những đánh giá riêng cho bản thân về vấn đề
nghiên cứu. Bên cạnh đó còn có thể tham khảo thông tin trong các bài báo hoặc tạp chí
thương mại có liên quan như thời báo kinh tế, tạp chí khoa học hay các sách viết về
sản phẩm dây cáp điện…
Thông tin từ các nguồn này có thể sử dụng để viết phần đánh giá tổng quan tình
hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến phát triển thị trường sản phẩm dây cáp điện
của công ty, nguyên nhân dẫn tới thành công và những hạn chế cần khắc phục.
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh dữ liệu
Sau khi thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu,
cần phải sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu, tổng hợp và so sánh. Dựa trên các
thông tin thu thập được, sử dụng kĩ năng tổng hợp số liệu thành một hệ thống logic rồi

1.1. Một số khái niệm cơ bản về lạm phát
1.1.1. Quan điểm và khái niệm về lạm phát
Lạm phát được để cập đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà
kinh tế. Trong mỗi công trình của mình, các nhà kinh tế đã đưa ra các khái niệm khác
nhau về lạm phát.
Theo C.Mac trong bộ tư bản: Lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưu
thông những tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt. Ông cho rằng, ngoài giá trị
thặng dư, CNTB còn gây ra lạm phát để bóc lột người lao động thêm lần nữa do lạm
phát làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống.
Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị sự tăng lên trong mức
giá chung. Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức giá chung của giá cả và chi phí tăng,
giá bánh mỳ, xăng dầu, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất
tăng” .
Còn Milton Friedman thì quan niệm: “Lạm phát là nhanh và kéo dài”. Ông cho
rằng: “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ”. Ý kiến đó của ông
đã được đa số các nhà kinh tế phái tiền tệ và phái Keynes tán thành.
10
Hiện nay, lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên liên tục trong mức giá chung.
Điều này không nhất thiết có nghĩa là giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời
phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Một nền
kinh tế vẫn có thề trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá của
các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.
1.1.2. Các thước đo lạm phát
Đo lường lạm phát trong một nền kinh tế đòi hỏi phải có phương tiện. Mục tiêu
của việc phân biệt những thay đổi trong giá danh nghĩa trên một tập hợp chung của
hàng hoá và dịch vụ, và phân biệt với những thay đổi giá do những thay đổi trong giá
trị như khối lượng, chất lượng hay hiệu suất. Tuy nhiên, sự thay đổi mức giá đơn lẻ
này sẽ không đại diện cho lạm phát chung trong một nền kinh tế tổng thể. Để đo lường
lạm phát tổng thể, sự thay đổi giá của một "giỏ" lớn hàng hóa và dịch vụ đại diện được
đo. Đây là mục đích của một chỉ số giá, đó là giá kết hợp của một "rổ" nhiều hàng hóa

Hầu hết các chỉ số lạm phát được tính từ trung bình gia quyền của các thay đổi
giá cả được lựa chọn. Điều này nhất thiết phải giới thiệu biến dạng, và có thể dẫn đến
các tranh chấp mang tính hợp pháp về việc tỷ lệ lạm phát thực sự là bao nhiêu. Vấn đề
này có thể được khắc phục bằng cách bao gồm tất cả các thay đổi về giá có sẵn trong
tính toán, và sau đó chọn giá trị trung bình. Trong một số trường hợp khác, các chính
phủ có thể cố ý báo cáo sai tỷ lệ lạm phát, ví dụ, chính phủ Argentina đã bị chỉ trích
bởi các thao túng dữ liệu kinh tế, chẳng hạn như số liệu lạm phát và GDP, cho lợi ích
chính trị và giảm thanh toán của mình trong nợ quốc gia tính theo chỉ số lạm phát.
.Để đo lường lạm phát, người ta dùng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát. Về mặt tính
toán,tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo
từng giai đoạn, nó có thể là tháng, quý hoặc năm.
Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê xây dựng 3 chỉ số giá để đo
lường:
• Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng – CPI( Cosummer Price Index ).
CPI là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hóa trong nhiều năm so với
chính giá của rổ hàng hóa đó ở một năm nào đó. Thống kê gọi đó là năm cơ sở hay
năm gốc. Nghĩa là, rổ hàng hóa được lựa chọn là không thay đổi trong nhiều năm. Chỉ
số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu
dùng.
Ta có công thức tính chỉ số giá như sau:
I
p
= ∑ i
p
x d hoặc I
p
=


qp

• Thứ ba là chỉ số giá sản xuất – PPI( Producer Price Index). Là chỉ số giá bán
buôn, hay chính là chi phí để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.
Như vậy, rổ hàng hóa được lựa chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai
đoạn tính toán. Nhưng về cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hóa trong các thời
điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của dân chúng thường mang tính
ổn định trong ngắn hạn. Chỉ số điều chỉnh GDP là chỉ số có mức bao phủ rộng nhất, nó
bao gồm tất cả các hàng hóa dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế và trọng số
tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của từng loại
hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng.
1.2. Một số lý thuyết liên quan đến lạm phát và tác động của lạm phát đến hoạt
động kinh doanh
1.2.1. Phân loại lạm phát
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ của tỷ lệ lạm
phát. Nếu phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế thường
phân biệt 4 loại lạm phát:
+ Thiểu phát: Là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp. Đây là một vấn nạn trong quản lý
kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam, nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát.
Không có tiêu chí chính xác tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm một năm trở xuống thì
được coi là thiểu phát. Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4
phần trăm một năm trở xuống được gọi là thiểu phát. Tuy nhiên, ở những nước mà cơ
quan quản lý tiền tệ (ngân hàng trung ương) rất không ưa lạm phát như Đức và Nhật
Bản, thì tỷ lệ lạm phát 3-4 phần trăm một năm được cho là hoàn toàn trung bình, chứ
chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát. Ở Việt Nam thời kỳ 2002-2003, tỷ lệ
lạm phát ở mức 3-4 phần trăm một năm, nhưng nhiều nhà kinh tế học Việt Nam cho
rằng đây là thiểu phát).
+ Lạm phát thấp: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới
10 phần trăm một năm.
13
+ Lạm phát cao: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai
hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu

- Chi tiêu của chính phủ tăng lên làm tăng tổng chi tiêu.
- Sự giảm đi giá trị của tỷ giá ngoại hối ở Canada làm tăng lượng xuất khẩu và
giảm nhập khẩu, do đó làm tăng Tổng YD.
Ta có mô hình tổng cầu AD = C + I + G + NX
14
P
00
Ban đầu tổng cầu của nền kinh tế là AD
1
( Hình 2.1) và nền kinh tế cân bằng
trong dài hạn tại E
0
(Y
0
; P
0
) với Y
0
= Y
*
. Khi chi tiêu của hộ gia đình tăng (C↑), chi
tiêu chính phủ tăng(G↑), thuế giảm(T↓) hoặc do xuất khẩu ròng tăng(NX↑) kết quả là
tổng cầu tăng.
Hình 1.1: Lạm phát cầu kéo Hình 1.2: Lạm phát chi phí đẩy
Đường tổng cầu dịch chuyển sang phải từ AD
1
sang AD
2
và điểm cân bằng mới
của nền kinh tế là E

E3
ASS3
Lạm phát chi phí đẩy là loại lạm phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanh
nghiệp buộc lòng phải nâng giá bán khi chi phí đầu vào tăng cao. Sự thu hẹp tổng cầu
có thể xuất phát từ sự khan hiếm về hàng hóa hay thiên tai bất ngờ làm cho quá trình
sản xuất bị gián đoạn. Chi phí đầu vào tăng cao khi giá nguyên liệu đầu vào tăng hoặc
giá lao động tăng.
Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại E
0
( Y
0
= Y
*
) ( Hình 2.2). Khi giá nguyên vật
liệu đầu vào chủ yếu tăng như giá xăng dầu, điện…do thiên tai, dịch bệnh làm tổng
cung giảm. Đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS
S1
sang AS
S2
. Điểm cân bằng
dịch chuyển từ E
0
(Y
0
=Y
*
; P
0
) sang E
1

16
+ Lạm phát đẻ ra lạm phát
1.2.3. Lý thuyết về hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
1.2.3.1. Lý thuyết về hoạt động sản xuất kinh doanh
Sản xuất ( production) hay sản xuất của cải vật chất: là hoạt động chủ yếu
trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử
dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề
chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?,sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất
và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra
sản phẩm? ( bách khoa toàn thư)
Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể
chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các
hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi
phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những
hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra
cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu
tiền ( theo Liên hợp quốc)
Kinh doanh: Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm về kinh
doanh hay hoạt động kinh doanh. Nhưng dưới góc độ pháp lý thì kinh doanh được
hiểu là: " Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lợi" (Theo khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005). Hoạt đông kinh
doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động thương mại, khoản 1 Điều 3
Luật Thương mại 2005 giải thích: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và
các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của
quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịc vụ trên thị trường nhằm
mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất.
Sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu

kho, chuẩn bị đóng bộ, vận chuyển theo yêu cầu khách hàng. Hai là: Các nghiệp vụ
kinh tế, tổ chức và kế hoạch hóa tiêu thụ sản phẩm nghiên cứu thị trường, tổ chức bán
hàng, đào tạo bồi dưỡng và quản trị lực lượng bán hàng.
+ Vai trò của công tác tiêu thụ sản phẩm:
Thị trường sản phẩm là một khâu vô cùng quan trọng đối với bất cứ một doanh
nghiệp sản xuất hay một doanh nghiệp thương mại nào. Có thể nói sự tồn tại của
doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào công tác tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động tiêu thụ
sản phẩm chi phối các khâu nghiệp vụ khác. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
đòi hỏi phải được diễn ra liên tục và nhịp nhàng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh được đánh giá bởi nhiều nhân tố, trong đó có tốc độ quay vòng vốn mà tốc độ
quay vòng của vốn lại phụ thuộc rất lớn vào tốc độ tiêu thụ của sản phẩm do đó nếu
như tiêu thụ sản phẩm tốt thì làm cho số ngày trong một vòng quay của vốn giảm đi.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò thực hiện giá trị sản phẩm khi sản xuất,
doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu tư vào nguyên vật liệu, máy móc trang thiết bị, nhiên
18
liệu . để sản xuất ra sản phẩm. Như vậy là vốn tiền tệ của doanh nghiệp được tồn tại
dưới dạng hàng hóa. Khi sản phẩm được tiêu thụ, doanh nghiệp được thu hồi vốn đầu
tư để tái sản xuất cho chu kỳ sau và có thể mở rộng sản xuất nhờ phần lợi nhuận thu
được từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Thông qua vai trò lưu thông luân chuyển hàng
hóa của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ta thấy được những yếu điểm để khắc phục, nâng
cao, hoàn thiện quá trình sản xuất, tạo hiệu quả cao trong sản xuất. Nếu cải thiện tốt
công tác tiêu thụ sản phẩm, nghĩa là giảm chi phí khâu tiêu thụ đồng nghĩa với góp
phần giảm chi phí của toàn bộ sản phẩm, nhờ đó sẽ tăng được lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Việc tổ chức hợp lý hóa khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mức
tốt nhất các loại bán thuận tiện, dịch vụ bán hàng tốt . Thực hiện tốt các khâu của quá
trình tiêu thụ giúp cho các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được khối lượng sản phẩm lớn
và lôi cuốn thêm khách hàng, không ngừng mở rộng thị trường. Công tác tiêu thụ sản
phẩm trong cơ chế thị trường không đơn thuần là việc đem sản phẩm bán ra thị trường
mà là trước khi sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận thì cần phải có sự nỗ lực cả
về mặt trí tuệ lẫn sức lao động của người cán bộ và công nhân trực tiếp sản xuất ra sản

lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc
làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trả
giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
1.3.2. Đối với phân phối lại thu nhập
Tác động của lạm phát đối với phân phối lại thu nhập phụ thuộc vào kết quả dự
tính tỷ lệ lạm phát, tính linh hoạt của tiền lương, sự chênh lệch về tốc độ tăng giá giữa
các loại hàng hóa dịch vụ. Tuy nhiên khi nền kinh tế có sự biến động lớn thì phân phối
thu nhập lại càng trở nên không cân bằng. Lạm phát cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến
những người có thu nhập không tăng kịp mức tăng của giá cả, đặc biệt là những người
sống bằng thu nhập cố định như là những người hưởng lương hưu hay công chức.
Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị giảm đi.
Việc phân phối lại thu nhập do lạm phát xảy ra theo chiều hướng chuyển bớt
thu nhập từ những người nắm các yếu tố có giá tăng chậm sang những người nắm các
yếu tố có giá tăng nhanh hơn so với tỷ lệ lạm phát. Mức độ phân phối lại còn phụ
thuộc ít nhiều vào: Mức độ chên lệch về tốc độ tăng của các loại hàng hóa, các yếu tố
sản xuất, các loại tài sản. Chênh lệch càng cao thì phân phối lại càng nhiều
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác
nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những ngươi
có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung
đều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công
ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại. Như vậy một số
người nắm giữ các hàng hóa có giá trị tăng đột biến giàu lên nhanh chóng còn những
người nắm giữ các hàng hóa có giá trị không tăng hoặc tăng chậm và những người
nắm giữ tiền bị nghèo đi.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi
suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ
lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi
20
suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ
thấp.

1.3.5. Các tác động khác
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá
hối đoái. Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính
cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Lạm
21
phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng
khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng,nhiều ngân hàng bị
phá sản vì mất khả năng thanh toán, lam phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên
thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, các tính toán
kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư.
Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của
những khoản công phí. Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được
làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. Tuy nhiên,
lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những trường
hợp nhất định. Nếu hệ thống thuế tăng dần (thuế suất lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát cao
hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính
phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật. Trong thời kỳ lạm
phát giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương
danh nghĩa cũng theo xu hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động
nói chung có thể vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy
giảm.
Như vậy lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội và
nhà nước phải áp dụng những biện pháp thích hợp để kiềm chế, kiểm soát lạm phát.
1.4. Ảnh hưởng của lạm phát tới hoạt động kinh doanh của công ty
1.4.1. Ảnh hưởng của lạm phát tới giá đầu ra, đầu vào
Lạm phát tác động đến mọi mặt của kinh tế, Công ty TNHH Thương mại và
Dịch vụ TCT cũng chịu nhiều ảnh hưởng của lạm phát. Tác động đầu tiên của lạm
phát đến hoạt động của công ty là tác động đến giá đầu ra, đầu vào. Đặc thù hoạt động
của công ty là đại lý phân phối của các hãng dây cáp điện lớn trong và ngoài nước,
chính vì thế giá cả là vấn đề sống còn của công ty. Giá đầu ra của công ty chịu ảnh

+ Ảnh hưởng đến doanh thu:
Nền kinh tế lạm phát cao giá hầu hết các loại hàng hóa đều tăng, nhưng cùng
với đó sản phẩm mà doanh nghiệp phân phối cũng tăng giá. Nếu doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh mặt hàng có mức giá tăng nhanh, sản lượng bán ra ít bị ảnh hưởng
của lạm phát có thể làm cho doanh thu của doanh nghiệp tăng.
Tuy nhiên, nếu mặt hàng kinh doanh có mức giá tăng chậm,sản lượng bán ra
chịu ảnh hưởng nhiều của lạm phát thì doanh thu có xu hướng giảm. Như vậy, để đánh
giá được mức độ ảnh hưởng của lạm phát ta cần phải xét đến mức tăng giá sản phẩm
và mức tăng hay giảm sản lượng bán ra.
+ Ảnh hưởng đến lợi nhuận
Lạm phát khiến cho các yếu tố đầu vào tăng cao, chi phí tăng cao ảnh hưởng
đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp qua đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Lạm phát làm cho giá trị thực của các tài sản khấu hao nhiều hơn, phải nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp cao hơn khiến lợi nhuận giản sút.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, trong thời kỳ lạm phát lợi nhuận của
doanh nghiệp vẫn có thể tăng do mức tăng giá bình quân của các yếu tố đầu vào thấp
23
hơn mức tăng giá của sản phẩm đầu ra trong khi sản lượng sản phẩm của doanh nghiệp
bán ra không giảm sút nhiều
+ Ảnh hưởng của lạm phát đến chi phí
Lạm phát ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của doanh nghiệp, lạm phát
tăng cao làm tăng hầu hết các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí sản
xuất, chi phí nhân công, chi phí quản lý, bán hàng, thuê kho bãi, điều đó làm tổng chi
phí sản xuất kinh doanh tăng lên ảnh hưởng đến các hướng đầu tư của doanh nghiệp,
buộc các doanh nghiệp phải có những điều chỉnh nhằm tối đa hóa chi phí để có thể tồn
tại và cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, lạm phát dẫn đến tình trạng tăng giá chung của tòan nền kinh tế.
Điều đó có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của
sự tăng giá chung.Vì vậy, nếu doanh nghiệp có các biện phất tốt để tối thiểu hóa chi
phí như tìm được những nhà cung ứng với giá thấp hơn, phân phối tốt chi phí nhân

+ thị trường xuất khẩu
Trong 10 tháng đầu năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu sang khoảng trên 20
nước trên thế giới; trong đó, Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu về kim ngạch với 157,19 triệu
USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước; tính riêng tháng 10/2013 xuất sang thị
trường này tăng trưởng tới 14,5% so với tháng 9, trị giá đạt 17,35 triệu USD. Trung
Quốc đứng vị trí thứ 2 về kim ngạch trong tháng 10, với 15,56 triệu USD tăng 5,2% so
với tháng 9/2013; tính gộp cả 10 tháng đầu năm 2013 xuất sang thị trường này tăng tới
34,3% so với cùng kỳ năm trước với trị giá đạt trên 81,78 triệu USD. Xếp thứ 3 về kim
ngạch là thị trường Singapore, tổng cộng cả 10 tháng đạt 38,05 triệu USD, tăng 19,6%
so với cùng kỳ năm ngoái; tính riêng tháng 10/2013 xuất sang thị trường này đạt mức
tăng cao nhất 137,7% so với tháng 9/2013 với trị giá 5,07 triệu USD.Nhìn chung xuất
khẩu nhóm hàng này sang hầu hết các thị trường 10 tháng đầu năm đều đạt mức tăng
trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường có mức tăng trưởng
cao nhất trong 10 tháng đầu năm 2013 là Lào tăng 150,0% so với cùng kỳ, đạt 18,15
triệu USD. Ngoài ra, một số thị trường khác đạt mức tăng trưởng về kim ngạch so với
cùng kỳ như: Campuchia tăng 104%, đạt 27,92 triệu USD; Indonesia tăng 82,5%, đạt
17,98 triệu USD; Hàn Quốc tăng 54,8%, đạt 27,27 triệu USD… Ngược lại, xuất khẩu
sụt giảm mạnh ở các thị trường như: Canada (-99,8%), Anh (-49,6%), Hoa Kỳ (-
47,4%).
2.1.2. Khái quát chung về Công ty TNHH TM & DV TCT
+ Công ty TNHH Thương Mại và Dịch Vụ TCT được thành lập dưới hình thức
Công ty trách nhiệm hữu hạn do các thành viên sáng lập nên.
Giấy phép kinh doanh số 0102032419 do sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà
Nội cấp ngày 09/10/2007 và đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 09/04/2008
25

Trích đoạn Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 1 Thành công và bài học kinh nghiệm Quan điểm về lạm phát và định hướng kiềm chế lạm phát Quan điểm và định hướng gia tăng khả năng tiêu thụ sảnphẩm dây cáp điện Các đề xuất mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm dây cáp điện 1 Chính sách sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status